|
PHẦN I: TRÍCH GIẢNG KINH A HÀM
1. Nhan sắc thù diệu:
Trong Tương
Ưng Bộ Kinh chép:
Một buổi
khuya, tại vườn Ông Cấp Cô Độc, khi đêm sắp tàn, với dung nhan thù thắng
một vị Thiên đến ra mắt Phật và thưa:
-Bạch Thế Tôn,
các vị Tỳ Kheo ngày chỉ ăn một bửa, do vì đâu mà dung nhan các Ngài thù
diệu như thế?
Thế Tôn nói
bài kệ đáp:
Không than việc đã qua
Không mong việc sắp đến
Sống ngay với hiện tại
Do
vậy, sắc thù diệu.
Do
mong việc sắp đến
Do
than việc đã qua
Kẻ
ngu thân héo mòn
Như lau xanh rời cành!
BÌNH:
Thế gian sở dĩ
mau già trước tuổi là có gì lạ đâu, bởi lo nghĩ qua nhiều phải không?
Những việc đã qua không chịu để cho qua đi, cứ ghi nhớ mãi rồi than thở
nuối tiếc... Những việc chưa đến lại cứ mong mỏi đợi chờ hồi hộp lo âu...
Người ta cứ sống mãi với những bóng dáng viễn vông mà quên mất những gì
hiện có. Quả thật chúng ta lâu nay chỉ sống với cái đã chết, cái mộng mị,
mà chưa từng biết sống thực, trách gì thân chưa bao nhiêu tuổi mà đầu đã
bạc! Cho nên hình ảnh đáng thương nhất, đức Phật đã diễn tả: Như lau xanh
rời cành, đáng lẽ lá vàng mới rụng khỏi cành, đó là đúng thời tiếc. Còn
đây tức là chín háp, già háp, như lá lau còn xanh tươi mà phải rụng đi,
thật có đáng buồn chăng? Cho nên bậc Tỳ Kheo hiểu được đạo lý sống rất
nhàn. Việc qua rồi không bận lòng nhớ đến, việc sắp tới cũng chẳng để tâm
đợi chờ, hiện tại tùy duyên sống, thì tuy ở trong sóng gió cuộc đời mà vẫn
thường an ổn, nhan sắc tươi trẻ, lâu già, tinh thần trong sáng. Chúng ta
thấy, rất là Thiền khỏi phải tìm đâu xa!
“Ngày nay chỉ biết ngày nay
Còn xuân thu trước ai hay làm gì !”
Tóm lại, người
hiểu đạo khác với người thế gian là ở chỗ: Thế gian thì quên hiện tại mà
sống với những chuyện đâu đâu, trái lại, người hiểu đạo sống ngay với cái
hiện có, không nghĩ ngợi vu vơ. Hãy quán kỹ lại xem, thế gian này có gì
đáng nhớ? Có gì đáng mong?
2. Không hoan hỉ không sầu muộn
Trong Tương
Ưng Bộ Kinh chép:
Một thời Thế
Tôn ở tại Xá Vệ, rừng Kỳ Đà (Jetavana) vườn ông Cấp Cô Độc.
Rồi một vị
Thiên Tử tên là Kakudha, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói
sáng toàn vùng Jatavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng
một bên, bạch rằng:
-Thưa Sa Môn,
Ngài có hoan hỷ không?
-Ta được cái
gì, này hiền giả (mà ta hoan hỷ)?
-Nếu vậy, thưa
Sa Môn, có phải Ngài sầu muộn?
-Ta mòn mỏi
cái gì, này hiền giả (mà ta sầu muộn)?
-Vậy thời,
thưa Sa Môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
-Thật đúng
vậy, này hiền giả!
Thế Tôn liền
nói bài kệ:
Hoan hỷ chỉ có đến
Với người tâm sầu muộn
Sầu muộn chỉ có đến
Với người tâm hoan hỷ
Do
vậy, vị Tỳ Kheo
Không hoan hỷ sầu muộn
Vậy nên, này hiền giả
Ngươi phải biết như vậy.
BÌNH:
Hỏi hoan hỷ
hay sầu muộn là bởi trong lòng còn chứa cái niệm được mất. Vì nghĩ được
nên hoan hỷ, vì nghĩ mất nên sầu muộn. Nhưng có hoan hỷ là do đã từng sầu
muộn: Cái gì bị mất mát, khi được thì sanh tâm hoan hỷ. Trái lại, sầu
muộn là do đã có cái hoan hỷ: Cái đã được mà bị mất đi liền sầu muộn.
Thế gian chúng
ta cứ mãi sống lẫn quẩn trong vòng được mất nên hết hoan hỷ rồi sầu muộn,
hết sầu muộn đến hoan hỷ... như sóng chập chùng lên xuống không có ngày
dừng. Thế nên người hiểu đạo, thấy rõ hoan hỷ và sầu muộn chỉ là cặp đối
đãi nhau không thật thể, ngay đó tâm lặng lẽ như như. Mà lặng lẽ như như
tức là đạo chứ gì? Cho nên chúng ta có phảỉ nhọc nhằn tìm đạo đâu xa?
Chỗ này chúng
ta mới thấy Phật nói, Tổ nói không hai. Phật nói hoan hỷ là do tâm sầu
muộn, sầu muộn là do tâm hoan hỷ tức hai bên nhơn nhau mà có; lại bảo
không hoan hỷ sầu muộn là dứt cả hai đầu được mất. Tổ thì thường bảo, còn
thấy có hai là chưa thấy đạo; cho nên người hỏi đạo mà còn mắc kẹt hai bên
thì các Ngài liền đưa hai ngón tay.
Tóm lại, còn
có tâm được mất là còn có hoan hỷ sầu muộn, tức còn dao động. Trái lại,
không thấy có được mất tức không hoan hỷ sầu muộn, ngay đó là Đạo!
3. Chân nhân
Cũng trong
Tương Ưng Bộ Kinh, Phật nói có bốn hạng người:
1. Hạng người
thứ nhất: Không ai hỏi về cái tốt của mình mà cứ nói, huống là có hỏi.
2. Hạng người
thứ hai: Có ai hỏi đến cái tốt của người cũng chỉ nói bập bẹ, nói ngập
ngừng, huống là không hỏi (tức chẳng nói).
3. Hạng người
thứ ba: Không ai hỏi đến cái xấu của người mà cứ nói, huống là có hỏi.
4. Hạng người
thứ tư: Có ai hỏi đến cái xấu của mình thì che giấu, huống là không hỏi
(tức chẳng bao giờ nói).
BÌNH:
Thấy lỗi
người, che giấu lỗi mình, khoe khoang cái hay của mình và che dấu cái hay
của người là căn bệnh trầm kha của con người. Nó là bức tường kiên cố ngăn
cách đạo giải thoát. Vì nồng cốt của đạo Phật là “Vô Ngã”. Người muốn giải
thoát sanh tử phải phá tan ngã chấp. Nếu tâm chấp ngã còn nặng trĩu thì
không mong gì giải thoát được. Sở dĩ che giấu lỗi mình, vạch bày lỗi người
v.v...là gốc của si mê chấp ngã. Muốn dứt trừ bệnh si mê chấp ngã, điều
kiện trước tiên phải dẹp trừ tâm lỗi lầm “thấy lỗi người, che dấu lỗi
mình...”. Lục Tổ dạy: “Người đời nếu thật tu hành, đừng thấy lỗi thế gian.
Các việc muốn không ngại, thường phải thấy lỗi mình, như thế mới hợp với
đạo”.
Trên bước
đường tu tập của chúng ta, muốn khỏi bị chướng ngại thì phải xoay lại
chính mình, tự kiểm điểm từng tâm niệm để xét nét những lỗi lầm khi tâm
vừa dấy khởi. Nếu tu hành như vậy, chúng ta đâu có thì giờ rảnh rỗi để
nghỉ đến lỗi lầm của kẻ khác. Người dụng tâm như vậy tiến đạo không khó.
Phật gọi người này là “người chân thật” (chân nhân). Trái lại, người ôm
lòng chấp ngã, bươi móc lỗi người che dấu cái hay, cái tốt của kẻ khác,
chính là kẻ tà vạy, không phải người chân chính (giả đạo nhân).
Vậy chúng ta
nên đem những điều Phật dạy trên để làm cây thước đo lại lòng mình thuộc
“chân” hay “giả”.
4. Ba thứ trí tuệ
Trong Tương
Ưng Bộ Kinh, Phật nói có ba thứ trí tuệ:
1.
Trí tuệ lộn ngược.
2.
Trí tuệ bắp vế.
3.
Trí tuệ rộng lớn.
Thế nào là trí
tuệ lộn ngược?
-Có người đến
chùa, tinh xá nghe pháp, trong khi nghe không rõ biết, không phân biệt
được đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối. Ví như cái bình để dựng ngược lên dù
đổ bao nhiêu nước cũng chảy ra ngoài không chứa đựng được chút gì. Phật
nói người như thế gọi là trí tuệ lộn ngược.
Thế nào là trí
tuệ bắp vế?
-Có người đến
chùa đến tinh xá nghe pháp, cũng phân biệt biết rõ đoạn đầu, đoạn giữa,
đoạn cuối; nhưng khi đứng dậy liền quên hết. Ví như có người ngồi để bánh,
kẹo v.v... trên bắp vế, khi đứng dậy liền đổ hết. Âúy gọi là trí tuệ bắp
vế.
Thế nào là trí
tuệ rộng lớn?
-Những người
đến chùa, tinh xá, khi nghe pháp hiểu biết, phân biệt rõ ràng đoạn đầu,
đoạn giữa, đoạn cuối. Khi đi cũng nhớ biết và phân biệt rõ đoạn đầu, đoạn
giữa và đoạn cuối. Phật nói ví như cái bình để dựng đứng, khi đổ nước vào
tức chứa đựng lại, ấy gọi là trí tuệ rộng lớn.
BÌNH:
Chúng ta thử
kiểm điểm lại mình xem là thuộc loại trí tuệ nào:
Là Phật tử đi
chùa nghe pháp, chúng ta phải cố gắng nhận hiểu rõ ràng những nghĩa lý
Phật dạy, hoặc chư Tổ nói mà chư Tăng đã thuyết giảng để rồi sau khi ra về
nhớ đó mà thực hành theo. Như vậy chúng ta mới có lợi ích, xứng đáng là
người Phật tử biết đi chùa nghe pháp. Nếu đã đến chùa, lại về không thì
chúng ta thiếu sót biết mấy, phí bao nhiêu thì giờ quý báu. Cho nên chúng
ta phải học trí tuệ rộng lớn, chớ không để trở thành trí tuệ lộn ngược hay
trí tuệ bắp vế là điều đáng hổ thẹn!
Tiến lên một
tầng, chúng ta có thể dùng cả ba loại trí tuệ trên. Nhưng dùng như thế
nào?
1/ Chúng ta
đến chùa nghe pháp mỗi lời, mỗi câu đều xoay trở về bản tâm của mình, chớ
không ghi câu, ghi lời hay lấy cái hiểu của Thầy làm cái hiểu của mình.
Khi đã nhận rõ sự thật nơi chính mình tức thì những điều thấy nghe từ
trước đều rỗng suốt. Cũng như cái bình lủng đáy để dựng ngược, khi đổ nước
ở đáy bình thì chảy suốt qua miệng bình rồi ra ngoài, không giữ lại cái gì
trong ấy, tuy nhiên bụi bặm trong đó đã bị tẩy rửa. Đó gọi là trí tuệ lộn
ngược.
2/ Chúng ta
khi cần phương tiện nghe pháp cũng phân biệt rành rẽ đoạn đầu, đoạn giữa,
đoạn cuối, hiểu rõ từng câu văn, song khi không cần liền buông hết chẳng
luyến tiếc. Như khi ngồi ăn thì tạm để đồ ăn trên bắp vế đến khi đứng dậy
liền bỏ rơi hết. Đó gọi là trí tuệ bắp vế.
3/ Chúng ta
đến chùa nghe pháp, mỗi mỗi phân biệt hiểu biết rành rẽ nhưng không chấp
lấy một điểm sở đắc, khi đi cũng phân biệt nhớ biết rõ ràng mà chính mình
cũng không một điểm. Ví như cái bình lủng đáy để dựng đứng. Khi đổ nước
vào miệng bình thì chảy suốt tận đáy rồi ra ngoài, tẩy sạch bao nhiêu bụi
bặm mà không giữ lại cái gì trong ấy. Đấy là trí tuệ rộng lớn không bờ mé,
chúng ta không thể quên.
Như vậy, ba
thứ trí tuệ Phật đã nói, chúng ta có thể nói xuôi mà cũng có thể dùng
ngược. Nói xuôi thì trí tuệ rộng lớn nên học, trí tuệ lộn ngược và trí tuệ
bắp vế chớ theo. Dùng ngược thì cả ba đều thông, đồng một thể giác. Mỗi
người hãy tự xét lấy mà dùng cho xứng đáng là người con Phật.
5. Chọn bạn
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật dạy:
Người muốn
chọn bạn lành, phải chọn những người có đủ ba điều khó có thể làm. Tức là:
-Dám cho những
cái khó cho.
-Dám làm những
việc khó làm.
-Kham nhẫn
những việc khó nhẫn.
BÌNH:
Đây là Phật
nêu ra ba nguyên tắc để chúng ta chọn bạn. Thông thường ở thế gian kết
bạn, hay theo tình cảm cá nhân hoặc đoàn thể: Người làm thợ thích chọn
bạn làm thợ, kẻ công chức thích kết bạn với người làm công chức, người
thích văn nghệ thích chơi với người biết văn nghệ, kẻ rượu chè thường kết
bạn rượu chè hoặc lựa người cùng một đoàn thể cùng một tổ chức v.v... mà
kết bạn với nhau.
Ở đây Phật dạy
kỹ hơn, Ngài bảo: Người mà muốn kết nghĩa bạn thân phải chọn những người
có những đức tánh như sau:
1/ Dám cho
những cái khó cho, tức là người rộng rãi, bao dung không keo kiệt, sẵn
sàng hy sinh cho bạn chẳng tiếc của cải khi thấy bạn cần.
2/ Dám làm
những việc khó làm, tức là người có ý chí, có lập trường vững chắc, khi ra
làm một việc gì quyết làm cho kỳ được, dù gặp khó khăn thế mấy cũng không
nãn lòng, chùng bước.
3/ Kham nhẫn
những điều khó kham nhẫn, tức người có nghị lực mạnh, dù gặp những câu nói
trái tai, những lời vô lý nhưng vẫn an nhiên bình tỉnh giữ thái độ hòa dịu
trước mọi người không tranh hơn thua.
Người có đủ ba
đức tánh trên, ta nên gần gũi họ nhất định sẽ được lợi ích lớn trong hiện
tại và mai sau. Tổ Qui Sơn bảo: “Người gần gũi bạn lành như đi trong sương
mù, tuy không thấy ướt áo, nhưng nó sẽ thấm dần” (Thân cận thiện hữu như
vụ lộ trung hành. Tuy bất thấp y thời thời hữu nhuận).
6. Biết xả
Cũng trong
Tăng Chi Bộ Kinh, Phật dạy có ba hạng người:
-Hạng người
như chữ khắc trên đá.
-Hạng người
như chữ viết trên đất.
-Hạng người
như chữ viết trên nước.
BÌNH:
Đây là nói về
người biết xả hay không biết xả. Xả là buông bỏ. Người biết buông bỏ thì
đối trước một việc gì thấy có tổn hại thân tâm liền buông bỏ không chấp
giữ. Chẳng hạn khi gặp người nói trái tai, biết rõ lời nói không thật liền
thông qua không cố chấp tức thì tâm tự nhiên mát mẻ. Nếu cứ khắc khoải
trong lòng tất không khỏi phiền hận, từ đó có đấu tranh và đau khổ! Ví như
chữ viết trên nước đâu thành chữ? Trái lại viết trên đất, chữ ắt thành,
còn khắc vào đá thì còn nguy hại to. Cũng vậy, buông xả thì phiền não
không thành, chấp thủ nhẹ thì ray rứt trong lòng, nặng thì phát ra hành
động, hoặc nhẹ thì khổ trong đời này, nặng thì khổ trong nhiều đời sau
nữa.
Vậy chúng ta
phải tập giống như chữ viết trên nước, dù viết bao nhiêu cũng không thành
chữ, đó là chúng ta sống an vui đời này và đời sau...
7. Biết pháp
Cũng trong
Tương Ưng Bộ Kinh, Phật dạy:
Có ba hạng
người biết pháp:
1/ Biết vị
ngọt.
2/ Biết nguy
hại.
3/ Biết xuất
ly.
Thế nào là
biết vị ngọt?
-Tức ám chỉ
người si mê chạy theo sáu trần sanh tâm tham ái nhiễm trước, đắm chìm
trong ngũ dục.
Thế nào là
biết nguy hại?
-Tức là biết
rõ sự vật là vô thường biến diệt, là pháp đưa đến khổ đau và bất hạnh.
Thế nào là
biết xuất ly?
-Tức là biết
rõ các pháp vô thường biến hoại đưa đến khổ đau không phải pháp chân thật
an lạc, nên cầu xuất ly ra khỏi sanh tử luân hồi.
BÌNH:
Ở đây Phật nêu
ra cho chúng ta thấy hạng người khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần là bị
triền phược hay giải thoát.
Người mà không
biết vị ngọt, không biết nguy hại, không biết xuất ly tức bị triền phược
không thể giải thoát. Ví như khi ăn thức ăn ngon, chỉ một bề chạy theo mùi
vị, tham cầu không thỏa mãn đó là người không biết vị ngọt, không biết
nguy hại, không biết xuất ly.
Trái lại khi
ăn thức ăn ngon, biết đây là pháp đắm nhiễm là biết vị ngọt, biết đây là
pháp đưa đến khổ đau là biết nguy hại, biết đây là pháp không chân thật an
lạc phải nên xa lìa, là biết xuất ly. Người mà đủ ba điều như thế tức sáu
trần không thể nhiễm. Ngay đó giải thoát khổ đau.
8. Cô dâu mới về nhà chồng
Cũng trong
Tương Ưng Bộ Kinh, Phật nói:
Cô dâu mới về
nhà chồng thấy chồng cũng hổ thẹn, thấy cha chồng, mẹ chồng, em chồng, cô
bác bên chồng v.v... đều hổ thẹn rụt rè. Ở thời gian lâu hơi quen thuộc,
nếu có ai hỏi gì thì nói: “Đi! Đi! Ông có hiểu biết gì!”.
Cũng vậy, vị
Tỳ Kheo mới xuất gia ở chùa hay tinh xá, thấy Trưởng Lão, Thượng Tọa, Hạ
Tọa A Xà Lê v.v.., thấy ai cũng hổ thẹn ngỡ ngàng. Ở thời gian lâu khi
quen thuộc, nếu có Thượng Tọa, A Xà Lê hỏi liền nói: “Đi! Đi! Ông có hiểu
biết gì!”.
Phật bảo:
-Này các Tỳ
Kheo! Các ngươi phải sống như cô dâu mới về nhà chồng.
BÌNH:
Khiêm nhượng
và biết hổ thẹn là đức tiïnh với người vào đạo, vì thế Phật dạy người xuất
gia phải lấy hạnh tôn kính làm đầu. Nếu vào đạo mà ôm lòng tự đắc ngã mạn
cống cao là đi ngược với tinh thần đạo đức. Ngài Pháp Đạt đến lễ bái Lục
Tổ mà đầu không sát đất. Tổ hỏi: “Ông mang sự nghiệp gì đến lễ ta mà đầu
không sát đất?”. Pháp Đạt thưa: “Bình thường con tụng ba ngàn bộ Pháp
Hoa”. Tổ bảo: “Dù ông tụng muôn bộ mà không dẹp tâm ngã mạn chỉ là nuôi
lớn nhân sinh tử mà thôi!”.
Do đó, chúng
ta thấy tâm ngã mạn là điều rất nguy hại làm chướng ngăn thánh đạo. Bởi ôm
lòng ngã mạn nên không cung kính bậc trên để học hỏi đạo lý. Cũng bởi ôm
lòng ngã mạn nên không được người chỉ bảo lỗi lầm để ăn năn sám hối. Đâu
chẳng nghe Tổ Qui Sơn quở: “Chẳng kính bậc Thượng Tọa, Trung Tọa, Hạ Tọa
tụ hội thì không khác nhóm Bà La Môn!”.
Đây là đạo lý
muôn đời mà một người cầu tiến không thể bỏ qua.
9. Quả báo không cố định
Trong Tương
Ưng Bộ Kinh chép:
Một hôm có vị
Bà La Môn đến hỏi Phật:
-Thưa Cù Đàm,
có phải người tạo nhân thế nào phải cảm thọ quả báo thế ấy chăng?
Phật nói:
-Không hẳn như
thế! Tại sao? Vì khi tạo nhân và cảm thọ quả báo “dị thục” có sai khác. Ví
như có người làm ác nhỏ mà thân phải bị đọa địa ngục chịu nhiều điều thống
khổ. Cũng có người làm ác như vậy, nhưng họ không đọa địa ngục mà chỉ cảm
thọ quả báo khổ chút ít, hoặc thấy hoặc không thấy, tại sao? Vì người ấy
biết tu thân, tu giới, tu tâm, tu huệ, tâm niệm rộng lớn nên quả báo có
sai khác.
Ví như có
người dùng một nắm muối bỏ vào tô nước thì tô nước sẽ mặn không uống được.
Trái lại đem nắm muối ấy bỏ vào sông Hằng thì nước đâu có mặn.
Lại có người
thiếu nợ 100 tiền, chủ nợ đến đòi người ấy, người ấy nghèo không thể trả
nên ở tù. Trái lại cũng món nợ ấy, nếu là một phú gia thì đâu có ở tù.
Lại có người
ăn trộm dê, bị chủ dê bắt giết chết, vì người ấy nghèo. Trái lại một vị
quan hoặc vua đến bắt dê thì đâu có bị bắt giết chết.
Thế nên, ta
nói tạo nhân và cảm thọ, quả dị thục cũng như thế.
BÌNH:
Qua những điều
dẫn dụ trên, chúng ta thấy lý nhân quả của Phật dạy không cố định một
chiều mà chuyễn biến linh động. Như trái xoài, khi mới sinh trái nhỏ màu
xanh vị chua, lớn lên màu vàng vị ngọt (nếu chín). Sự biến đổi của nó từng
tích tắc, trong Duy Thức học gọi là “Dị Thục Quả” (kết quả thuần thục sẽ
đổi khác). Đây là luật biến hóa chung của vũ trụ và con người. Nhờ có sự
chuyễn biến, sự vật mới trở thành thế này hay thế khác. Một thửa ruộng
hoang, nếu nhà nông phu biết gieo trồng, nó sẽ biến thành một khu đất hoa
màu sung túc. Một cậu bé khi còn nhỏ ngu si dốt nát, nếu cha mẹ khéo dạy
bảo, cho học hành, cậu bé sẽ trở thành khôn ngoan biết chữ. Một người tánh
tình gian xảo trộm cắp, nếu gia đình biết giáo dục theo con đường lành,
người ấy lần lần sẽ bỏ tánh trộm cắp mà trở thành người lương thiện v.v...
Từ nhân đến
quả có chuyễn biến nhiệm mầu như thế, nên nó mới làm cho con người và sự
vật tiến bộ hoặc thoái hóa. Một con người khi mới sinh ra dù là kẻ mang
nhiều nghiệp dữ, tạo các điều bất thiện, nhưng nếu họ biết hướng thiện trở
về con đường lành, biết tu thiện, tu giới, tu tâm, tu huệ thì tâm niệm độc
ác trước kia sẽ lần lần dứt sạch, tâm niệm rộng lớn phát sanh. Trái lại
người có nhiều tâm lành nhưng không khéo tạo điều kiện cho nó tăng trưởng
thì vẫn bị lui sụt sa đọa.
Do lẽ đó,
người muốn an lạc hiện tại và về sau tức phải cố gắng nuôi dưỡng và bồi bổ
nhân tốt, gần bạn lành tu tập hạnh tốt, cải thiện đời sống ngày càng tiến
lên theo chiều thiện, chuyễn lần từ tâm niệm phàm phu ngu mê đen tối, trở
thành bậc giác ngộ thanh tịnh.
Thế nên nếu
bảo làm nhân gì phải thọ quả ấy tức nhân quả trở thành cố định và thế gian
không ai tu được. Ác cố định là ác, thiện cố định là thiện thì còn tu nỗi
gì? Nó đã như thế dù có tu hay không tu cũng chẳng thêm bớt được, vô tình
đưa người ta vào con đường đen tối hết hy vọng cải thiện.
Do vậy, người
Phật tử chúng ta phải nhận định cho thật kỹ lý nhân quả, không thì dễ lầm
lẫn mà khó bề tu tiến.
10. Hiếu thảo
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật dạy:
Người nào biết
kính thờ cha mẹ như kính thờ Phạm Thiên và như kính thờ bậc Đạo Sư, người
ấy hiện đời có phước lớn, sau khi chết sanh về cõi Trời.
Phật nói kệ:
Cha mẹ gọi Phạm Thiên
Bậc Đạo Sư hiện đời
Xứng đáng được cúng dường
Vì
thương đến con cháu
Do
vậy bậc hiền triết
Kính lễ và tôn trọng
Dâng đồ ăn đồ uống
Vải mặc và giường nằm
Xoa bóp khắp thân thể
Tắm rửa cả chân tay
Do
sở hành như vậy
Đối với cha và mẹ
Đời này người hiền khen
Đời sau hưởng thiên lạc.
BÌNH:
Trong Kinh,
Phật dạy ở thế gian có hai hạng người đáng tôn quý:
1/ Hạng người
biết ơn.
2/ Hạng người
đền ơn.
Biết ơn là
biết xét nét công lao khó nhọc của người ban ơn cho mình, dù là một việc
rất nhỏ. Đền ơn là đền bù lại công khó nhọc trên cho cân xứng mặc dù người
ban ơn không đòi đền trả, người như thế mới là người đáng tôn quý.
Trong tất cả
công ơn, ơn cha mẹ là rất lớn, vì cha mẹ là người đã tạo nên thân ta và
bảo dưỡng cho vuông tròn. Dù chúng ta có lấy mực bằng biển cả cũng không
thể tả hết ơn ấy. Thế nên Phật nói: “Cúng cha mẹ là cúng dường Phạm Thiên,
cúng dường bậc Đạo Sư hiện đời”. Vậy, người đối với bậc sinh thành ra
mình, không tôn kính và chẳng ngó ngàng gì tới, thử hỏi trong xã hội có
đáng quý hay không? Do đó Phật nói chỉ có bậc hiền triết mới có thể làm
được các việc hiếu thuận. Nghĩa là người biết hiếu dưỡng cha mẹ, thờ kính
song thân phải là người hiếu mới làm được. Vì thế, người Phật tử tại gia
muốn trở thành một Phật tử chân chánh phải lấy hạnh hiếu thảo làm đầu, khi
làm xong bổn phận của người con đối với cha mẹ, chừng ấy, chúng ta mới
nghĩ đến vấn đề tu giải thoát.
11. Việc chưa từng có
Cũng trong
Tăng Chi Bộ, Phật dạy:
Ngài A Nan có
bốn việc chưa từng có:
1. Khi Ngài A
Nan thuyết pháp chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni nghe đều hoan hỷ phấn khởi.
2. Khi Ngài A
Nan im lặng không thuyết pháp thời chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni đều buồn bã.
3. Khi Ngài A
Nan thuyết Pháp, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ đều vui vẻ phấn khởi.
4. Khi Ngài A
Nan im lặng thời Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ đều buồn bã.
BÌNH:
Trong hàng đệ
tử lớn của Phật, mỗi vị đều có mỗi hạnh thù thắng như sau:
-Ngài Xá Lợi
Phất trí tuệ đệ nhất.
-Ngài A Nan đa
văn đệ nhất.
-Ngài Ưu Ba Ly
trì luật đệ nhất.
-Ngài Ca Diếp
đầu đà đệ nhất.
-Ngài Mục Kiều
Liên thần thông đệ nhất.
-Ngài A Na
Luật thiên nhãn đệ nhất...
Riêng Ngài A
Nan ngoài việc học rộng nghe nhiều (đa văn), Ngài còn có bốn việc chưa
từng có như Phật đã kể trên. Sở dĩ các Ngài có những diệu dụng nhiệm mầu
không thể lường được, đều do đã trải qua nhiều kiếp tích lũy công đức, tu
tập các pháp lành, bòn mót từng công đức nhỏ, nên nay mới được kết quả như
thế. Đọc lịch sử chúng ta vẫn còn nhớ đức Thế Tôn khi còn tại thế, có một
lần Ngài xỏ kim hộ cho Ngài A Na Luật và Ngài đến giặt giũ cho các Tỳ Kheo
già bệnh. Điều này để chứng minh Ngài không bỏ qua một hạnh lành nhỏ nào,
nhờ đó mà người đời mới tôn xưng Ngài là đấng “Lưỡng túc tôn” (phước túc,
huệ túc).
12. Mây mưa
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật có một thí dụ:
Ví như trong
hư không bỗng có đám mây, có sấm nhưng không mưa.
Cũng trên hư
không có mây, không sấm có mưa.
Lại có khi
hiện có mây, có sấm có mưa.
Có khi hiện
không mây, không sấm không mưa.
Phật hợp pháp:
-Hiện có mây
có sấm không mưa, là dụ cho người nói được không làm được.
-Hiện có mây
không sấm có mưa, dụ cho người không nói được mà làm được.
-Hiện có mây
có sấm có mưa, dụ cho người nói được làm được.
-Hiện không
mây không sấm không mưa, dụ cho người không nói được cũng không làm được.
Trong hàng Sa
Môn cũng có bốn:
1. Người có
học giáo lý, đọc tụng giới nhưng không thực hành.
2. Người không
thuộc giáo lý nhưng đối với pháp Tứ Đế biết Khổ như thật, biết Tập như
thật.v.v...
3. Người đối
kinh điển thông suốt, thực hành chân thật.
4. Người không
thông suốt kinh điển cũng không thực hành.
BÌNH:
Bài kinh này
Phật nêu lên bốn hạng người trong giới xuất gia của Ngài để chúng ta xét
lại coi mình thuộc hạng nào.
Nếu thuộc hạng
người thứ nhất, thì chỉ có học suông vô bổ, như nói thức ăn mà bụng vẫn
đói.
Hạng người thứ
hai tuy không thuộc giáo lý nhưng gắng thực hành theo lời Phật dạy, mặc dù
không quán triệt được giáo lý nhưng về mặc tự tu, tự độ họ vẫn có phần.
Hạng người thứ
ba là hạng người ưu việt nhất, họ thông thuộc giáo lý lại thực hành theo
lời Phật dạy, người này đủ điều kiện tự độ và độ tha, tự giác giác tha.
Hạng người rốt
sau là hạng người vô phước nhất, đã không thông hiểu kinh điển lại không
thực hành. Họ như chiếc xuồng lủng đáy, đẩy xuống nước liền chìm, người
này không dự được một chút phần trong Phật pháp.
Vậy chúng ta
hãy học theo hạng người thứ ba vừa thông suốt kinh điển, vừa thực hành
chơn thật, như thế mới xứng đáng bậc phước điền của Nhân Thiên.
13. Bốn thứ ánh sáng
Cũng trong
Tăng Chi Bộ Kinh, Phật nói:
Có bốn thứ ánh
sáng. Thế nào là bốn?
1. Ánh sáng
mặt trời.
2. Ánh sáng
mặt trăng.
3. Ánh sáng
của lửa.
4. Ánh sáng
của trí tuệ.
Phật kết luận:
Trong bốn thứ ánh sáng, chỉ có ánh sáng của trí tuệ là tối thượng.
BÌNH:
Đọc qua bốn
thứ ánh sáng Phật nói trên, chúng ta hồi tưởng lại truyền sử. Sơ Tổ Bồ Đề
Đạt Ma khi còn làm Thái tử, con thứ ba của vua Hương Chí, qua cuộc thí
nghiệm bảo châu của Tổ Bát Nhã Đa La có điểm tương đồng.
Tổ Bát Nhã Đa
La đưa viên minh châu hỏi ba vị Vương Tử:
-Hạt châu này
tròn sáng, có hạt châu nào sánh kịp không?
Vị Vương Tử
thứ nhất và thứ hai đều đáp:
-Hạt châu này
bằng bảy báu quí nhất trong đời, không có vật báu nào sánh kịp.
Vị Vương Tử
thứ ba (tức Bồ Đề Đạt Ma) thưa:
-Đây là “của
báu” thế gian chưa đủ làm trên, đối trong các thứ báu chỉ có “Pháp bảo” là
trên hết. Và ánh sáng của hạt châu này là ánh sáng trong thế gian, chưa đủ
làm trên, trong các ánh sáng chỉ có “trí sáng” là trên hết. Lại nữa tác
dụng chiếu soi của hạt châu này là chiếu soi trong thế gian, chưa đủ làm
trên, trong các sự chiếu soi chỉ có “Tâm chiếu soi” là trên hết. Hạt châu
này mặc dù nó sẵn có tánh sáng suốt chiếu soi, nhưng nó không thể tự chiếu
mà phải nhờ “trí sáng” soi mới biết hạt châu này là báu.
Qua hai lối
nhìn trên, chúng ta thấy ý Phật và ý Tổ đều không khác, chỉ lấy “trí tuệ”
làm trên.
14. Chứng ngộ
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật có chia ra làm bốn thứ chứng ngộ. Thế nào là bốn?
1. Thân: Khi
tu đạt đến quả cứu cánh sẽ chứng được “Bát giải thoát”.
2. Niệm: Khi
tu đến cứu cánh sẽ chứng được “Túc mạng minh”.
3. Mắt: Khi tu
đến cứu cánh sẽ chứng “Thiên nhãn minh”.
4. Trí tuệ:
Khi tu đến cứu cánh sẽ chứng “Lậu tận minh”.
BÌNH:
Bài kinh này
Phật nói về quả tu chứng của hàng Nhị thừa do tu Tứ Thiền, Tứ Không mà
được, khác hơn sự tu chứng của Thiền Tông. Pháp tu này do định lực cạn sâu
mà có kết quả sai khác. Xin giải thích bốn thứ chứng ngộ Phật nói trên:
Hành giả khi
đạt được “Tứ Thiền, Tứ Không” sẽ có những diệu dụng:
1. Thân: Đạt
đến quả Bát giải thoát cũng gọi là “Bát bối xả”. Nghĩa là tám pháp thiền
định có công năng xa lìa tất cả phiền não, được giải thoát những triền
phược trong ba cõi, tức là thân được giải thoát.
2. Niệm: Chứng
được Túc Mạng Minh, biết được những việc sống chết của mình và của tất cả
chúng sinh trong những kiếp trước, tức là niệm không ngăn ngại.
3. Mắt: Chứng
được Thiên Nhãn Minh, biết được sự sống chết của mình và của tất cả chúng
sinh chết đây sinh kia, làm nhân gì phải thọ quả gì v.v... tức mắt thấy
thông suốt.
4. Trí tuệ:
Chứng Lậu Tận Minh, biết được những khổ hiện tại, dùng trí huệ dứt sạch
phiền não, không còn rơi trở lại, tức trí tuệ thành tựu.
Đây là bước
thang cao tột trên bước đường tu chứng của hàng Nhị Thừa vậy.
15. Biết Phật pháp có khác
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật nói: Người tu tập cũng cùng một quả vị, nhưng nếu biết Phật
pháp thì kết quả có khác.
-Người tu tập
sau khi chứng Sơ Thiền, lúc tịch sanh lên cõi “Phạm Thiên”. Trường hợp tu
theo ngoại đạo hưởng hết phước, người ấy sẽ đọa xuống làm người. Nếu thông
hiểu Phật pháp họ tu thêm sẽ chứng Niết Bàn.
-Người tu tập
sau khi chứng Nhị Thiền, lúc tịch sanh lên cõi trời “Thiểu Quang Thiên”.
Trường hợp tu theo ngoại đạo, hưởng hết phước, người ấy sẽ đọa xuống làm
người. Nếu thông hiểu Phật pháp họ tu thêm sẽ chứng Niết Bàn.
-Người tu tập
sau khi chứng Tam Thiền, lúc tịch sanh lên cõi “Biến Tịnh Thiên”. Trường
hợp tu theo ngoại đạo, khi hưởng hết phước, sẽ đọa xuống làm người. Nếu
thông hiểu Phật pháp họ tu thêm sẽ chứng Niết Bàn.
-Người tu tập
sau khi chứng Tứ Thiền, lúc tịch sanh lên cõi “Quảng Quả Thiên” (cũng gọi
là Sắc Cứu Cánh Thiên). Trường hợp tu theo ngoại đạo hưởng hết phước, sẽ
đọa xuống làm người. Nếu thông hiểu Phật pháp họ tu thêm sẽ chứng Niết
Bàn.
BÌNH:
Bài Kinh trên
cho chúng ta thấy tuy tu đồng một nhân mà kết quả có khác. Bởi vì ngoại
đạo không hiểu chân thật, chấp nhận tự ngã là tu tập, mong cầu có chỗ thọ
sanh. Trái lại người tu Phật quán lý Tứ Đế thấy rõ ba cõi chưa thoát luân
hồi, nhưng công phu nữa chừng, thọ mạng đã hết nên sanh cõi Trời. Tuy
nhiên gặp duyên nhắc lại liền nhớ tu thêm mà chứng Niết Bàn. Chẳng hạn
nghe vị Thiên Tử nói pháp hoặc Bồ Tát hoặc người đồng tu khi trước, hóa
sanh lên nhắc nhở. Phật có ví dụ như người biết đánh trống khi đi đâu chợt
nghe tiếng trống liền hiểu rõ từng nhịp điệu và thuộc loại gì.
Lại như có hai
đứa bé cùng chơi giỡn với nhau thuở nhỏ. Thời gian lớn lên mỗi người mỗi
nơi, khi gặp nhau liền nhắc lúc trước đã từng chơi giỡn như vậy như vậy,
tức thì liền nhớ biết ngày xưa đã cùng chơi giỡn những trò chơi như thế
với nhau.
Cũng vậy,
chúng ta đã có tu tập nhân Phật pháp mà chưa viên mãn, thì khi khác nếu
gặp duyên nhắc lại liền nhớ không mất (nếu có công phu mạnh). Vì thế chúng
ta chớ băn khoăn lỡ tu tập giữa chừng rồi bỏ thân mạng thì không biết sẽ
ra sao, có còn nhớ để tu tiếp hay không. Điều cần yếu là chúng ta có công
phu thiết thực và thẳng tiến thì dù kiếp này chưa xong, kiếp sau tu tiếp
cũng chẳng mất. Chỉ trừ kẻ buông lung ngồi không chờ đợi thì không bảo
đảm.
16. Một chiến sĩ giỏi
Trong Tăng Bộ
Kinh, Phật nói:
Ví như một
chiến sĩ giỏi phải đủ bốn điều kiện sau đây:
1. Bắn giỏi.
2. Nhắm xa.
3. Chớp
nhoáng.
4. Có sức
mạnh đâm thủng khối lớn.
Cũng thế Thầy
Tỳ Kheo phải đủ bốn điều kiện như sau:
1. Bắn giỏi:
Nghĩa là giữ gìn giới cấm, đối với giới bổn thông thuộc gìn giữ nghiêm
chỉnh .
2. Nhắm xa:
Nghĩa là đối với sắc uẩn biết rõ không phải là ta, của ta và tự ngã của
ta. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
3. Chớp
nhoáng: Nghĩa là thấy rõ pháp Tứ Đế, thông suốt pháp Tứ Đế, và chứng nhập
pháp Tứ Đế.
4. Có sức mạnh
đâm thủng khối lớn: Nghĩa là đâm thủng khối vô minh.
Được vậy mới
đáng được tôn trọng cung kính cúng dường, là phước điền của tất cả chúng
sanh.
BÌNH:
Bài kinh này
Phật nêu ra bốn điều kiện của một chiến sĩ giỏi, để so sánh với bốn điều
kiện của một vị Tỳ Kheo chân chánh. Phàm là một chiến sĩ giỏi phải có tài
thiện xạ, nghĩa là bắn giỏi, bắn xa, lanh lẹ và có đủ sức mạnh vững chắc.
Cũng thế, là một tu sĩ (Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni), phải có thiện xảo đối với
Phật pháp. Thiện xảo ở đây Phật dạy:
Trước tiên
phải thông hiểu giới luật và giữ gìn giới cấm nghiêm chỉnh. Bởi giới luật
là hàng rào để ngăn giặc phiền não không cho phát sanh, nhờ đó các hạnh
lành được tăng trưởng.
Thứ hai là
phải thấy rõ “ngũ uẩn” không thật thể, không phải là ta, của ta và tự ngã
của ta, mà do nhiều nhân duyên hòa hợp tạm có. Do đó mà ta không còn chấp
thân và ái trước vật sở hữu của thân. Nhờ không còn luyến ái và chấp trước
nên phiền não lần lần nhẹ mỏng.
Thứ ba là đối
với pháp “Tứ Đế” phải thấy rõ, biết rõ và chứng được rốt ráo. Nghĩa là đối
với Phật pháp (Chân đế) và thế gian pháp (Tục đế) chúng ta chứng ngộ một
cách cùng tột viên mãn.
Cuối cùng là
phải dứt sạch vô minh, phá tan màn si mê đen tối che phủ trí tuệ của chúng
ta trong nhiều kiếp, như người tráng sĩ dùng sức mạnh phá vỡ bức thành
kiên cố. Bấy giờ trí tuệ chúng ta được tròn đầy chiếu khắp cả mười phương.
Như vậy hai
điểm trước là dứt phiền não, hai điểm sau là thành tựu trí tuệ.
Được như thế
mới đáng là bậc thầy của trời người và đáng cho mọi người tôn trọng cung
kính cúng dường, để làm ruộng phước cho chúng sanh.
17. Ngựa của vua
Trong Tăng Chi
Bộ Kinh, Phật nói:
Con ngựa quý
của vua phải đủ bốn điều kiện:
1.
Đẹp.
2.
Sức mạnh.
3.
Tốc độ nhanh.
4.
Thân thể cân đối.
Cũng vậy, Thầy
Tỳ Kheo chân chánh cũng có bốn việc:
1.
Đẹp: Nghĩa là giữ giới hạnh trang nghiêm.
2.
Sức mạnh: Là diệt trừ các pháp ác, thực hành tất cả pháp lành.
3.
Tốc độ: Thấy rõ pháp “Tứ Đế”
4.
Cân đối: Khi nhận của cúng dường biết điều hòa và vừa đủ.
BÌNH:
Bài kinh này
Phật nói những điều kiện để trở thành con ngựa quý của nhà vua, cũng như
điều kiện để trở thành một vị tu sĩ quý trong Phật pháp.
Con ngựa được
nhà vua ưa thích phải là ngựa tốt, có sắc lông đẹp, có sức mạnh, tốc độ
chạy rất nhanh, và thân thể của nó cũng phải cân đối. Cũng thế, một vị Tỳ
Kheo muốn được mọi người quý kính phải đủ các điều kiện:
1. Sắc đẹp:
Sắc đẹp ở đây không phải thân hình đẹp đẽ mà là gìn giữ giới cấm, có nghĩa
thành tựu oai nghi. Bởi vì giới luật là chuỗi ngọc trang sức cho Pháp
thân. Giới luật là thứ hương thượng diệu thơm nồng. Vì thế, thầy Tỳ Kheo
lấy giới luật trang sức cho thân mình.
2. Sức mạnh:
Thầy Tỳ Kheo thực hành Tứ Chánh Cần. Điều ác chưa sanh ngăn ngừa không cho
phát sanh, điều ác đã sanh khiến cho đoạn diệt, điều thiện chưa sanh khiến
cho phát sanh, điều thiện đã sanh khiến tăng trưởng.
3. Tốc độ:
Thầy Tỳ Kheo phải thấy rõ pháp “Tứ Đế”. Lấy pháp Tứ Đế làm thuyền bè, lấy
pháp Tứ Đế làm phao nổi để qua biển sanh tử.
4. Cân đối:
Thầy Tỳ Kheo khi nhận của cúng dường phải biết thời và chừng mực. Nghĩa là
khi nhận phải đúng thời. Thời gian Phật tử có thể cúng vừa chừng và biết
đủ, không được mong cầu tham thích, để cân nhắc cho sự sống.
Có đủ bốn pháp
như thế vị Tỳ Kheo xứng đáng đứng trong hàng Tăng Bảo, là bậc tôn quý giữa
trời người.
18. Phật tánh không khác
Một hôm trên
đường đi Phật để lại những dấu chân in sâu trên đất. Có một vị Bà La Môn
tên là Dona giỏi về tướng số, thấy dấu chân có xoáy ốc biết là tướng phi
phàm liền theo dấu chân tìm đến gặp Phật.
Dona hỏi:
-Ngài có phải
tiên không?
Phật bảo:
-Ta không phải
tiên.
-Ngài có phải
A Tu La không?
-Ta không phải
A Tu La.
-Ngài có phải
Dạ Xoa không?
-Ta không phải
Dạ Xoa.
-Ngài có phải
người không?
-Ta không phải
là người.
-Thế Ngài là
gì?
Phật bảo:
-Nếu tiên mà
“sạch hết lậu hoặc” thì ta là tiên. Nếu A Tu La mà sạch hết lậu hoặc thì
ta là A Tu La. Nếu Dạ Xoa mà sạch hết lậu hoặc thì ta là Dạ Xoa. Nếu người
mà sạch hết lậu hoặc thì ta là người. Còn ta vì đã sạch hết lậu hoặc nên
ta là Phật, là Thế Tôn.
BÌNH:
Đại ý bài kinh
trên Phật dạy: Phật tánh (tánh giác) vốn đồng, do mê ngộ mà có khác. Như
tấm gương vốn trong sáng, do bụi nhơ mà các hình tướng không thể chiếu
vào, nhưng tánh sáng của gương không mất. Phật tánh vào trong lục đạo,
nhưng Phật tánh vẫn không đổi thay, một phen hết mê thì Phật tánh hiện.
Qua lời giải thích của Phật ở văn kinh đã làm sáng tỏ ý này.
-Sở dĩ Tiên
không phải là Phật vì còn lậu hoặc (còn mê đắm dục lạc cõi tiên). Nếu lậu
hoặc sạch thì Tiên sẽ là Phật.
-A Tu La không
phải là Phật vì còn lậu hoặc (nhiều sân hận ngang trái). Nếu sạch hết lậu
hoặc A Tu La sẽ là Phật.
-Dạ Xoa chẳng
phải là Phật vì còn tâm bỏn xẻn, keo kiệt (còn lậu hoặc). Nếu sạch hết lậu
hoặc Dạ Xoa sẽ là Phật.
-Người không
phải là Phật vì còn thiện ác xen lẫn nhau (còn lậu hoặc). Nếu sạch hết lậu
hoặc người sẽ là Phật.
Như vậy Phật
là bậc hoàn toàn giác ngộ dứt sạch hết tập nhân trong ba cõi nên gọi Ngài
là bậc Thiên Nhân Sư hay cũng gọi là Thế Tôn. Trời, Người, A Tu La, hay Dạ
Xoa mà hoàn toàn giác ngộ, dứt sạch tất cả lậu hoặc, tức cũng gọi là Phật
chớ không ai khác. Thế nên nói: Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật
sẽ thành, ai ai cũng đều có thể là Phật, chỉ là giác hay mê, đã sạch lậu
hoặc hay chưa sạch lậu hoặc. Vậy chúng ta muốn làm Phật hay không thì hãy
xét lại nơi mình khỏi phải cầu cạnh đâu xa! |