|
Đề tài tôi nói
hôm nay là Ai thực tế hơn ai? Trước khi vào đề tài tôi xin hỏi câu này,
nếu người thấy tờ giấy trắng mà nói đen và ngược lại, tờ giấy đen mà nói
trắng thì chúng ta đánh giá người đó thế nào? Đúng theo danh từ nhà Phật
gọi là điên đảo, tức cái thấy lộn ngược, không đúng lẽ thật.
Phật thường
nói tất cả chúng sanh đều sống với vô minh điên đảo. Người không nhận ra
lẽ thật, sống trong mờ mịt tăm tối, không thấm nhuần chân lý, gọi là người
vô minh. Trở lại thực tế, ngay nơi bản thân chúng ta hiện giờ, là thật hay
giả? Nói theo kinh sách thì nó giả, còn theo tình cảm của mình thì nó
thật. Như vậy Phật nói sai hay chúng ta thấy sai? Chắc không ai dám nói
Phật nói sai hết, thế thì chúng ta thấy sai. Phật thấy thân giả, chúng ta
cho là thật, cũng như tờ giấy trắng ta nói đen. Rõ ràng cái thấy, cái biết
của mình không đúng như thật.
Chúng ta cùng
nhau tuần tự nghiệm xét lại vấn đề này. Nếu thân này thật thì ông cha
chúng ta không chết, phải không? Thật thì còn hoài còn mãi, nhưng ta thấy
ông chết rồi cha chết, anh em chết, mình chết, như vậy đâu có thật. Người
này đi, người kia đi, ai cũng có mặt một thời gian rồi đi. Đó là đứng về
lý vô thường thân không thật vì nó có sanh, có già, có bệnh, có chết. Nó
là một dòng chuyển biến không dừng nên không thể thật được. Như mấy đứa
trẻ con đốt một cây nhang, nó cầm quay nhanh nên ta thấy có một vòng tròn.
Vòng tròn đó thật không? Nếu nói vòng tròn thật là ta nói sai, vì nó chỉ
là một cây nhang quay nhanh thôi.
Trong con
người chúng ta tế bào này sanh, tế bào kia diệt liên tục, do dòng chuyển
biến không dừng ấy tạm kết thành thân. Từ trẻ đến già rồi chết, ta sống
bằng sự chuyển biến không dừng, vậy mà ta chấp nó thật mới lạ chứ. Vì vậy
chấp thân thật là vô minh. Từ vô minh lại sanh thêm các thứ ngã chấp pháp
chấp khác nữa, cứ thế ta sống trong nhiều lớp mê mờ, khó thoát ra được. Do
đó đau khổ phát sanh, và nỗi khổ lớn nhất là trầm luân mãi trong sanh tử.
Bước sang lĩnh
vực thứ hai là duyên hợp. Phật dạy toàn bộ thân này do tứ đại hợp thành.
Đất là chất cứng như tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương… Nước là
mồ hôi, máu mủ v.v… Gió là hơi thở ra vào làm thân chuyển động. Lửa là hơi
ấm trong người. Bốn chất đó luôn có nơi thân, không thể thiếu thứ nào cả.
Bốn chất đó tồn tại được trong thân ta là nhờ mượn tứ đại bên ngoài đem
vào. Vì vậy sự sống của chúng ta lúc nào cũng nương nhờ vay mượn. Nước
thiếu mượn tách nước đem vô. Đất thiếu mượn ít chén cơm. Hơi ấm thiếu kiếm
gừng, kiếm ớt ăn vào. Còn gió tức không khí thì ta mượn trả liên tục. Nếu
trả mà không mượn lại là tử vong liền. Một sự sống vay mượn như vậy mà nói
là của mình, là thật thì không điên đảo sao được?
Tóm lại, đứng
về mặt thời gian thân này chuyển biến không dừng nên không thật. Đứng về
mặt không gian thân này do vay mượn đất, nước, gió, lửa liên tục mà tồn
tại nên cũng không thật. Như vậy khi quán sát kỹ ai cũng biết thân không
thật, nhưng trên tình cảm, trên ảo tưởng của mình không ai dám nói nó giả
cả. Chúng ta phạm một sai lầm lớn như thế nên làm gì cũng thất bại, cũng
đau khổ.
Trong tất cả
chúng ta có mấy người được giác ngộ? Kể cả hàng tu sĩ cũng thấy nó thật
nữa huống chi người còn tóc. Mới thấy cội gốc vô minh của chúng sanh quá
sâu đậm, gỡ bỏ thật là khó. Chúng ta chỉ thấy bằng ảo tưởng, chớ không
phải từ trí tuệ nên mới có sự sai lầm ấy. Đó là điều hết sức quan trọng.
Khi thấy thân
thật thì mọi nhu cầu của thân như tài, sắc, danh, thực, thùy hay sắc,
thanh, hương, vị, xúc đều trở nên quan trọng, cần thiết, do đó người ta
tìm kiếm, đòi hỏi. Ăn thì phải ngon, mặc phải đẹp, rất nhiều thứ ham muốn,
cho nên tham phát sanh. Tham được thụ hưởng, lúc nào cũng muốn hơn người,
thua là không được. Nếu ai ngăn trở cái mình muốn thì nổi tức lên, cự hoặc
đánh người ta, đó là sân. Như vậy tham sân có là từ si. Thân không thật mà
thấy thật đó là si, si là gốc vô minh.
Như vậy từ si
có tham sân, mà tham sân có rồi thì đau khổ theo sau. Nếu không có si thì
không có tham. Như thấy thân giả một cách rõ ràng dứt khoát thì hết tham
liền. Vì thấy thật nên mới tham thụ hưởng. Nói tham, sân, si là không đúng
lắm, lẽ ra phải nói si, tham, sân. Sân nổi ra ngoài thấy như dữ tợn lắm
nhưng lại dễ dẹp. ở cõi trời không có sân vì muốn gì được nấy. Còn ở đây
muốn mà bị giành mất hoặc bị ngăn thành ra mới sân. Cho nên đối với thế
gian sân quan trọng mà lên cõi trời thì hết quan trọng. Bởi vậy những
người khá giả là có phước, muốn gì được nấy nên họ ít sân. Còn người nghèo
ít phước, làm ăn trục trặc, nay được mai mất nên dễ sân, dễ bực tức. Hiểu
thế mới biết gốc ngọn tất cả sự việc xảy ra từ mê lầm là đầu.
Thân chúng ta
có hai phần, vật chất tức thể xác, tinh thần tức tâm linh. Có thể xác thì
phải có tinh thần, có vật chất thì phải có tâm linh. Thể xác này chúng ta
phân tích thấy không thật rồi, bây giờ đến tâm linh. Tâm mình là gì? Có ai
không nói tôi suy nghĩ thế này, suy nghĩ thế kia, đó là tâm tôi. Mọi người
đều cho những suy nghĩ, hiểu biết, phân biệt là tâm mình. Bây giờ ta thử
quán sát xem điều này đúng không. Đây là một vấn đề tế nhị, sâu kín nên
cần phải xem xét kỹ lưỡng mới được.
Như khi ai
chọc giận ta la lên thì nói “tôi giận”. Thế thì cái giận là tôi rồi, tâm
tôi giận. Ai làm gì tốt, mình thấy thích thì nói “tôi thích”, đó là tham.
Ai chọc mình buồn thì nói “tôi buồn”, thấy người dễ thương, nói “tôi
thương”, thấy người dễ ghét nói “tôi ghét”. Tóm lại tham cũng là tôi, sân
cũng là tôi, buồn, thương, giận, ghét, tất cả đều là tôi, tâm tôi. Những
thứ buồn, thương, giận, ghét, phải, quấy v.v… tất cả là tâm mình phải
không? Đó là điều lâu nay Phật tử chưa giải quyết nổi, vì nghĩ nó là tâm
mình.
Bây giờ tôi
đặt câu hỏi, từ khi chúng ta còn bé cho tới lúc già tắt thở, mình là một
hay nhiều? A từ trẻ đến già A là A hay A là B, là C… Hồi trẻ kêu anh A,
già kêu bác A chớ đâu có kêu bác B, ông C, như vậy mình là một. Còn buồn,
thương, giận, ghét cả trăm thứ thì cái gì là mình? Chẳng lẽ mình là một
trăm thứ, ngàn thứ lộn xộn? Đó là một vấn đề chúng ta phải suy gẫm, nhận
định cho chín chắn.
Thí dụ, có
Phật tử đang buồn ngồi thở ra thở vô, ngó trời ngó mây dàu dàu, bất chợt
ai chạy lại nói vé số anh mua hôm qua trúng rồi, lúc đó còn buồn không?
Cười nhảy tưng lên. Nếu buồn là mình thì phải buồn hoài, đằng này đang
buồn vừa nghe tin vui liền hết buồn. Nhưng nếu đang vui mà dò lại thấy
trật hết một con số, lúc đó làm sao, buồn lại ngay. Đổi thay vùn vụt như
vậy thì cái nào là thật mình?
Giận, ghét
cũng vậy. Có những người mình ghét cay ghét đắng, nhưng hôm nào ta làm ăn
thất bại, thiếu nợ thiếu nần, người đó mang số bạc lớn đến cho mượn để trả
nợ, lúc đó mình còn ghét nữa không? Không ngay. Như vậy ghét thương không
thật, tùy duyên mà có. Gặp duyên trái ý thì tức giận hay thất bại thì buồn
phiền, không có gì nhất định hết. Không nhất định, đổi thay như chong
chóng mà nói là tâm mình thì tâm mình đổi thay không thật rồi.
Lúc nào ta
cũng cho tôi nói phải, nghĩ phải, ai cãi lại không chịu. Càng đi sâu vào
tâm lý mới thấy đức Phật thật sáng suốt vô cùng. Phật dạy khi nghĩ, thì
nói đây là cái nghĩ của tôi, đừng thêm cái nghĩ của tôi “là đúng”. Trong
nhân gian có gì là chân lý bất di bất dịch đâu, cái phải chỉ tương đối
thôi, phải chỗ này mà không phải chỗ kia. Thí dụ luật pháp của nhà nước
phong kiến thời xưa thì phụ nữ không được ra khỏi nhà, phải tam tòng tứ
đức, nhưng luật pháp ngày nay phụ nữ bình quyền với nam giới. Nếu ta cho
rằng hồi xưa đúng nghĩa là bây giờ không đúng. Nhưng nếu mọi người đều
chấp nhận như thế thì ta nói sao đây. Nên biết không có pháp nào cố định,
không có pháp nào đúng trong mọi lúc mọi chỗ cả.
Như vậy mà
chúng ta cứ đặt thế này là phải, thế kia là quấy thì sáng suốt hay cố
chấp? Đó là cố chấp. Vì thế mới xảy ra tranh cãi nhau có khi đập lộn nhau
nữa, cũng vì cái phải của mình. Muốn tìm lẽ phải rất khó, bởi vì ai cũng
bảo vệ lẽ phải thuộc về mình, khi so sánh đối chiếu khác nhau nên cự nhau.
Đừng nói xa, hai vợ chồng thôi, nếu ai cũng giữ phần phải về mình thì cãi
vả nhau là chuyện thường, hơn nữa thì đánh nhau, tệ hại nữa là ly dị luôn.
Nhìn kỹ con
người ở thế gian này có trăm ngàn thứ lăng xăng, lộn xộn mà không có gì
đúng với sự thật. Thế nhưng có ai cho là mình sai đâu. Ngay cả tên trộm
cũng có cái đúng của nó. Những cái đúng, một người với một người thì cãi
vả, một tập thể với một tập thể thì chống đối, nước này với nước kia thì
chiến tranh v.v... Tất cả đều từ tâm chấp của mình mà gây ra bao nhiêu đau
khổ. Nếu biết rõ suy nghĩ không thật, đây là cái nghĩ của anh, đây là cái
nghĩ của tôi không ai đúng ai sai cả. Như vậy không ai đụng chạm ai vì đâu
có chấp đúng mà đụng chạm. Chỉ khi nào chấp ta “đúng”, người nghĩ khác là
“sai” mới sanh chuyện.
Ở thế gian từ
chấp thân, giành giựt vật chất thụ hưởng nên sanh ra tranh đấu. Đến chấp
tâm phải quấy hơn thua lại sanh ra tranh đấu nữa, làm con người khổ đau
không cùng không tận cũng bởi hai thứ chấp đó. Chính vì vậy mà Phật dạy
chấp thân không thật, chấp tâm cũng không thật, còn một cái thật chúng ta
lại bỏ quên. Bây giờ phải trở lại, tìm kiếm cho ra cái thật đó, không thì
chúng sanh sẽ đau khổ không biết kiếp nào mới hết.
Bởi chấp thân
nên giành giựt tài sản, giành giựt tất cả những nhu cầu để thân được thụ
hưởng sung sướng, cho nên con người mới tranh đấu với nhau. Bởi chấp tâm
hơn thua, phải quấy nên cũng tranh đấu với nhau. Bây giờ thấy thân không
thật, thấy tâm lăng xăng cũng không thật. Nếu chúng ta chịu khó nhìn lại
tâm đang suy nghĩ phân biệt đó ra sao, nhìn lại thì nó mất tiêu, tìm không
thấy mới biết nó rõ ràng không thật. Như khi ta nổi giận, mình xoay lại
tìm xem cái giận đó ở đâu. Chừng nào tìm ra chỗ nơi của nó hãy giận thêm,
tìm không ra bỏ đi cho khỏe. Như vậy tu dễ chớ đâu có khó.
Thật ra tu đơn
giản lắm, không có bùa chú gì hết, chỉ cần nhìn lại những thứ lăng xăng
lộn xộn xem nó ở đâu, tìm không ra thì nó mất. Tự nó mất tức biết nó không
thật. Chúng ta tu theo Phật đã lâu mà không dám khẳng định thân này là
giả, tâm suy nghĩ giả, sợ thiệt thòi, sợ mất mình. Đó là chưa cương quyết.
Làm sao một phen giác thì giác luôn đừng mê trở lại, biết giả thì giả
luôn, đừng ngầm chấp thật. Chúng ta nghe kinh Phật nói biết thân tâm giả
mà không dám nhận giả, bởi vậy lúc giác, lúc mê, ở nhà thì mê, vào chùa
thì giác nên tu hoài mà không hết khổ, rốt cuộc cũng tạo nghiệp luân hồi.
Mỗi đêm chúng
ta tụng kinh Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, là sắc uẩn thuộc về
thân, thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm. Thấy hai thứ đó không thật liền
qua hết tất cả khổ nạn. Khi phân tích kỹ biết thân tâm không thật, đó là
chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Tánh là không, duyên hợp tạm có không thật?
Đó là câu hỏi rất thâm trầm phải can đảm lắm mới nhìn được điều này. Thân
không thật, tâm suy nghĩ cũng không thật thì cái gì là mình đây?
Nhà Phật nói
bên cạnh cái giả dối tạm bợ đó, còn một cái chân thật mà lâu nay chúng ta
quên. Vì vậy hình ảnh anh chàng nhà nghèo được bạn đãi tiệc rượu, rồi nhét
vô túi một hòn ngọc quý để anh dùng cho bớt khổ. Không ngờ có hòn ngọc
trong túi mà anh quên đi, không biết nên kiếm sống bằng cách ăn mày. Như
vậy anh khổ là vì quên, tới chừng được người bạn chỉ hòn ngọc trong túi.
Sực nhớ, giật mình sờ tay vào túi gặp hòn ngọc, anh liền thành phú gia,
hết kiếp ăn mày, đâu có lâu gì.
Phật đã khéo
léo dùng ví dụ này trong kinh Pháp Hoa để chỉ cho chúng ta có cái chân
thật, không một tí đau khổ nào hết mà lại quên. Chúng sanh cứ lao theo cái
giả tạo nghiệp với nhau, để rồi luân hồi muôn kiếp, chịu không biết bao
nhiêu là đau khổ. Chư Phật đã nói, các Tổ cũng nói mọi người đều có tánh
giác chân thật mà không hay biết, cứ lăn lộn trầm luân trong vọng tưởng
đảo điên. Thế thì cái thật đó ở đâu, nó ra sao?
Tôi xin nêu một
ví dụ đơn giản, như khi nhìn bình hoa, lúc đầu con mắt tôi chỉ thấy rõ
bình hoa thôi. Nhưng bước thứ hai tôi lại phân biệt bình hoa này đẹp hay
xấu. Đẹp thì ưa, xấu thì chê, đó là bước thứ ba. Nếu ngay nơi niệm thứ
nhất thấy bình hoa là bình hoa, lúc đó không có nghiệp gì hết. Nhưng khi
bắt đầu khởi niệm phân biệt đẹp xấu liền sanh ra thương ghét. Từ cái
thương ghét đó mà tạo nghiệp lành hoặc dữ. Như vậy cái gì dẫn chúng ta đi
trong sanh tử? Là nghiệp vậy.
Nghiệp không có
nơi cái thấy ban đầu mà có từ chặng thứ hai, thứ ba. Khi nhìn bình hoa chỉ
thấy bình hoa, không khởi niệm gì cả thì vẫn biết bình hoa rõ ràng mà
không dấy động, qua cái thấy thứ hai, thứ ba mới sanh chuyện. Thấy người
cũng vậy, nếu chỉ thấy người biết người vậy thôi thì đâu có sanh chuyện.
Nhưng ta thường không dừng lại ở cái thấy ban đầu, mà nhảy qua chặng thứ
hai thấy người đó trắng, đen, có duyên, vô duyên rồi sanh thương ghét
v.v... Cho nên cái dẫn mình đi trong luân hồi là chặng thứ ba.
Nghe cũng thế,
người ta nói tiếng gì mình nghe rõ tiếng ấy, nói lời hay lời dở đều nghe
hết thì không sao, nhưng phân biệt đó là khen, là chê, là người thân kẻ
thù thì sanh chuyện ngay. Thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, ngửi chỉ ngửi, nếm
chỉ nếm, không thêm phân biệt khen chê thì tất cả mọi việc đều yên ổn. Cái
thấy, cái nghe không khởi phân biệt khen chê ấy có thể diễn tả hình dáng
gì chăng? Còn khi ta ôn lại hoa này đẹp hoa kia xấu là do đối chiếu so
sánh hình bóng của chúng nên mới khởi phân biệt khen chê. Nghĩa là đem
bóng này so sánh với bóng kia, chỗ thấy bằng bóng niệm khởi, sinh diệt.
Thế mà chúng ta thường sống với cái thấy sanh diệt ấy, còn cái thấy thứ
nhất thì bỏ quên. Chặng đầu là chặng chân thật không tạo nghiệp, không
nguy hiểm, chúng ta lại bỏ để chạy theo chặng thứ hai, thứ ba là sanh
diêt, vì vậy mà có khổ đau.
Vậy chặng thứ
nhất là gì? Cũng tâm, tâm đó biết mà không so sánh nên là tâm thật, còn
tâm thứ hai thứ ba là tâm giả dối tạm bợ. Chúng ta không bao giờ dừng ở
tâm chân thật, mà thường chạy theo tâm thứ hai, thứ ba. Thiền sư thấy bình
hoa là bình hoa, không thêm cái gì hết cho nên thấy như mù, nghe như điếc.
Nhưng tuyệt nhiên không phải điếc không phải mù, mà các Ngài thấy nghe rất
sáng rất rõ vì thấy nghe ngay chặng thứ nhất, chứ không phải chặng thứ
hai, thứ ba.
Chúng ta ai
cũng có cái thấy ở chặng thứ nhất cả, nhưng không chịu sống ngay nơi đó mà
thích nhảy sang các chặng sau. Thấy nhạy lắm nên nghĩ đẹp, nghĩ xấu, nghĩ
hay, nghĩ dở cũng nhạy rồi từ đó có khen chê. Đó là điều hết sức thực tế
mà người tu không biết, người đời cũng không biết. Thấy như mù, nghe như
điếc, tưởng như không thấy không nghe. Đâu phải thế. Thấy rõ biết rõ nhưng
không dấy khởi niệm nào nên tâm thanh tịnh. Vừa dấy khởi liền theo cảm
tính thương ghét của mình nên mới có chuyện vui buồn.
Phật tử tu
thiền, khi tọa thiền thấy niệm vừa dấy khởi liền nói vọng “buông”. Niệm
khởi là cái bị mình biết, nên nó không phải chủ, vì vậy ta mới buông.
Buông hết, tâm được lặng lẽ, lúc đó ai biết lặng? Ví dụ tôi đang ngồi
trong thất, có người khách đến chào hỏi nói chuyện, một lát người khách ấy
ra về. Sau đó hai, ba người khách tới rồi cũng ra về. Người ngồi yên thấy
khách ra khỏi thất, người đó là ai? Rõ ràng là ông chủ chứ ai. Như vậy tâm
mình biết được niệm khởi, niệm lặng, tức ông chủ chân thật vẫn bất động
yên tịnh, có mặt thường xuyên để thấy các niệm sanh diệt biến đổi. Vậy mà
ta lại quên mất ông chủ, chạy theo các thứ động tịnh sanh diệt của tâm.
Đó là lý do tại
sao chúng ta phải ngồi thiền, vì mình quá điên đảo, chạy ngược chạy xuôi
không lúc nào dừng, cho nên ngồi lại để thấy rõ hình tướng của nó, chừng
nào buông hết các thứ vọng niệm, lúc nó lặng chúng ta mới nhận ra mình
chính là cái “biết” được có niệm hay không có niệm. Khi nó lặng mình biết
là ông chủ hiện tiền.
Trong nhà Phật
nói cỡi trâu tìm trâu, để chỉ cho chúng sanh điên đảo, muốn kiếm cái hiện
tiền của mình mà lại quay lưng với chính nó thì biết bao giờ mới gặp được.
Không đợi phải ngồi thiền mà bất cứ lúc nào, ngồi dưới cội cây chơi hóng
mát, đầu óc rỗng rang, không nghĩ gì hết. Gió thổi nghe mát, chim kêu nghe
tiếng, lúc đó có mình hay không có mình? Mình đang hiện tiền mới nghe,
mới thấy rõ ràng được chứ. Cái nghe cái thấy ban đầu tất cả chúng ta đều
có mà đều quên, không sống lại với nó lại sống với những suy tính điên đảo
nên sanh cuồng loạn khổ đau.
Chúng ta tu để
làm gì? Để chừa các lầm mê chấp thân này thật, chấp tâm sinh diệt là tâm
của mình, rồi giành giật hơn thua phải quấy, làm khổ cho nhau. Khi nào
biết hai thứ đó không thật rồi chúng ta mới nhận chân được cái chân thật
bất sanh bất diệt của mình. Nó hiển hiện từ mắt, từ tai... sáu căn của
chúng ta. Vì tâm này không sinh diệt nên không tạo nghiệp, không tạo
nghiệp nên không luân hồi, không luân hồi thì giải thoát sinh tử rồi.
Chúng ta xét kỹ
thân này dù được nuôi dưỡng cưng chiều mọi sự sung sướng, nhưng có giữ
được không?
TV. Chân Không - 2001 |