|
Đề tài chúng
tôi sẽ trình bày cho quý Tăng Ni và Phật-tử hôm nay là lục-tặc và
lục-thông. Thường người thế gian có điều gì giận dỗi hay nói "nổi tam bành
lục tặc". Vậy lục tặc là gì? Chữ tặc là kẻ cướp, kẻ giặc. Trong kinh Phật
luôn luôn dạy, mỗi chúng ta có đủ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Sáu căn đó nếu mê lầm bị sáu trần lôi cuốn thì sáu căn biến thành lục tặc.
Còn nếu chúng ta khéo tu, khéo gỡ, không cho dính nhiễm sáu trần thì sáu
căn liền thành lục thông.
Chúng ta hãy thật thà xem xét có phải sáu căn là sáu đứa giặc không? Nếu
phải thì chúng ta còn công đức hay mất công đức? Nuôi sáu đứa giặc phá
phách này thì công đức chúng ta tiêu tan hết. Như vậy chúng ta tu là phải
làm sao đừng để sáu căn dính nhiễm với sáu trần. Đó là đuổi được sáu đứa
giặc hay còn gọi là lục tặc, nếu không bọn chúng sẽ làm hư hoại các công
đức của chúng ta. Mỗi vị hãy tự kiểm lại mình để cố gắng khéo tu.
Tôi dẫn một hình ảnh mà mọi người đều dễ thấy, dễ nhớ. Khi vào chùa chúng
ta thường thấy thờ một vị Bồ tát hình tướng mập mạp, miệng cười toe toét.
Đó là Bồ Tát Di Lặc. Có tượng Bồ tát ngồi với sáu đứa trẻ, đứa móc con
mắt, đứa chọc lỗ tai, đưá khều lỗ mũi, đứa thọt vào miệng v.v… Sáu đứa
chọc phá như vậy nhưng Bồ tát vẫn cười, không bực bội, không rầy rà gì
hết. Sáu đứa trẻ đó tượng trưng cho lục tặc. Mặc dù chúng nó chọc phá
nhưng Ngài vẫn thanh thản tự tại. Sáu đưá giặc tức là mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý dù bị quấy nhiễu nhưng Bồ tát vẫn tươi cười, chứng tỏ Ngài đã
thắng được lục tặc. Chiêm ngưỡng hình tượng Ngài, chúng ta phải học theo
gương của Ngài. Một vị Bồ tát lúc nào cũng thong dong tự tại, không buồn
phiền, bực bội. Như vậy lục tặc đối với Ngài đã thành lục thông rồi.
Chúng ta tu phải làm sao chuyển lục tặc thành lục thông mới là người thắng
trận. Còn nếu bị lục tặc nhiễu loạn thì thành người thua trận. Trong kinh
A Hàm chư Phật có kể câu chuyện một đàn khỉ đi ăn. Khỉ chúa ra lệnh tất cả
khỉ con phải đi chung đàn, theo sau khỉ chuá, không được đi tản mác. Trong
đó có một khỉ con thấy khỉ chuá đi trước, gặp thức ăn ngon khỉ chuá lượm
ăn hết, nên nó tách đàn đi riêng lẻ để kiếm ăn. Khi thấy miếng mồi thơm
ngon, nó liền dùng chân trước chụp lấy, không ngờ đây là bẫy của thợ săn
đã gài chất nhựa xung quanh nên nó bị dính tay. Dính tay này nó lấy tay
kia gỡ nên cũng dính luôn. Kế lấy chân sau gỡ cũng bị dính, còn lại một
chân cố bươi cũng dính. Như vậy dính hết bốn chân, nó dùng cái đuôi ngoe
ngoe móc cũng bị dính. Sau cùng nó lấy cái miệng quặp gỡ nên bị dính luôn.
Bốn chân, đuôi, miệng, cả sáu thứ bị dính, hết cục cựa. Chú thợ săn đến
lượm bỏ vô giỏ, quảy về.
Phật mượn ví dụ này để nói chư Tăng, chư Ni tu hành nương các bậc đạo đức.
Nhưng khi thấy Phật tử cúng dường các Hoà thượng, không cúng cho mình thì
cảm thấy buồn vì nghèo thiếu, nếu muốn ra riêng để được người ta quý trọng
hơn. Cũng như chú khỉ con còn trong đàn, thấy khỉ chúa hưởng hết những
thức ăn ngon nên bất bình, mới bỏ đàn. Vì thiếu kinh nghiệm, không biết
đâu là mồi người ta bẫy, đâu là thật nên gặp gì lượm nấy mới dính tay chân
cho đến sáu căn, không còn giẫy giụa được nữa. Vì vậy bị thợ săn lượm bỏ
vô giỏ.
Đức Phật dụ miếng mồi là saú trần. Một tay bị dính rồi thì cả sáu bộ phận
bị dính hết. Bẫy nhựa của thợ săn dụ cho sáu căn dính với sáu trần. Khi
sáu căn dính với sáu trần rồi thì thợ săn (dụ cho Ma vương) xách đi đâu
cũng phải chịu. Chúng ta tu nếu khôn ngoan thì như con khỉ đi theo đàn, có
người bảo hộ. Khỉ con không dính bẫy nên được tự do, dù ăn ít một chút
cũng không sao. Còn muốn ăn ngon, đi riêng lạc đàn thì bị mắc bẫy rất là
tai hại.
Như vậy sáu căn dính với sáu trần tức chúng ta bị Ma vương dẫn đi. Nó biểu
chúng ta làm gì chúng ta đều phải nghe theo, không chạy đâu được hết. Chư
Tăng Ni tu bao nhiêu năm gỡ được mấy trần, còn lại mấy trần? Nếu dính hết
thì thôi coi như đầu hàng Ma vương, còn nếu dính một hai căn thì còn giẫy
giụa được. Ma vương chưa dám nắm cổ lôi đi. Hiểu như vậy, chúng ta mới
thấy sự tu quan trọng. Hàng ngày mắt đối sắc, tai đối thanh, mũi đối
hương, miệng đối vị, thân đối xúc, ý đối pháp trần không bị dính kẹt, đó
là chúng ta giải thoát. Nếu còn dính kẹt thì chúng ta bị Ma vương dẫn di
trầm luân trong lục đạo luân hồi. Như vậy giải thoát là không dính mắc,
còn dính mắc là không giải thoát.
Như chúng tôi vừa kể, hình ảnh con khỉ bị dính nhựa nên mất tự do. Nếu
không dính thì được tự do, đó là lục thông. Ngược lại còn dính mắc là lục
tặc. Tăng Ni tu đừng để cho căn dính với sáu trần thì chúng ta được tự tại
giải thoát. Còn bị dính nhiễm thì mất hết tự do, đó là gốc của sự tu.
Tôi xin dẫn thêm chuyện của Lục tổ Huệ Năng với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Ngũ tổ
đem kinh Kim Cang ra giảng cho Ngài nghe. Kinh Kim Cang có hai câu hỏi của
tôn giả Tu Bồ Đề. Câu thứ nhất: "Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, làm thế nào để hàng phục được tâm ấy?". Câu hỏi thứ hai:
"Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm thế nào để an trụ
được tâm ấy?". Phần an trụ tâm, Lục tổ nghe giảng tới câu "Bất ưng trụ sắc
sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm", Ngài liền đại ngộ và thốt to lên: "Đâu ngờ tánh mình xưa
nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt v.v..". Ngũ tổ biết
Ngài đã ngộ nên truyền y bát và Ngài trở thành vị Tổ thứ sáu.
Như vậy, Phật dạy muốn tâm yên ổn, an trụ thì không nên sanh tâm dính kẹt
nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn không bị dính kẹt sáu trần
là an trụ tâm. Có nhiều vị tu hoặc ngồi niệm Phật hoặc tọa thiền nhưng tâm
cứ chạy hoài. Chạy theo sáu trần, nhớ người này, nhớ việc kia v.v… nên tâm
bị rối loạn. Nếu biết giữ tâm không cho dính với sáu trần thì tâm an trụ.
Mà tâm an trụ thì tiến đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không
khó. Do đó chúng ta mới thấy ý nghĩa của kinh Kim Cang đã khai ngộ cho Lục
tổ là vậy.
Kế
đây, tôi dẫn kinh Lăng Nghiêm. Tôn Giả A Nan hỏi Phật:
-
Bạch Thế Tôn, cái gì là căn bản của luân hồi sanh tử, cái gì là căn bản
của Bồ đề Niết Bàn?
Khi Ngài hỏi câu này, Đức Phật Thích Ca chưa trả lời thì mười phương chư
Phật ứng thinh đồng nói rằng:
-
Này A Nan, cội gốc của căn bản phiền não, luân hồi sanh tử là sáu căn của
ông. Cội gốc của Bồ đề Niết Bàn cũng là sáu căn của ông.
Rõ
ràng không riêng gì Đức Phật Thích Ca nói sáu căn là gốc sanh tử, sáu căn
là gốc Bồ đề Niết bàn, mà mười phương chư Phật đều "Dị khẩu đồng âm" (khác
miệng đồng lời) phát ra lời như thế.
Do
đó chúng ta tu phải làm sao để chính mình dứt hết luân hồi sanh tử, để đạt
được Bồ đề Niết Bàn. Đó là gốc của sự tu. Còn nếu chúng ta vẫn bị phiền
não kéo lôi, vẫn đi trong luân hồi sanh tử thì sự tu đó không có công
hiệu. Như vậy là uổng cơm của đàn na thí chủ. Muốn cho có công hiệu, không
uổng cơm của đàn na tín thí thì phải biết rõ sáu căn là cội gốc của sanh
tử, đừng để cho nó dính, đừng để cho nó nhiễm. Có thể, chúng ta mới đúng
là người tu cầu giải thoát sanh tử.
Sáu căn từ đâu mà ra? Nó sẵn nơi chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở
ngay thân mình chớ có xa đâu. Chỉ cần đừng để dính nhiễm là đã khéo tu.
Chớ nếu chúng ta ăn chay khắc khổ, tụng kinh rất nhiều mà ai động tới liền
nổi sân, cái gì đẹp thì ưa thích, tu như vậy có kết quả không ? Mắt thấy
sắc đẹp lòng mê thích, tai nghe tiếng chê trong bụng bực bội, như vậy là
chưa gỡ được các căn dính với các trần. Chưa gỡ được thì làm sao chúng ta
giải thoát sanh tử, cho nên trên đường tu chúng ta phải cố gắng nỗ lực,
làm sao gặp cảnh vui, cảnh buồn v.v.. chúng ta vẫn tự tại. Đó là giải
thoát thật sự. Nếu chiû có hình thức, không giữ được sáu căn của mình thì
khó giải thoát. Ý nghĩa Phật dạy hết sức rõ ràng.
Trong nhà Thiền có câu chuyện này. Ngài Ngưỡng Sơn – Huệ Tịch thuộc hệ Quy
Ngưỡng. Lúc còn đi tham-vấn, Ngài đến hỏi Thiền-sư Trung Aáp – Hồng Aân:
-
Bạch Hoà-thượng, thế nào là Phật tánh?
Ngài Trung Aáp nói:
-
Như có một con khỉ bị nhốt trong chuồng có sáu cửa. Bên ngoài có con khỉ
tới cửa số một kêu chéo chéo. Rồi đến cửa thứ hai kêu chéo chéo, con khỉ
bên trong cũng đứng dậy kêu chéo chéo, cứ như vậy tiếp tục hết sáu cửa.
Khi ấy ngài Ngưỡng Sơn thưa rằng:
-
Nếu con khỉ bên trong nó ngủ thì sao?
Ngài Trung Aáp từ trên tòa bước xuống nắm đứng nói :
-
Chúng ta thấy nhau rồi.
Qua câu chuyện, chúng ta thấy cái gì? Thường người ta cứ tưởng rằng Phật
tánh ở đâu xa, khó tìm, khó biết. Nhưng Thiền sư nói con khỉ nhốt trong
lồng nghe con khỉ bên ngoài kêu liền đáp lại. Như vậy, Ngài ví con khỉ bên
ngoài là trần, con khỉ bên trong là căn. Bên ngoài có sắc trần thì nhãn
căn dính, bên ngoài có thanh trần thì nhĩ căn dính, nghĩa là sáu căn, đụng
tới căn nào thì căn đó dính liền. Nhưng khi ở trong đã yên lặng thì bên
ngoài tới kêu chọc nó vẫn im lìm, lúc đó Phật tánh hiện tiền chớ không có
gì khác. Vì vậy, nên nói khi con khỉ bên trong ngủ yên thì bên ngoài dù có
kêu mấy nó cũng không cựa quậy, vì nó không có tiếp xúc nữa. Cũng vậy, khi
nội tâm của chúng ta yên lặng sáng suốt thì Phật tánh hiện tiền, không tìm
kiếm ở đâu xa. Chúng ta tu vì muốn thành Phật, tức là giác ngộ. Mà giác
ngộ ngay nội tâm mình, nếu chúng ta hằng tri hằng giác không chạy theo sáu
trần thì đó là Phật tánh hiển lộ rồi.
Tu
như vậy khó hay dễ? Có xa xôi gì đâu. Hiểu được ý nghĩa này chúng ta mới
thấy chuyện tu hành không phải chuyện xa vời mà rất gần, ở ngay trước mắt
chúng ta, ngay bản thân chúng ta. Tuy nhiên lời Phật Tổ dạy, nghe rất gần
nhưng đụng sự thật thì chúng ta quên mất tiêu. Chỉ như lỗ tai, khi chúng
ta đang bình tĩnh đang an ổn, nếu có người đến chỉ mặt nói rằng anh hay
chị ngu như con bò. Lúc đó chúng ta thế nào? Cười hay muốn tát tai người
ta? Nghe nói ngu như con bò liền nổi tức lên, mà nổi tức thì muốn cự lộn.
Như vậy lỗ tai chúng ta có dính nhựa phiền não chưa? Nếu dính rồi thì Ma
vương chuẩn bị dẫn chúng ta đi thôi. Lỗ tai dính rồi thì các căn khác cũng
dính theo, như mắt đỏ, tay muốn cựa quậy, các cơ quan đều muốn hoạt động
theo cả. Vì vậy, chúng ta phải dè dặt khéo tu.
Giả sử có người nói chị là con bò, điều đó có nhục không? Tôi thấy đâu có
gì nhục. Nếu ai nói tôi là con bò, tôi cười thưa phải, vì tôi có uống sữa
bò. Quý vị có uống sữa bò không? Thưa có! Có thì người ta nói mình là con
bò cũng phải quá, có gì đâu lỗi lầm. Có gì đâu để giận. Chuyện đó rất bình
thường. Thân của chúng ta được kết hợp bởi rất nhiều thành phần. Mỗi một
thứ vật chất đều giúp cho mình sống còn. Nhờ thế, tế bào chúng ta tăng
trưởng. Như vậy, chúng ta sống được là có phần con bò trong đó nữa chớ.
Người ta nói mình con bò là phải quá rồi. Cớ sao lại giận? Nhưng ở đời có
ai lại chịu như vậy đâu. Nghe nói con bò thì nổi giận, la hét rồi đưa tới
đánh đập nhau. Chúng ta bị đau khổ là vì chúng ta không nhận ra lẽ thật ở
con người. Như vậy không biết chừng nào hết bị dính mắc, mới giải thoát
sinh tử.
Thêm một điều nữa, lâu nay Phật tử chúng ta cứ nghĩ rằng mình có cái gì
buồn, cái gì giận, khi giận nói tôi giận người đó quá, khi buồn nói tôi
buồn người đó quá. Như vậy quý vị cho rằng cái giận, cái buồn là tôi, là
mình. Nếu giận là mình thì khi hết giận mình mất luôn phải không? Nếu hết
giận chúng ta vẫn còn nguyên thì làm sao nói giận là mình được. Như vậy,
giận không phải thật mình, buồn không phải thật mình. Đó chỉ là một phần
nhỏ trong tâm ta thôi. Nó sinh rồi nó diệt mà chúng ta lại đồng hóa nó với
mình. Từ cái mê lầm này nên chịu khổ, cứ nghĩ mình thế này, mình thế kia.
Sự thật giận không phải là mình, đó chỉ là phản ứng của tâm sân mà thôi.
Còn cái ta chân thật thì lúc nào cũng trùm khắp, không phải cái sân đó
đâu. Nếu nói sân là mình thì phải bảo vệ cái sân, nên khi giận ai dù có
người khuyên: "Huynh tu hành rồi mà giận làm chi" thì cũng bảo vệ cái giận
của mình. "Tại vì người đó làm dễ giận quá nên tôi mới giận". Bởi nghĩ thế
nên cho cái giận của mình có lý, chấp và giữ cái giận của mình là đúng.
Buồn, thương, hờn, ghét cũng như thế.
Chúng ta suy nghĩ xem, nếu giận là mình thì buồn không phải mình, thương
không phải mình, ghét không phải mình. Nhưng buồn, thương, giận, ghét cái
nào chúng ta cũng cho là mình cả. Như vậy có mấy chục cái mình, đó là điều
sai lầm. Nên biết buồn, thương, giận, ghét là những tâm sở tạm thời dấy
động rồi mất. Biết rõ như vậy mới có thể hàng phục nó, thắng nó. Còn cho
nó là mình thì thôi hết hàng phục, bởi vì nó chính là mình thì hàng phục
cái gì. Đó là nói về nội tâm.
Đến phần thân, khi chúng ta bị đau chỗ nào thì nói tôi đau quá. Nói như
vậy là cho đau đó là tôi, nhưng khi hết đau thì tôi làm sao? Nên biết cái
đau chỉ là đau ở một bộ phận trong cơ thể, hoặc chân hoặc bụng đau chớ tôi
không có đau. Vì vậy khi thân đau chúng ta vẫn thấy thảnh thơi, không khổ.
Nếu đau chân nói tôi đau quá, đau bụng nói tôi đau, đau chỗ nào cũng tôi
hết thành ra quằn quại rên la. Thấy chân đau còn tôi không đau mới là thấy
chân thật. Cái thấy chân thật ấy biết được cái đau, biết được chân đau,
biết được bụng đau. Hiểu như vậy thì trong cuộc sống này chúng ta đã làm
chủ được phần nào. Ngược lại, chúng ta cứ đồng hóa giận thì tôi giận, đau
thì tôi đau…, cứ đồng hóa như thế thì chúng ta không làm sao điều khiển
được chúng, không làm sao đuổi chúng được. Thế nên người tu phải sáng
suốt, nhận cho thật kỹ, khi gặp bệnh hoạn mới có thể làm chủ.
Ngày xưa, khi các vị Thiền sư bị bệnh, có người hỏi : Hoà thượng bệnh, có
cái chẳng bệnh chăng?
Cái Ngài đáp: Có
Hỏi: Cái gì không bệnh?
Các Ngài nói: Ui da! Ui da!
Cái biết rên đó, cái ấy không bệnh. Như vậy để thấy rằng các Ngài không
đồng hoá như chúng ta. Do chúng ta lầm lẫn nên từ đó sanh ra những chướng
ngại khác. Tôi dẫn bài kệ của một Thiền sư đời Trần, tức vua Trần Nhân
Tông. Lúc Ngài giao ngôi lại cho con để lên làm Thái thượng hoàng, cố vấn
cho nhà vua cai trị đất nước. Thời gian này, Ngài làm bài phú "Cư trần lạc
đạo", tức bài phú nói ở trong cõi đời mà vui với đạo. Kết thúc bài phú đó
có bốn câu thơ chữ Hán như thế này:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Tạm dịch:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.
Tôi giải thích từng câu, ở đời vui đạo hãy tùy duyên, người ở trong cuộc
đời thế tục mà luôn luôn vui với đạo thì phải khéo tùy duyên. Khéo là sao?
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền, khéo tùy duyên là như thế. Nhưng câu đó nhiều
người hiểu lầm lắm. Giới tu sĩ trẻ nghe nói thế thích lắm. Tu khỏe quá, có
gì nhọc nhằn đâu. Đói ăn, mệt ngủ, thật sướng. Có một Thiền sư tu ở trên
núi, khi gặp người hỏi Hoà thượng tu hành thế nào, Ngài đáp "đói ăn, mệt
ngủ". Vị cư sĩ ấy nói đói ăn, mệt ngủ thì dễ quá, tôi cũng đói ăn, mệt
ngủ, vậy Hoà thượng có gì hơn tôi đâu? Ngài đáp: Nói đói ăn, mệt ngủ nhưng
người đời đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ.
Chúng ta có như vậy không? Như hôm nào đi làm về có cơm nóng, canh nóng
đàng hoàng thì ngồi ăn vui. Hôm nào về mệt mà gặp cơm nguội, thức ăn nguội
nữa thì dằn mâm, xán chén một hồi rồi mới ăn. Đó là nói trường hợp nguội
lạnh, chưa kể những vị quen ăn ớt, ăn cay. Tới bữa ăn nếu gặp món hơi tanh
lại không có ớt thì sao? Phải chờ kiếm ớt rồi mới ăn. Như vậy đói có chịu
ăn đâu?
Rồi đến ngủ. Ngào nói người đời mệt mà không chịu ngủ lại suy nghĩ cả trăm
việc. Cứ nằm lăn qua lộn lại, nhớ chuyện năm trên, năm dưới hoài không
chịu ngủ. Như vậy mệt có chịu ngủ đâu? Đó là người đời đói không chịu ăn,
mệt không chịu ngủ. Mà đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ là chưa biết
tùy duyên. Tùy duyên là đói đến thì ăn, mệt đến thì ngủ, không có suy gẫm
gì cả. Nếu được tùy duyên thì ở trong đời mà vui với đạo. Người không khéo
tùy duyên sẽ thấy trong đời khó tu quá, chuyện này chuyện kia phiền hà.
Người khéo tu thấy không khó, việc gì đến thì tùy duyên, giải quyết liền,
không phải bận tâm lo lắng suy gẫm hay sợ sệt gì cả.
Hai câu ấy mới nghe dễ như trở bàn tay nhưng xét kỹ không phải dễ đâu. Đến
câu thứ ba, trong nhà có báu thôi tìm kiếm, mỗi người chúng ta đều có sẵn
hòn ngọc quý bên trong, đừng tìm kiếm đâu xa. Thường Phật tử chúng ta có
bệnh đi tìm Phật bên ngoài. Giả sử trên núi có hòn đá nào na ná tượng Phật
thì tìm đến lạy lê mê, hoặc có gò mối nào na ná giống hình người cũng hô
toáng lên là Phật, rồi áp nhau lạy. Tìm Phật như thế biết bao giờ mới gặp
Phật. Chúng ta tu, đừng bao giờ lệ thuộc những hình ảnh hư ảo đó, vì nó
chỉ là sự tưởng tượng. Tôi đã từng đi núi, cũng từng vô những hang động.
Trong hang có những cục đá na ná đức Quan Aâm thì người ta cho rằng đức
Quan Aâm hiện về rồi ráp nhau lạy. Thật ra đó là chỉ do sự tưởng tượng vậy
thôi, có thật đâu. Chính ông Phật ngay nơi mình lại không nhớ, không biết.
Khi sáu căn không dính sáu trần là Phật tánh hiển lộ rồi. Phật ngay nơi ta
lại không chịu tìm, cứ lo tìm trên núi trên non, trong hang trong động nên
suốt đời cứ chạy ngược chạy xuôi, rốt lại khổ vẫn hoàn khổ. Bởi vì chúng
ta đã quên mất của báu trong nhà thì tìm kiếm bên ngoài cách mấy cũng
không có được. Đó là một lầm lẫn lớn của hàng Phật tử chúng ta.
Câu chót, đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền, sáu căn đối với sáu trần không
có dính mắc. Không tâm tức là không có các niệm, không suy nghĩ dính mắc..
Đó là Thiền rồi. Chúng ta ngồi thiền một giờ, hai giờ thấy đau chân, chớ
còn tất cả giờ, những gì ở ngoài đến đều không dính, không mắc thì dễ quá.
Thấy hình sắc không dính hình sắc, nghe âm thanh không dính âm thanh v.v….
Đó là chúng ta đang tu Thiền, như vậy thảnh thơi biết mấy. Nhưng vì chúng
ta cứ thấy thì dính, nghe thì nhiễm nên bắt buộc phải ngồi thiền, xếp chân
ngó xuống cho bớt nghe, bớt thấy, gỡ lần lần như vậy. Nếu được đối cảnh vô
tâm thì khỏi ngồi, ở đâu cũng Thiền hết. Người biết tu thì mọi việc rất dễ
dàng, rất thuận lợi, còn không biết tu thì thấy khổ, thấy khó.
Có
nhiều vị tu rất đáng thương. Như nghe nói ăn chay là tu nên bắt đầu ăn
chay nhưng không đủ phương tiện thành ra xanh xao, khổ sở. Lại nghe người
ta quở ăn chay ốm quá, từ đó sanh buồn nhưng không dám bỏ ăn chay, sợ mất
công đức. Do ức chế như vậy nên ai nói động tới liền giận, ai chọc tới
liền phiền. Cứ giận phiền hoài thì ăn chay có lợi ích gì? Đó chỉ là giỏi
ăn chay thôi chớ không giỏi tu. Tu là đừng dính nhiễm, nghe khen chẳng vội
mừng, nghe chê không vội giận, thấy đẹp đừng ưa thích, thấy xấu đừng ghét
bỏ v.v… Tất cả sáu căn không dính nhiễm sáu trần, đó là tu kỹ, tu đúng,
Nếu còn dễ dính nhiễm thì chúng ta tu chưa đúng, chưa kỹ. Nhiều người vì
việc ăn chay của mình nên khi đến nhà ai, cầm đôi đũa ngửi hơi tanh liền
buông đũa lắc đầu. Đó là còn chấp hơn thiên hạ nữa.
Đạo Phật không đặt ăn chay là trên hết, như các sư Nguyên thủy đi khất
thực, Phật tử cho gì nhận nấy chớ đâu có chê khen: "Còn người tu kỹ quá,
đũa hơi hôi cũng chê. Đó là những điểm không khéo, chỉ chuộng về hình
thức, không phải tu ngay trong tâm tánh của mình. Tăng Ni chúng ta được
phúc duyên lớn, nên ngày nay biết thức tỉnh vào chùa tu, bỏ hết triền
phược của thế gian để cầu giải thoát. Vì vậy cần phải nắm cho vững, hiểu
cho thấu đáo lời dạy của Phật Tổ để ứng dụng vào đời tu của mình, như vậy
mới không uổng phí cuộc đời. Ngược lại, chúng ta tu để mà tu chớ không
biết gì hết thì chỉ uống một đời, không đi tới đâu cả.
Người xuất gia cần phải tu tiến mới có thể dạy cho hàng cư sĩ tu được. Nếu
người xuất gia tu không ra gì thì dạy Phật tử tu cũng không ra gì. Đó là
mối hoạ lớn. Mong rằng tất cả Tăng Ni hãy ý thức được điều đó, nỗ lực tu
hành, đủ tài đức mai kia dẫn dắt Phật tử đi đúng đường. Đó là biết lợi
mình, lợi người hay tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Có thế mới xứng
đáng dự vào hàng Thích tử của Như-Lai. |