|
Chùa Tam Bảo Hà Tiên - 1999.
Đề
tài tôi nói hôm nay là chữ Không trong bài kinh Bát Nhã. Tất cả Tăng Ni
cũng như Phật tử đến chùa thường đọc tụng thuộc lòng bài kinh Bát Nhã. Học
kinh Bát Nhã mà không hiểu chữ Không của kinh Bát Nhã sẽ dẫn đến hiểu lầm,
có thể đâm ra hoang mang. Tại sao vậy? Bởi vì trong chùa thường nói câu
"chẳng thà chấp có bằng núi Tu Di, chớ nên chấp không bằng hạt cải."
Người tu chấp có, không thể tột được lý đạo. Nhưng dù chấp có nhiều như
núi Tu Di vẫn không tai hại như chấp không bằng hạt cải. Đó là tai họa
lớn. Vì vậy người xưa hay nhắc nhở chúng ta đừng nên chấp không, thế mà
trong Bát Nhã nói cái gì cũng không hết. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, không sắc, thinh, hương, vị, xúc v.v... Trong kinh nói không mà các vị
tiền bối bảo đừng chấp không. Vậy hai chữ không đó khác nhau chỗ nào? Đây
là điều tôi muốn giảng trạch cho tất cả Tăng Ni, Phật tử nắm cho vững, để
đường tu chúng ta không bị trở ngại lại còn có thể tiến nhanh hơn.
Muốn biết chữ Không trong kinh Bát Nhã hay cả hệ thống Bát Nhã, trước hết
chúng ta phải nắm thật vững giáo lý nhân duyên. Người không nắm vững giáo
lý nhân duyên thì không bao giờ hiểu được chữ Không trong kinh Bát Nhã.
Chữ Không của Bát Nhã đứng vững là dựa trên lý nhân duyên, nếu lý nhân
duyên là chân lý thì chữ Không cũng sẽ là chân lý.
Trước hết chúng ta thử xem xét các pháp trên thế gian này có pháp nào
không phải nhân duyên sanh hay không? Như chúng ta nhìn thấy ngôi chùa,
vậy ngôi chùa từ đâu mà thành? Ai cũng biết đều do nhân công, thợ, thầy,
gạch, cát, đá, xi măng v.v... hợp lại thành ngôi chùa. Chớ không bao giờ
bỗng dưng nó tự thành, phải đủ nhân, đủ duyên hội hợp mới có. Nhân duyên
thì không phải một thứ mà rất nhiều thứ tụ hợp lại thành sự vật. Cũng vậy,
tất cả muôn sự muôn vật trên thế gian này có cái nào vượt ngoài vòng nhân
duyên đâu.
Gần đây các nhà khoa học khi tìm hiểu đạo Phật, thấy rõ chủ trương các
pháp do nhân duyên sinh của đạo Phật rất phù hợp với khoa học. Bởi vì khoa
học là môn học phân tích sự vật, mà phân tích sự vật thì không vật nào tự
nó có, tất cả đều do sự kết hợp nhiều thành phần mà có. Như vậy vật nào
cũng không đơn độc một nhân một duyên có thể thành. Mà chúng rất phức tạp,
do nhiều nhân nhiều duyên tụ lại. Chúng ta mới thấy cái nhìn của đức Phật
hơn hai ngàn năm về trước rõ ràng, tường tận như thế nào.
Sự
vật không tự có, không phải ngẫu nhiên có, cũng không do ai làm ra, chỉ
khi nhân duyên tụ hội thì sự vật hiện có, thiếu duyên thì sự vật ly tán.
Giáo lý Phật chỉ rõ cho chúng ta không còn mê lầm, nghĩ rằng sự vật do
người nào hoặc ngẫu nhiên nó có. Từ cái nhà chúng ta nhìn tới cái bàn, cái
ghế, vật nào không phải từ nhân duyên sinh? Cây cối trước mắt chúng ta
cũng là nhân duyên sinh, rồi đến con người có phải từ nhân duyên sinh
không? Nếu nói đơn giản là do tinh cha huyết mẹ kết tụ lại thành thân con
người. Ngày nay với con mắt y học, người ta phân tích có bao nhiêu tỷ tế
bào, phân ra từng loại rồi phối hợp lẫn nhau. Nhờ chúng phối hợp sinh
hoạt, phát triển thì thân chúng ta còn sống, nếu chúng hư hoại thì thân
này tan nát. Như vậy tất cả sự vật trên thế gian không có cái nào thoát
ngoài lý nhân duyên.
Như xét cái đồng hồ, vật gì là chủ thể của nó? Chúng ta không thể nói cây
kim là chủ thể, số là chủ thể. Bộ phận nào là chủ thể cũng không được, mà
do đủ các bộ phận ráp lại thành cái đồng hồ. Như vậy duyên hợp thì nó có,
nếu các bộ phận phân tán ra thì đồng hồ cũng không. Trước mắt chúng ta
thấy có đồng hồ, nhưng thực thể cái đồng hồ có hay không? Chỉ là duyên hợp
tạm có chớ không thật, vì nó không có chủ thể. Bởi không có chủ thể nên đủ
duyên nó còn, thiếu duyên nó mất, không có gì cố định hết. Như vậy làm sao
nói đồng hồ là thật được. Đã không thật thì cái gì là chủ thể của nó,
chẳng qua duyên hợp tạm có, duyên hết hoàn không.
Trong kinh A Hàm đức Phật có dạy, người nào thấy được lý nhân duyên thì
người đó thấy được pháp. Thấy được pháp tức là thấy đạo hay thấy Phật. Qua
đó chúng ta thấy tầm quan trọng của lý nhân duyên như thế nào rồi. Cũng
như vậy, con người do nhân duyên sinh nên không chủ thể, không cố định.
Muôn vật trên thế gian này do nhân duyên sinh cũng không chủ thể, không cố
định. Tuy không cố định, không chủ thể nhưng đồng hồ vẫn có, đủ duyên thì
nó hiện tiền. Hiểu lý này rồi chúng ta mới bước qua bước thứ hai là chữ
Không trong kinh Bát Nhã.
Chúng ta đừng lầm chữ Không trong kinh Bát Nhã là trống rỗng, không có gì
hết. Không là đối với có. Nhưng chữ Không đây là ngay nơi sự vật hiện tiền
mắt thấy, tay sờ mó được song chủ thể nó là không, không cố định. Như vậy
dù mắt thấy, tay sờ mó được mà nói là Không, đó là không chủ thể, không cố
định. Bát Nhã nói Không vì nó do nhân duyên sinh nên không chủ thể. Cho
nên chữ Không trong kinh Bát Nhã còn gọi là tánh Không. Hệ thống Bát Nhã
gọi đó là tự tánh Không. Tức là không có chủ thể, không tự tánh nhưng sự
vật vẫn có giả tướng của nó khi đủ duyên tụ hội.
Con người chúng ta cũng do nhân duyên sinh, không có chủ thể, cố định. Vậy
gọi ta được không? Chỉ là cái ta tạm bợ, còn mất theo duyên, không có giá
trị thật. Thế mà lâu nay chúng ta cứ lầm nhận ta là thật, sự vật là thật.
Nhà Phật gọi lầm nhận đó là vô minh, là si mê. Người học Phật phải có trí
tuệ sáng suốt, thấy đúng như thật. Những gì Phật dạy chúng ta quán sát,
thấu suốt mới đem ra hướng dẫn chỉ dạy cho người khác, chớ không phải học
hiểu suông mà thấy được lẽ thật.
Chúng ta thử nghiệm lại thân mình có phải là tạm bợ hay không ? Nếu thân
chắc chắn chân thật thì không bao giờ hoại. Vì do duyên hợp nên thiếu
duyên thì nó sanh ra bệnh tật rồi đi đến bại hoại. Đó là lẽ thật, không
còn gì nghi ngờ nữa. Vì vậy chữ Không của Bát Nhã là không có thực thể,
chớ không phải không ngơ giữa có và không. Người ta cứ ngỡ cái bàn trước
mắt là có, hư không trống rỗng là không. Đó là cái có không của người đời,
còn Không của Bát Nhã là không tự tánh, không tự tánh tức là không thực
thể. Vì vậy đức Phật nói thân này vô ngã. Vì vô ngã nên không chủ thể, bởi
không chủ thể nên tùy duyên mà thành, tùy duyên mà hoại, không phải lúc
nào cũng nguyên vẹn. Đó là ý nghĩa cụ thể của đạo Phật.
Chúng ta thấy rõ ý nghĩa của chữ Không rồi thì đối với sự vật hiện tiền
mắt thấy, tay sờ mó được là thật có hay thật không? Nói thật có hay thật
không đều sai cả vì nó tạm bợ, chỉ có giả tướng hiện tiền. Như vậy phải
nói sao ? Nói các pháp không thật có, do duyên sinh, chỉ tạm có nên nhà
Phật gọi như huyễn, như hóa. Đến đây tôi nhớ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở đời Lý
có bài kệ:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không.
Tạm dịch:
Có thì muôn sự có
Không thì tất cả không
Có không trăng đáy nước
Đừng mắc có không không.
Ngài Từ Đạo Hạnh diễn đạt hình ảnh cho chúng ta thấy rất linh động. Tất cả
sự vật nếu nói có thì vật nào cũng có hết. Tại sao? Vì trên giả tướng mắt
thấy, tay sờ mó được. Còn nếu nói không thì tất cả đều không hết, vì chúng
là duyên hợp không thật. Không thật nên nói là không. Như vậy nói có và
không giống như mặt trăng dưới đáy nước. Đêm rằm ta nhìn xuống hồ nước,
thấy mặt trăng hiện dưới đáy nước. Mặt trăng ở đáy nước là thực có hay
thực không? Nếu thực có sao đưa tay vớt lên không được. Nếu thực không sao
mắt chúng ta thấy rõ ràng. Nên gọi là có mà chỉ là cái bóng, chớ không
phải không ngơ. Nhưng là bóng thì nó không thật.
Muôn sự vật ở thế gian này cũng như bóng trăng đáy nước, nhìn thấy như có
nhưng rốt cuộc không thực thể. Cho nên có cũng như không, chỉ vì duyên hợp
tạm có. Người ta cứ ngỡ rằng những gì mắt thấy tai nghe là thực có, nhưng
không ngờ chúng là duyên hợp. Đã là duyên hợp, chúng ta đừng lầm chấp nó
thật thì sẽ không đau khổ. Đây là chỗ khó của người học Phật. Nếu thấy
được lý này thì chúng ta sẽ thấy đạo Phật hay đáo để.
Chúng ta tu khó khăn vì chúng ta thấy cái gì cũng thật nên dễ nhiễm, dễ
kẹt. Nhiễm kẹt thì sự tu không tiến, còn thấy các pháp không thật thì
chúng ta không có gì để chấp, mà không chấp thì đường tu hết sức dễ dàng.
Cho nên si mê là động cơ chủ yếu đưa chúng ta đến chỗ sai lầm. Từ sai lầm
đó khiến chúng ta không thấy lẽ thật, rồi bị chìm đắm trong sinh tử, kiếp
này kiếp nọ không cùng. Tuy nhiên những thứ đó cũng là tướng duyên hợp
không thật. Nhưng không khéo tu chúng ta sẽ không ra khỏi nó, chỗ này rất
là quan trọng.
Tôi nhấn mạnh lại chữ Không trong kinh Bát Nhã tức là tánh không của các
pháp. Từ con người cho tới muôn vật đều giả có, không có thực thể. Đã là
giả có mà chúng ta thấy thật thì đó là mê lầm, giả có mà nói không thì
trái với lẽ thật. Vì vậy không thể khẳng định là không. Phải biết muôn sự
muôn vật trước mắt chúng ta là tướng duyên hợp giả có.
Kinh Bát Nhã có câu: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa
thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là, Bồ
Tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu vào trí tuệ Bát Nhã, Ngài xem thấy tất
cả sự vật, tất cả pháp hay nói gọn là con người gồm năm uẩn: sắc, thọ,
tưởng, hành, thức đều không có thực thể, không cố định. Khi thấy như vậy
Ngài liền qua hết thảy khổ nạn.
Ngày nay chúng ta tụng kinh Bát Nhã từ lúc mới vào chùa cho tới năm sáu
mươi tuổi, biết bao nhiêu biến? Trăm ngàn biến mà khổ ách vẫn là khổ ách.
Bởi vì tụng Bát Nhã thì tụng mà nhìn thấy thân năm uẩn thật. Nếu thấy thân
năm uẩn duyên hợp hư dối thì có ai chửi thân năm uẩn này chúng ta thấy
sao? Thân năm uẩn đã không thật thì lời chửi có thật đâu. Chẳng qua cũng
là tạm bợ hư giả thôi. Mình hư giả, người hư giả, lời nói hư giả, có gì mà
khổ, có gì mà phiền. Cho tới tất cả những thiệt thòi, khổ sở khác, nếu xét
kỹ chúng có thật không? Cũng không thật. Như vậy có gì làm chúng ta khổ sở
đâu? Chỉ cần dùng trí tuệ Bát Nhã soi thấu muôn sự vật, soi thấu lại bản
thân mình đều là duyên hợp hư giả. Thấy được như vậy thì khổ ách nào cũng
qua hết.
Như vậy chúng ta chỉ cần tụng một câu đó cũng hết khổ rồi, đâu cần phải
tụng nhiều. Chủ yếu là biết vận dụng lời Phật dạy vào việc tu của mình.
Lời Phật dạy rất chí lý nhưng chúng ta cứ đọc thuộc lòng. Đọc lại cho Phật
nghe phải không? Chúng ta đọc kinh đúng ra là đọc cho mình nhớ và thực
hành theo lời Phật dạy. Nhưng thường Phật tử cứ nghĩ rằng đọc như vậy có
phước. Đọc hai lần phước nhiều hơn một chút. Do không biết lời Phật dạy để
ứng dụng quán chiếu lại bản thân và mọi vật chung quanh, thấu triệt được
lẽ thật của nó nên chúng ta cứ đọc cho Phật nghe hoài, còn mình thì không
dính dáng gì hết. Phật nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ
ách, chúng ta tụng hoài sao không qua được khổ ách? Bởi vì có chiếu kiến
đâu! Chiếu kiến là soi sáng, mà chúng ta không chịu soi sáng thì làm sao
thấu tỏ được. Đó là lầm lẫn của chúng ta.
Đức Phật dạy thân này được kết hợp từ năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn,
tưởng uẩn, thức uẩn. Sắc uẩn là tứ đại đất nước gió lửa hợp lại. Thọ uẩn
là những cảm giác của chúng ta như đang nóng có ngọn gió thổi qua nghe
mát, cảm giác ấy gọi là thọ. Lưỡi chúng ta nếm một món ăn nghe ngọt, nghe
đắng v.v... cảm giác ấy là thọ. Mắt chúng ta nhìn thấy người thấy vật,
nhận ra đẹp xấu. Thân xúc chạm sanh thích hoặc chán v.v... Đó là cảm giác
của thọ. Sáu căn tiếp xúc sáu trần có cảm giác khổ vui, không khổ không
vui. Đó gọi là thọ. Tưởng uẩn là tâm mình tưởng tượng việc quá khứ vị lai.
Hành là suy tư, những ý niệm nhẹ nhàng tế nhị. Có chỗ nói hành cũng là ý
chí. ý chí vươn lên hay ý chí mạnh mẽ. Thức uẩn, phân biệt cái này tốt,
cái kia xấu, cái này phải, cái kia quấy v.v...
Như vậy thân chúng ta có năm phần. Một phần thuộc về sắc chất, bốn phần
kia thuộc về tinh thần. Có chỗ khác lại chia thân này do bốn thứ hợp lại
là sắc. Sắc đó gồm bốn thứ đất nước gió lửa. Phần tinh thần bốn thứ: thọ,
tưởng, hành, thức. Hai thứ cộng lại thành tám thứ đều nhau.
Tóm lại, thân này từ vật chất cho đến tinh thần đều do duyên hợp, không có
gì cố định. Xưa Thiền sư Lương Giới, Tổ tông Tào Động, lúc mới cạo tóc vào
chùa, đọc kinh Bát Nhã, Ngài thấy kinh nói: "Vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt,
thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp", Ngài bạch với thầy:
-
Con có mắt tai mũi lưỡi thân ý, nhưng sao trong kinh nói không có. Nghĩa
này thế nào?
Vị
thầy lắc đầu bảo Ngài đi tìm học chỗ khác, vì thầy giải nghĩa không nổi.
Người học đạo thấy kinh nói sao là hay như vậy, không thắc mắc tìm hiểu
nghĩa lý thì chúng ta không tiến bộ được. Ngài Lương Giới đọc kinh không
hiểu liền sinh nghi nên Ngài phăng tìm cho ra. Sau này ngộ đạo Ngài mới
thấy được lý chân thật của Phật dạy. Tất cả lời Phật dạy không có câu nào,
lời nào là vô ý vô nghĩa, tất cả đều chỉ lẽ thật cho chúng ta. Nhưng vì
trình độ thấp nên chúng ta không nắm vững thành ra cứ mê muội mãi.
Trong kinh Bát Nhã có đoạn: "Tướng không của các pháp không nhơ, không
sạch, không thêm, không bớt v.v..." cho tới không mắt tai mũi lưỡi thân ý,
rồi không cả sắc thinh hương vị xúc pháp v.v... tất cả đều không. Như vậy
tánh Không là thực thể không của các pháp. Trên phương diện không thực thể
thì không có pháp gì có thật cả, nên nói không tất cả. Ngũ uẩn không, thập
nhị xứ không, thập bát giới không v.v...
Tới đoạn sau "vô vô minh tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc”.
Nghĩa là tất cả pháp như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới. Năm uẩn là
chỉ thân này, mười hai xứ tức là sáu căn và sáu trần, mười tám giới là căn
trần thức cộng lại là mười tám. Vậy thì thân này, tâm thức này và trần
cảnh này trên tánh Không đều không có, không thực thể. Về thế tục đế,
những thứ này không thật có.
Còn như pháp Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Đế lẽ ra nhất định phải có. Vì Phật
nói pháp Tứ Đế là chân lý, không thể sai chạy, pháp nhân duyên cũng chân
lý, không thể sai chạy được. Nhưng tại sao kinh Bát Nhã nói cũng không
luôn, như vậy chúng ta tu cái gì? Điểm này có nhiều người thắc mắc. Không
khổ tập diệt đạo, không vô minh và không hết vô minh v.v... thì chúng ta
tu làm sao đây?
Tôi thường hay nhắc, pháp của Phật dạy là phương thuốc trị tâm bệnh của
chúng sanh. Chúng sanh có bệnh gì Phật có thứ thuốc ấy. Vậy nếu bệnh không
thật thì thuốc có thật không? Thân ngũ uẩn này không thật tức là bệnh
không thật. Thuốc là để trị bệnh, bệnh đã không thật thì thuốc làm gì có
thật. Rõ ràng pháp của Phật dạy chỉ là phương tiện trị bệnh cho chúng
sanh. Nếu chúng sanh hết bệnh thì thuốc cũng không dùng. Chúng sanh không
thực thể thì thuốc cũng không thực thể.
Người đời thường nghĩ lời phàm tục không thật, còn lời Phật dạy là chân
lý, là thật. Nhưng sự thật Phật chỉ tùy theo bệnh của chúng sanh mà dạy,
giúp họ giải trừ được căn bệnh của mình, chớ ngôn ngữ ấy cũng không thật.
Cho nên nói kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng hay chiếc bè đưa người
qua sông v.v... Hiểu như vậy chúng ta mới không nghi. Tất cả pháp thế gian
(tục đế) và pháp xuất thế gian (chân đế) đều không có thực thể, chỉ là giả
tướng tạm bợ, đối bệnh cho thuốc thôi. Thấy rõ như vậy nên không chấp, sẽ
đi tới chỗ cứu kính Niết Bàn, không còn mê lầm nữa.
Thấy được chữ Không của Bát Nhã rồi thì chúng ta dễ tu. Bởi vì chúng ta
đang mắc bệnh chấp không. Nói tất cả pháp không có chủ thể liền chấp không
ngơ. Nếu ai chấp không ngơ là lầm, bởi sự vật đang có giả tướng hiện tiền
làm sao nói không được. Cho nên chúng ta phải hiểu rõ, Không là không chủ
thể, không cố định, chớ lầm là không ngơ. Hiểu như vậy chúng ta sẽ không
còn chấp nữa.
Tất cả sự vật đến với ta, ta không chấp thì dễ tu biết mấy. Mình có phải
khổ sở để dẹp nóng giận, dẹp phiền não không? Sở dĩ chúng ta phiền não,
chúng ta nóng giận là vì chúng ta chấp nó thật. Nếu biết rõ nó không thật,
chỉ tạm bợ do duyên hợp thì có gì mà chấp. Do không chấp nên thảnh thơi tự
tại đi giữa cuộc đời mà chúng ta không dính mắc gì cả.
Như vậy Phật độ chúng ta hết khổ, hay chúng ta dùng trí tuệ thấy muôn sự
vật xảy đến với mình không thật, liền vượt qua các khổ. Nỗi khổ không ai
cứu ta được mà do ta nhận ra chân tướng của nó không thật thì có gì làm ta
phiền hà, khổ sở nữa! Thấy tường tận đạo lý thì không còn chấp. Nên nhớ
chấp là gốc từ si mê, là nhân của đau khổ. Nhờ trí tuệ sáng không chấp nên
đau khổ cũng không còn. Tụng một bài kinh Bát Nhã mà thấu triệt rồi thì
chúng ta tự tại đi trong cuộc đời. Đó là điều chắc chắn vậy.
Nhưng sẽ có người nói thế này, Phật dạy các pháp hư giả tạm bợ như kinh
Kim Cang nói: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh". Nếu mọi
thứ đều tạm bợ huyễn hóa hết thì không cần làm gì nữa. Cuộc đời cứ thả
trôi thì xã hội sẽ ra sao? Đây là nghi vấn của nhiều người hiện nay. Thật
ra người tu Phật phải có đủ hai mặt: Một là trí tuệ tức trí Bát Nhã, hai
là từ bi.
Chúng ta quán sát thấy rõ tánh các pháp là không, do duyên hợp tạm có,
thấy tường tận như vậy là chúng ta có trí tuệ Bát Nhã. Nhưng giả sử cạnh
ta có người đói khổ, chúng ta cũng bỏ mặc chỉ ngồi cười thôi, không làm gì
hết, như vậy trở thành khô khan tiêu cực. Cho nên phải phát tâm từ bi.
Phật dạy có trí tuệ mà không có từ bi là càn tuệ tức trí tuệ khô. Vì vậy
trí tuệ phải có từ bi thì trí tuệ ấy mới tươi nhuần. Còn từ bi mà thiếu
trí tuệ thì gọi là từ bi mù, nên chúng ta tu Phật phải có đủ từ bi và trí
tuệ.
Bởi vì có trí tuệ rồi chẳng lẽ ngồi không, ai khổ mặc họ không cần biết
đến ? Như vậy là ích kỷ, không có lợi ích gì cả. Cho nên người tu phải
phát tâm từ bi, chúng sinh tuy hư giả nhưng lại không biết hư giả. Vì vậy
họ khổ, chúng ta phải thương, phải cứu họ, làm cho họ hết khổ. Như vậy nhờ
trí tuệ phá kiến chấp sai lầm, phá ngu muội tăm tối. Nhờ lòng từ bi thương
người mê lầm, ta chỉ cho họ thấy được lẽ thật, không còn chấp, không còn
đau khổ nữa. Đó mới gọi là làm tròn bổn phận người tu.
Vì
vậy trí tuệ và từ bi phải nhịp nhàng theo nhau. Người tu Phật dù bậc
thượng hay bậc hạ cũng phải đồng thời huân tập hai phương diện đó. Phải có
đầy đủ trí tuệ tức trí Bát Nhã và từ bi để độ chúng sanh. Không vị Phật
nào chỉ có trí tuệ mà thiếu từ bi. Hiểu như vậy chúng ta mới sẵn sàng lăn
vào cuộc đời để cứu khổ, để đánh thức những người mê muội. Không nên nói
thân giả, cảnh giả, khổ cũng không thật, có gì đâu lo. Thiên hạ đói cũng
là chuyện giả thôi, có chi phải bận lòng rồi ngồi đó không làm gì hết.
Nên trong kinh Phật dạy phước và huệ, cả hai phải song hành như nhau,
giống con chim có hai cánh. Chim muốn bay được phải đủ đôi cánh, nếu chích
đi một cánh thì chim bay không được. Người tu cũng vậy, phải có trí tuệ để
thấy tường tận lẽ thật của cuộc đời và có lòng từ bi để san sớt, chia xẻ
những nỗi khổ của chúng sanh. Đó mới là người tu Phật chân chính.
Mong tất cả quý vị nghe suy ngẫm và ứng dụng giáo pháp Phật dạy vào đời
sống tu tập của mình. Nếu ứng dụng được sẽ thấy giá trị cao siêu của Phật
pháp, bằng ngược lại chỉ hiểu suông, không thực hành gì cả thì không bao
giờ thấy được sự mầu nhiệm của đạo Phật. Và như vậy chúng ta không xứng
đáng gọi là đệ tử của đức Phật. Tất cả hãy ghi nhớ và cố gắng nỗ lực thực
hành để có niềm vui chân thật ngay trong hiện đời. |