|
(Trích: "Thiền nguyên Thủy và Thiền Phát triển", Thiền Viện Vạn Hạnh, Sài
Gòn 1994)
Tất cả chúng ta đều đồng ý là, pháp tu của Đạo Phật, dù phương tiện có thể
khác song cứu cánh phải gặp nhau. Nếu hai pháp tu mà phương tiện và cứu
cánh đều khác biệt nhau thì, pháp nầy là Đạo Phật, pháp kia hẳn không phải
Đạo Phật. Phật giáo Việt Nam đã mang sẵn hai pháp tu Thiền: Thiền Tông và
Thiền Nguyên Thủy. Vậy sự gặp gỡ nhau như thế nào? Đây là mục tiêu chúng
ta phải nghiên cứu. Theo thiển kiến chúng tôi thấy có những điểm gặp nhau,
như dưới đây:
A. CHỦ ĐÍCH BAN ĐẦU GẶP NHAU.
Thiền Tông va Thiền Nguyên Thủy đều thừa nhận đức Phật Thích Ca là Giáo
Chủ, đồng kính thờ Ngài. Đậm nét nhất là mục đích xuất gia khi Ngài còn
làm Thái Tử. Sau khi dạo bốn cửa thành, hình ảnh sanh già bệnh chết đã đập
mạnh vào mắt Ngài, đã in sâu vào tâm não Ngài, sự bất lực của con người
với luật vô thường, khiến Ngài phải băn khoăn thắc mắc. Ngài cương quyết
tìm phương paháp giải thoát sanh già bệnh chết. Đây là vấn đề không tiền
khoáng hậu, mà Ngài tự đạt ra cho mình. Từ đây, "phương pháp giải thoát
sanh già bệnh chết" là vấn đề bức xúc nhất, thúc bách Ngài phải tìm phương
giải quyết. Chính là động cơ chủ yếu thôi thúc Ngài vượt thành xuất gia.
Sau khi xuất gia, Ngài gặp các Đạo Sĩ dạy tu Thiền định, cho đến cái định
cuối cùng là Phi tưởng phi phi tưởng, song vẫn chưa giải quyết hoài bão
Ngài cưu mang từ buổi ban đầu. Ngài từ giã họ, rồi bao nhiêu năm dò dẫm
săn tìm, đến phút giây quyết định là đêm thứ 49, Ngài ngồi dưới cội Bồ Đề
được giác ngộ viên mãn. Đến đây, Ngài đã thấy tường tận manh mối trói buộc
lôi kéo chúng sanh vào đường sanh tử và biết rành rẽ phương pháp diệt trừ
cắt đứt mọi mối dây trói buộc giải thoát sanh tử. Bài pháp Tứ Đế Ngài
giảng đầu tiên tại vườn Lộc Uyển đủ minh chứng điều này. Thế là Ngài giải
quyết xong vấn đề ôm ấp từ thuở ban sơ, tuyên bố thành Phật.
Thiền Tông nhắm thẳng mục đích ấy, thực hiện theo sở hành của Phật mà
không hoàn toàn theo lời dạy của Phật. Lấy phương châm "Giải thoát sanh
tử" làm kim chỉ nam. Đặt vấn đề "Làm sao giải thoát sanh tử? " làm công
án, trăn trở thao thức nghiền ngẫm mãi vấn đề này, đến bao giờ vỡ tung mới
thôi. Phải đạt đến cứu cánh thành Phật là mục tiêu cuối cùng. Vì thế, Tổ
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) dõng dạc tuyên bố: "Giáo ngoại biệt truyền bất
lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Lấy "Giải thoát sanh
tử" làm chủ đề, đặt nghi vấn làm phương tiện tu, do dùi mài hun đúc mãi
vấn đề này, khiến mọi tâm niêm lăng xăng tự phải dừng lại, đến khi thuần
thục chín muồi vấn đề nổ tung là giác ngộ "giải thoát sanh tử". Chỗ này
rất thích hợp với các nhà khoa học xưa nay, bởi nghi vấn nên tìm tòi
nghiên cứu đến lúc chín muồi liền phát minh. Có khi vấn đề đặt ra chìm
ngầm trong tiềm thức, như mạch nước chảy ngầm dưới đất, nhờ công phu thiền
định đến mức tột cùng, bỗng dưng phát sáng, thấy rõ vấn đề mình ôm ấp từ
trước, như nhờ đào sâu xoi thủng trúng mạch thì dòng nước vọt lên. Chính
đây là hướng thực hành của Thái Tử Tất Đạt Đa thưở xưa.
Thiền Nguyên Thủy cũng nhằm mục đích giải thoát sanh tử. Phương tiện tiến
tu dồn hết tư tưởng vào một đề mục, đi sâu mãi cho đến chứng sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền, tứ thiền, bước sang tam minh, cuối cùng giác ngộ "giải
thoát sanh tử", cụ thể bằng thấy rõ Tứ Đế. Như đoạn kinh Phật dạy:
"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Đây là khổ", biết như thật: "Đây là
nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự diệt khổ", biết như thật:
"Đây là con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Đây là những lậu
hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc ", biết như thật:
"Đây là đoạn trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến
sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm
của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu.
Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải
thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm
đã làm; sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nưã " (Trung bộ
I.,
278-279)
B. GIỚI ĐỊNH TUỆ GẶP NHAU.
Thiền Tông đặt giới luật lên trên, cụ thể là Lục Tổ Huệ Năng ngộ đạo rồi
vẫn thọ giới, sau mới hoằng hóa.
Thiền Tông ứng dụng theo hai lối tu:
1)
Đặt nghi vấn để theo dõi
2)
Nhìn lại mình, không theo vọng tưởng.
Đặt nghi vấn để theo dõi là khán Công Án hay Thoại Đầu. Khi theo dõi công
án, mọi niệm lự dễ dừng lặng. Như khi ta đang thắc mắc về một vấn đề quan
trọng thì mọi suy nghĩ khác đều tan. Dồn hết tâm tư trong một công án thì
đối với dục lạc thế gian ta sẽ lơ là, giới luật đã nằm sẵn ở đây. Giống
như nhiều nhà khoa học khi mải mê nghiên cứu một đề tài gì có lúc quên cả
vợ con, ăn uống. Khi vấn đề đã thành khối thì ý thức chết lịm trong ấy,
đấy là Định. Đến lúc chín muồi gặp duyên khối nghi tan vỡ, là thấu suốt
được vấn đề mình bao năm theo dõi, gọi là ngộ đạo. Tức là giác ngộ mục
đích mình tìm kiếm, đây là Huệ. Hầu hết những vấn đề đặt ra đều tối quan
trọng như: Thế nào là Phật? Thế nào là Đại ý Phật Pháp? Thế nào là Kiến
tánh thành Phật? Thế nào là ý Tổ Sư từ Tây sang?
Nhìn lại mình "Không theo vọng tưởng" gọi là "Phản quan tự kỷ", cũng gọi
"Hồi quan phản chiếu", dùng trí quán sát tâm tư của mình. Mọi người đều
nhận ý nghĩ lăng xăng là tâm mình, chạy theo nó tạo nghiệp không cùng. Ở
đây hành giả trong mọi oai nghi tỉnh táo quan sát tâm niệm mình, "Thấy nó
không theo", hoặc tìm xem nó phát xuất từ chỗ nào? Không theo thì nó lặng,
tìm lại thì nó mất. Vận dụng trí tuệ quan sát thường xuyên khiến vọng
tưởng không có cơ hội dong chạy, là giữ Giới. Vọng tưởng cùng đường không
lối thoát, buộc chúng phải lặng yên là Định. Vọng tưởng đã sạch, trí tuệ
hiện tiền là Huệ. Chỗ này Thiền Sư Hoài Hải (724-814) nói: "Tâm địa nhược
không, huệ nhật tự chiếu". Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự sáng.
Lối tu này xuất phát từ Tổ Đạt Ma chỉ dạy Ngài Huệ Khả. Huệ Khả hỏi: "Tâm
con không an, xin thầy dạy pháp an tâm". Tổ Đạt Ma bảo: "Đem tâm ta an
cho". Huệ Khả sửng sốt tìm tâm không được, thưa: "Con tìm tâm không được".
Tổ Đạt Ma bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngay đây Ngài Huệ Khả biết được
lối vào. (Sử 33 vị Tổ, tr. 163)
Thiền Sư Đức Sơn (780-865) dạy chúng: "Các ông chớ cuồng, khuyên các ông
không gì hơn Thôi Hết đi, Vô Sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến
thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới" (Trung Hoa Chư Thiền Đức II, 138). Cụ
thể hóa lối tu này bằng hình ảnh "Mười Mục Chăn Trâu Thiền Tông" (Thập Mục
Ngưu Đồ Thiền Tông).
Thiền Nguyên Thủy lấy Giới Định Huệ làm căn bản. Thiếu giới thì không
định, không định thì chẳng phát huệ. Chúng ta đọc đoạn này trong kinh Sa
Môn Quả (Trường Bộ I, 71):
"Vị ấy, với giới uẩn cao quý nầy, với sự hộ trì các căn cao quý nấy, với
chánh niệm tự giác cao quý nầy, với hạnh biết đủ cao quý nầy, lựa một chỗ
thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma,
lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy
ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước
mặt"... Với tâm định tỉnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não,
nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị Tỳ Kheo dẫn tâm,
hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: "Đây là Khổ"; biết như
thật: "Đây là nguyên nhân khổ"; biết như thật: "Đây là sự diệt khổ"; biết
như thật: "Đây là con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Đây là
những lậu hoặc"; biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc"; biết
như thật: "Đây là sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận
thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát
khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu
biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành,
những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác
nưã" (Trường Bộ
I.
82-83).
Đọc hai đoạn trên, chúng ta thấy từ Giới luật đầy đủ mới tu Thiền Đ?nh, từ
Thiền Định đầy đủ mới phát Trí huệ sáng suốt thấy đúng như thật cội nguồn
sanh tử và xuất ly sanh tử.
Thiền Tông và Thiền Nguyên Thủy đều gặp nhau ở chỗ khai thác Trí Vô Sư.
Giáo lý nhà Phật chia hai thứ trí: Trí Hữu Sư và Trí Vô Sư. Trí Hữu Sư do
học hỏi mà được, là sản phẩm của người khác truyền sang. Trí Vô Sư sẵn có
nơi mình, chỉ khi nào mọi tâm lự đình chỉ thì tự phát hiện. Nếu con người
tự mãn với Trí Hữu Sư mai kia chúng ta sẽ không thông minh bằng người máy.
Vì khoa học ngày nay đã bắt chước tế bào não con người, chế biến các vi
điện tử cũng có khả năng ghi nhớ những dữ kiện như não bộ con người. Nếu
người ta phát vào não bộ người máy thật nhiều dữ kiện, nó sẽ biết nhiều,
nhớ nhiều hơn chúng ta. Bao nhiêu kiến thức chúng ta thu thập được đều
thuộc bên ngoài đưa vào, không phải là sự phát minh của Trí Vô Sư của
chúng ta.
Thiền Tông bắt buộc thiền giả phải phát minh Trí Vô Sư, mọi kiến thức tiếp
thu được bên ngoài đều thuộc vô thường, thuộc người khác, không phải chính
mình. Qua câu chuyện đối đáp của hai Thiền Sư Nham Đ?u Toàn Khoát
(826-887) và Tuyết Nghĩa Phong Tồn (822-908) thấy rõ điều này.
-
Tuyết Phong nói: "Tôi thật còn chưa ổn".
-
Nham Đầu bảo: "Nếu ông thật như thế cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua,
chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ không phải tôi sẽ vì ông đuổi
dẹp".
-
Tuyết Phong: "Khi tôi mới đến Diêm Quan thấy thượng đường nói nghĩa sắc
không liền được chỗ vào".
-
Nham Đầu: "Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến".
-
Tuyết Phong: "Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông: Thiết kỵ tùng tha
mích, điều điều dữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã, ngã kim bất thị cừ".
-
Nham Đầu: "Nếu cùng ấy tự cứu cũng chưa tột".
-
Tuyết Phong, sau, hỏi Đức Sơn: Việc trong tông thừa từ trước con có phần
chăng?
-
Đức Sơn đánh một gậy hỏi: Nói cái gì? Tôi khi đó giống như thùng lũng đáy.
-
Nham Đầu nạt: Ông chẳng nghe nói: "Từ cửa vào chẳng phải của báu trong
nhà?"
-
Tuyết Phong: Về sau làm thế nào mới phải?
-
Nham Đầu: Về sau, nếu muốn xiển dương Đại Giáo, mỗi mỗi từ trong hông ngực
mình lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời che đất đi!
Tuyết Phong nhơn câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: Sư huynh!
Ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn (Trung Hoa Chư Thiền Đức II. 203)
Thiền Nguyên Thủy cũng do mọi tâm niệm đều lặng sạch mới phát sanh trí
tuệ. Trí tuệ này do định phát sanh nên thuộc Trí Vô Sư. Chúng ta nghe một
đoạn Phật kể lại sự tu chứng của Ngài: "... Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm
thanh tịnh... với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền
não, nhu nhuyến, dễ xử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm,
hướng tâm đến Túc Mạng Minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời,
hai đời..." (Trung Bộ
I.
247).
Sau khi được xả niệm thanh tịnh, hướng tâm về quá khứ thì thấy rõ nhiều
đời của quá khứ... Trí tuệ thấy rõ này không phải do suy xét mà được. Chỉ
nhờ xả niệm thanh tịnh, nên thuộc Trí vô Sư.
C. GẶP NHAU TRÊN LỘ TRÌNH TU TẬP
Thiền Tông nghiên cứu công án hay đề khởi thoại đầu cốt phải đến chỗ niêm
mật, cho đến cô đọng thành một khối gọi là nghi tình. Khi nghi tình tan vỡ
là thành tựu đáp án, cũng có nghĩa là ngộ đạo. Nếu dùng "Thấy vọng không
theo" (phản quan tự kỷ) cũng phải hằng tỉnh hằng giác cho đến khi nào vọng
niệm lặng hết thì kiến tánh ngộ đạo. Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm
(778-897) nói: "Một tâm chẳng sanh muôn pháp không lỗi. Ông cứ nghiên cứu
lý này, ngồi quán sát hai ba mươi năm, nếu chẳng hội, chặt đầu lão tăng
đi. Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn
pháp nhất như". (Trung Hoa Chư Thiền Đức
I.
397)
Thiền Nguyên Thủy quán Tứ Niệm Xứ phải chuyên tâm cột niệm trong bốn Pháp
sẽ được kết quả. Chúng ta nghe Phật dạy trong bài kinh Tứ Niệm Xứ:
"Nầy các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ
Niết Bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ".
"Thế nào là bốn? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây vị Tỳ Kheo sống quán thân trên
thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán
thọ trên các thọ, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
sống quán tâm trên tâm, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu
ở đời; sống quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời ." (Trung Bộ
I.
56 -57).
Cũng kinh Tứ Niệm Xứ Phật nói kết quả của Tỳ Kheo nào tinh cần như sau:
"Nầy các Tỳ Kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong bảy năm, vị
ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng chánh trí ngay
trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo không cần gì bảy năm, một vị Tỳ Kheo tu Bốn Niệm Xứ nầy
như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong
hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một
là chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, chứng quả
Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo không cần gì một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ nầy
trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là
chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, chứng quả Bất
Hoàn.
Nầy các Tỷ Kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ
Niết Bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ". (Trung Bộ
I.
62A)
Tuy phương pháp ứng dụng tu có khác, song đều phải nhiệt tâm tinh cần, kết
quả sẽ đến không nghi. Thiền Tông nhìn thẳng tâm niệm mình, Thiền Nguyên
Thủy tựa vào Tứ Niệm Xứ, dụng công tu cũng phải thiết tha thành khẩn như
nhau, kết quả tâm niệm lặng hết sẽ ngộ đạo hay chứng Niết Bàn.
D. THIỀN TÔNG GẶP GIÁO LÝ NGUYÊN THỦY.
Thiền Tông tu bằng cách xoay sáu căn trở về tự tánh của nó (Hồi quang phản
chiếu). Bằng chứng khi Lục Tổ Huệ Năng (638-713 T.L) nghe Ngũ Tổ giảng
kinh Kim Cang, đến câu: "Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh
hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Chẳng nên
dính sắc sanh tâm, chẳng nên dính thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm,
nên không chỗ dính mà sanh tâm kia: Tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Lục Tổ phát ngộ la lên: "Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh ! Đâu ngờ
tánh mình vốn tự đầy đủ...". (Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm Hành Do). Sáu căn
không dính mắc với sáu trần là nguyên nhân đưa đến giác ngộ. Chính Trúc
Lâm Đ?u Đà (Trần Nhân Tông) định nghĩa Thiền Tông một cách đơn giản và cụ
thể. Trong bài kệ Hán văn kết thúc bài phú "Cư Trần Lạc Đạo " câu chót
"Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền" . Đối cảnh không tâm là sáu căn tiếp đối
sáu trần mà không dấy niệm chạy theo, Thiền là ngay nơi đó.
Các kinh Nguyên Thủy, Phật thường dạy sáu căn tiếp xúc sáu trần phải biết
như thật tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi
sáu căn. Nếu biết như thật rồi thì đâu còn chạy theo sáu trần, cũng là
nguyên nhân chứng A La Hán hay Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như bài
kinh Phật dạy sau đây:
..." Nầy các Tỳ Kheo, có sáu căn này. Thế nào là sáu? Nhãn căn... ý căn"
"
Cho đến khi nào, nầy các Tỷ kheo, Ta chưa như thật chứng tri sự tập khởi,
sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi sáu căn nầy, cho đến
khi ấy, nầy các Tỳ Kheo. Ta không có biết rõ về sự chứng ngộ Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, đối các thế giới, Ma giới, Phạm Thiên giới, với các
chúng Sa môn, Bà La Môn, Chư Thiên và loài người. Cho đến khi nào, nầy các
Tỳ Kheo, Ta như thật chứng tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy
hại và sự xuất ly khỏi sáu căn nầy, cho đến khi ấy nầy các Tỳ Kheo. Ta mới
nhận biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đối
với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm Thiên giới, với các chúng
Sa môn, Bà La Môn, Chư Thiên và loài người." (Tương Ưng Bộ V. 218-219)
Thiền Tông phản quan nội tâm, không theo vọng tưởng, không có pháp môn để
tu. Mã Tổ Đạo Nhất (709-788) dạy chúng: "Các ông mỗi người tin tâm mình là
Phật, tâm nầy tức là tâm Phật. Tổ Đạt Ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền
pháp thượng thừa nhất tâm, khiến các ông khai ngộ. Tổ lại dẫn kinh Lăng
Già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điên đảo không tự tin pháp
tâm nầy mỗi người tự có, nên kinh Lăng Già nói "Phật nói tâm là chủ, cửa
không là cửa pháp'' - Phật ngữ: tâm vi tông, vô môn vi pháp môn" (Trung
Hoa Chư Thiền Đức I. 90). Thiền Sư Vô Nghiệp (760-821) đáp những câu hỏi
của các Thiền khách, sư thường sử dụng câu: "Chớ vọng tưởng". Sư dạy
chúng: "Chư Phật chưa từng ra đời, cũng không có một pháp dạy người, chỉ
tùy bịnh cho thuốc nên có 12 phần giáo, như lấy chuối ngọt nhét thuốc đắng
vào, cốt gột sạch gốc nghiệp cho các ông (Trung Hoa Chư Thiền Đức I.
237)". Đức Sơn Tuyên Giám (780-865) nói: "Tông ta không ngữ cú, thật không
một pháp cho người".
Giáo lý Nguyên Thủy cũng có bài kinh "Có pháp môn nào?" tương tự Thiền
Tông:
"Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ Kheo, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích,
ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (akàraparitakka), ngoài kham
nhẫn, thích thú biện luận (ditthini khànakhanti), có thể xác chứng chánh
trí. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Những gì nên làm đã
làm. Không còn trở lui trạng thái nầy nửa"?
-"Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, pháp lấy Thế Tôn làm căn bản... "
"Có một pháp môn, nầy các Tỷ kheo, do pháp môn ấy, Tỷ kheo ngoài lòng tin,
ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có
thể xác chứng chánh trí. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận... trạng thái nầy
nữa" ?"
-"Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy... không còn trở lui trạng thái nầy
nữa".
"Ở
đây nầy các Tỳ Kheo. Tỷ kheo mắt thấy sắc, biết rõ rằng: "Nội tâm ta không
có tham, sân si". Nội tâm có tham, sân, si biết rõ rằng: "Nội tâm ta có
tham, sân, si"; hoặc biết rõ nội tâm không có tham, sân, si: "Nội tâm ta
không có tham, sân, si". Nầy các Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có
tham sân si biết rõ: "Nội tâm ta có tham sân si"; nội tâm không có tham
sân si biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Nầy các Tỷ Kheo biết
rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những
pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do
lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay
do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết? "
-"Thưa không, bạch Thế Tôn ".
"
Có phải pháp nầy, do thấy chúng với trí tuệ, nên được hiểu biết? "
-
" Thưa phải, Bạch Thế Tôn.
"Đây là pháp môn, nầy các Tỷ Kheo, do pháp môn nầy, ngoài lòng tin, ngoài
ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp, ngoài kham nhẫn,
thích thú biện luận, có thể xác chứng với chánh trí. Vị ấy biết rõ: "Sanh
đã tận.....không còn trở lui trạng thái nầy nữa"... (Tương ưng bộ IV.
146-147)
Qua bài kinh nầy, chúng ta thấy cụ thể có lối tu không dựa vào pháp môn.
Chỉ phản quan lại tâm mình thấy đúng như thật, có tham sân si hay không
tham sân si. Chủ yếu là đến không tham sân si. Tham sân si, Thiền Tông gọi
là vọng tưởng, không tham sân si là hết vọng tưởng. Thế là hai bên gặp
nhau ở chỗ "Phản quan tự kỷ" và kết cuộc đều đến chỗ giải thoát sanh tử.
Chính quán sát nội tâm là trí tuệ, nhờ trí tuệ không bị phiền não dẫn, từ
từ chúng lặng sạch.
E. CHỖ CỨU CÁNH GẶP NHAU
Thiền Nguyên Thủy tu qua tứ Thiền đến giác ngộ tứ đế là giải thoát sanh
tử. Thiền Tông khi ngộ được Phật Tánh sạch hết mọi tập khí vọng tưởng cũng
giải thoát sanh tử. Đây là chỗ cứu cánh hai bên gặp nhau. Chỉ khác nhau
chỗ, Thiền Tông nói Phật Tánh, Pháp Thân, Bản Lai Diện Mục... còn Thiền
Nguyên Thủy chỉ nói giải thoát không còn tái sanh đời sau. Tuy nhiên vẫn
có bài kinh trong hệ Nguyên Thủy nói rõ có cái để giải thoát (Duk. 11.6)
(It.37):
"Điều nầy đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A La Hán nói đến, và tôi đã
được nghe.
"Nầy các Tỳ Kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành,
không làm ra (asankhatam). Nầy các Tỷ Kheo, nếu không có cái không sanh,
không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, thời ở đây không thể trình
bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra.
Đó vì, nầy các Tỷ Kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác
thành, không làm ra, nên có thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi
hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra. Thế Tôn đã nói ý nghĩa nầy. Ở đây
điều nầy được nói đến" (Tiểu Bộ I. 442 - 443).
Bao nhiêu cũng đủ minh chứng hệ Nguyên Thủy có cái để giải thoát khỏi sanh
tử, mặc dù không nói tên ra. Như vậy Thiền Tông và Thiền Nguyên Thủy chỗ
cứu cánh là gặp nhau. Chỉ có một điều, Thiền Tông đến chỗ giải thoát rồi
không chịu an trụ nơi đó mà vẫn lưu nguyện lăn lộn độ sanh. Như trong
"Mười mục chăn trâu", mục thứ chín là nhập Phật giới: Lá rụng về cội, mục
thứ mười là vào Ma giới: Buông thõng tay vào chợ.
Để kết thúc bài nầy, chúng tôi nhận thấy từ mục đích ban đầu Thiền Tông và
Thiền Nguyên Thủy đã gặp nhau, cho đến cứu cánh hai bên cũng gặp nhau. Chỉ
có phương tiện hai bên có khác nhau. Trên lộ trình tu hành có gặp nhau
cũng có khác nhau. Tuy nhiên trọng tâm hành đạo mục đích và cứu cánh gặp
nhau, là chung một mục tiêu, chung một lý tưởng rồi. Phương tiện sai biệt,
chỉ vì trình độ khác nhau thôi. Với thời gian ngắn ngủi, chúng tôi không
đủ thì giờ nghiên cứu chín chắn, có nhiều điều sai sót không thể tránh
được, mong quý vị chỉ bảo cho. |