|
PHẦN III: VẤN ĐÁP
1.Vấn đáp
Nhân khách đến
Tu Viện hỏi đạo, Thầy Viện Chủ trả lời, chúng tôi ghi vào đây những câu
hỏi chúng ta thường thắc mắc.
Hỏi:
-Phật có trước
hay pháp có trước?
Đáp:
-Nếu căn cứ
vào pháp duyên khởi, pháp có trước, Phật có sau. Vì pháp ấy xưa nay vẫn
như vậy (như thị) dù có Phật ra đời hay không ra đời pháp ấy vẫn không
thêm không bớt (pháp đó là lẽ thật của muôn đời). Kinh nói: “Pháp này là
mẹ của chư Phật trong ba đời”. Chư Phật do ngộ pháp này mà thành đạo.
Y cứ lời Phật
nói: Phật có trước, pháp có sau. Do đức Phật tu hành thành đạo mới nói ra
mười hai bộ kinh, nên Phật có trước pháp có sau.
Hỏi:
-Thế nào
thuyết pháp như dã can? Thế nào là thuyết pháp như Sư tử rống?
Đáp:
-Đem giáo pháp
cứu cánh dạy cho người tức thời thấy đạo, đạt lý vô sanh trong hiện tại
thẳng đó dứt nghiệp hết khổ, sống với Niết Bàn tự tánh, nghĩa là trở về
với tánh thường nhiên. Như người nghiện rượu khổ sở, biết rượu là hại liền
bỏ trở lại tánh bình thường. Người dạy pháp ấy gọi là “Sư tử rống” (tiếng
hét oai hùng của Sư tử, trăm thú đều khiếp sợ kinh hoàng).
Trái lại đem
những pháp phương tiện dạy người tu theo tiệm thứ sanh đây, sanh kia còn
trong vòng nhân quả hữu lậu. Người dạy này gọi là thuyết như “dã can” (chỉ
kêu rè rè).
Hỏi:
-Tại sao thể
tánh “Chơn không” lại sanh ra sơn hà đại địa?
Đáp:
-Không phải
Chơn không sanh ra sơn hà đại địa mà mê Chơn không hiện ra có sơn hà đại
địa...
Hỏi:
-Trong Kinh
Lăng Nghiêm nói:
“Nhất nhân
phát chân nguyên, thập phương thế giới tận thành tiêu dẫn”
Như vậy một
người trở về nguồn chân thì thế giới này đâu còn nữa?
Đáp:
-Mười phương
thế giới không còn là không còn với người trở về nguồn chân. Còn đối với
chúng sanh khác (còn mê) thì thế giới vẫn nguyên vẹn. Nếu không phải như
thế thì khi Phật thành đạo thế giới này hẳn đã tiêu mất đâu còn đến ngày
nay?
Hỏi:
-Người tu Tịnh
Độ sau khi lâm chung tùy theo sức tu mà sanh về Cực Lạc có cửu phẩm liên
hoa. Còn người tu Thiền nếu chưa được giác ngộ giải thoát sau khi lâm
chung về đâu?
Đáp:
-Người tu
Thiền nếu chưa hoàn toàn giải thoát thì khi lâm chung nên giữ tâm thanh
tịnh, không khởi niệm thì cũng được tùy nguyện trong khi tu mà sanh về
những cảnh giới tốt để tiếp tục tu nữa.
Hỏi:
-Kinh Lăng
nghiêm nói: Một người thể nhập Pháp thân thì trùm khắp cả pháp giới, thế
còn chỗ đâu cho người sau thể nhập.
Đáp:
-Trong Kinh
Viên Giác, Phật ví dụ như trong một ngôi nhà lớn, người ta đem vào một
ngọn đèn, thì ánh sáng ngọn đèn tràn đầy khắp cả căn nhà. Có một người lại
đem thêm một ngọn đèn nữa thì ánh sáng cũng tràn khắp căn nhà và nếu đem
thêm nhiều ngọn đèn nữa, ánh sáng vẫn trùm khắp mà không ngăn ngại nhau.
Cũng như thế nếu ai thể nhập pháp thân thì sẽ thấy trùm khắp và hòa trong
pháp giới chớ không ngăn ngại chi cả.
Hỏi:
-Thế nào là
kiến tánh khởi tu?
Đáp:
-Tức là trước
nhận ra được tánh giác rồi theo chỗ thấy đó, tu cho đến cứu cánh giải
thoát.
Hỏi:
-Còn kiến tánh
khỏi tu là sao?
Đáp:
-Đó là trường
hợp của đức Lục Tổ.
-Chưa kiến
tánh phải tu như thế nào?
-Như trong hồ
nước có hòn ngọc, người thấy ngọc đưa tay nắm lấy (dụ cho người kiến tánh
khởi tu). Người chưa thấy, quơ tay mò một lúc nắm lấy giữ gìn (dụ cho
người chưa kiến tánh). Tuy chưa thấy nhưng tin chắc rằng trong ấy quyết
định có hòn ngọc.
Hỏi:
-Trong Kinh
Kim Cang, Phật dạy trì bốn câu kệ. Vậy trì bốn câu nào?
Đáp:
-Văn Kinh nói
rõ ràng: "Hoặc trì nhẫn đến bốn câu kệ v.v...". Như vậy tùy, hoặc trì cả
bộ kinh hoặc trì bốn câu, hai câu cũng được, đâu nhất định câu nào. Đó là
không vấn đề mà đặt thành vấn đề thêm việc rắc rối.
Hỏi:
-Trong kinh
Phật nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Làm sao chứng minh được
điều này?
Đáp:
-Ví như có
người đào đất được mấy tấm gương, người ấy đem một tấm lau chùi sáng, liền
biết mấy tấm kia thế nào? Tức cũng có sáng, nếu chịu khó lau chùi.
Đức Phật là
một con người do tu mà được giác ngộ thành Phật, chúng ta cũng là một con
người như Ngài tức cũng có tánh giác, cũng sẽ thành Phật không nghi.
Hỏi:
-Thế nào là
Niết Bàn trong sanh tử?
Đáp:
-Tâm niệm sanh
diệt là sanh tử. Hết tâm niệm sinh diệt là Niết Bàn (ngay nơi tâm thể mà
có Niết Bàn).
Hỏi:
-Phong tục cử
đi đường ngày 5, 14, 23 có đúng không?
Đáp:
-Không đúng!
Tại sao? Xin đặt lại câu hỏi: Tất cả những tai nạn thường xảy ra chỉ mấy
ngày đó thôi hay những ngày khác cũng có? Trái đất xoay quanh mặt trời, có
nói tốt xấu gì không? Nếu ba ngày đó là ngày xấu thật thì thế gian này
không có nhân quả. Tuy nhiên ăn trộm ắt có lúc bị bắt đâu tránh khỏi. Thế
nên, nếu đi vì việc lành thì tốt, đi việc dữ thì xấu. Làm việc lành kết
quả thiện, làm việc dữ kết quả ác, chứ không phải do ngày giờ.
Hỏi:
-Tâm muốn vươn
lên nhưng gặp nhiều nghịch cảnh không thực hiện được ý muốn. Phải dùng
biện pháp gì?
Đáp:
1. Nghĩ mình
đã chết.
2. Nhận thật
mình đang sống trong cảnh mộng.
Hỏi:
-Thế nào là tà
kiến?
Đáp:
-Hành động,
lời nói, việc làm, ước mơ, đều hướng về nẻo ác, sa đọa, tội lỗi, khổ đau
là tà kiến.
-Thế nào là
chánh kiến?
-Hành động,
lời nói, việc làm, ước mơ, đều hướng về nẻo thiện: Từ bi, cứu khổ, giải
thoát, an lạc... là chánh kiến. Dụ như hạt giống đắng như khổ qua, gặp mưa
móc thấm ướt lên cây đều đắng. Trồng cây giống ngọt v.v... cũng thế. Tóm
lại tin nhân quả là chánh kiến.
Hỏi:
-Người tu pháp
mười hai nhân duyên phải diệt món nào trước?
-Diệt xúc và
diệt thọ.
-Tại sao không
diệt vô minh v.v... mà đi diệt xúc và thọ?
-Vì vô minh
thuộc về nhân quá khứ không thể diệt được. Hành, thức, danh sắc, lục nhập
cũng không thể diệt được. Vì hành là nghiệp quá khứ. Thức, danh sắc, lục
nhập là bộ phận của thân thể con người cũng không đoạn được. Chỉ có xúc
thọ tùy cảnh mà có thể dễ thấy, dễ diệt. Xúc thọ là nguồn gốc của yêu ghét
mà yêu ghét là động cơ chính của luân hồi. Do sáu căn tiếp xúc sáu trần
sanh cảm thọ vui hoặc khổ hoặc không vui không khổ, phiền não (tham, sân,
si, tắng ái) cũng theo đó mà sanh. Trái lại, sáu căn tiếp xúc sáu trần
không dấy một niệm phân biệt tức là "không cảm thọ". Không cảm thọ thì
không khởi tâm yêu ghét, yêu ghét không thì tham sân cũng không. Mê lầm
nhân đây mà dứt (dứt si) tức tịch tỉnh Niết Bàn.
Hỏi:
-Có một Phật
tử đến hỏi: Ngài Nam Tuyền bảo Triệu Châu: "Tâm bình thường là đạo, còn tu
tức trái đạo". Tại sao Thầy dạy chúng con tu?
Đáp:
-Ngài Nam
Tuyền nói là chỉ cho người "Tâm đã bình thường". Trái lại, tâm con chưa
bình thường nên Thầy dạy con tu.
Hỏi:
-Cúng dường
người nào có phước nhiều nhất?
Đáp:
-Cúng dường
người không tu không chứng (đạo nhân vô tâm) phước nhiều nhất.
-Người không
tu không chứng là người nào?
-Đây chính là
trở về với chính mình.
-Tại sao goi
là người vô tu, vô chứng?
-Vì tự nó sẵn
có đâu phải do tu mà được. Dụ tánh nước tự trong, đâu phải do lóng nước
mới trong.
Tóm lại, trở
về với chính mình mới quý (giải thoát sinh tử), dù cúng dường mười phương
chư Phật, cũng chỉ là Phật bên ngoài được phước mà thôi, nên gọi là không
bằng.
Hỏi:
-Tại sao căn
bản đạo Phật xây dựng trên quan niệm nhân sinh đau khổ (dụ Khổ đế)?
Đáp:
-Vì khổ có
nghĩa là "Vô thường". Vô thường chi phối tất cả sự vật, không một cá nhân
nào thoát khỏi (khổ là một lẽ thật muôn đời). Từ khổ mà giải thoát mới là
giải thoát chân thật, ngoài ra tưởng tượng một cảnh giới nào đó để giải
thoát, đó là giải thoát hư tưởng vậy.
2. Ba cửa giải thoát
Hỏi:
-Ba cửa giải
thoát (Tam giải thoát môn) là gì?
Đáp:
1. Cửa không
(không môn): Nhận rõ các pháp không thật có. Sở dĩ các pháp có muôn ngàn
sai khác, đều do nhân duyên hòa hợp tạm có, không có một pháp nào có cái
thể chân thật. Bởi do duyên hợp, nên đủ duyên nó hợp thiếu duyên thì tan.
Nó tạm bợ dường như bọt nổi, như bóng chớp, như sương mù... (có nhưng
không thật).
2. Cửa không
tướng (vô môn tướng): Muôn ngàn hiện tượng trong thế gian đều không có
tướng cố định. Những hình tướng có đều tùy theo nghiệp của chúng sanh mà
thấy thế này hoặc thế khác. Cũng một thân người mà loài người cho là thân
thể họ, loài vi trùng cho đó là vũ trụ của nó đang sống. Cái bàn viết, với
con người là cái bàn viết, con mọt cho là thức ăn của chúng v.v... Vậy gọi
đó là tướng gì?
3. Cửa không
tạo tác (Vô tác môn): Vì nhận rõ các pháp hữu vi là huyễn hóa, sanh diệt,
vô thường nên không khởi tâm tạo tác. Cũng goiü là vô nguyện, vì không tâm
mong cầu. Dụ như thấy ảnh trên màn bạc, do biết bóng trên màn bạc là giả
nên dù bóng có đẹp, xấu vẫn không sanh phân biệt yêu ghét...
Ba cửa này có
công năng đưa hành giả ra khỏi khổ sanh tử, chứng Niết Bàn an lạc, nên gọi
là cửa "Giải thoát". Song ba cửa này giữa Đại thừa và Tiểu thừa có khác:
-Đại thừa: Do
dùng trí tuệ, nhận rõ các pháp là không thật thể do nhân duyên hòa hợp như
huyễn như mộng để xa lìa lòng chấp trước mà thực hành "Lục Ba La Mật" lợi
ích chúng sanh.
-Tiểu thừa: Do
quán không, thành tựu được "Không quán" xa lìa tâm chấp trước đối với ngã
pháp để đạt đến Niết Bàn không tịch.
3. Ba nghiệp thân hay thù
Hỏi:
-Trong thân
thể này vật nào là thân thiện nhất và thù ghét nhất?
Đáp:
-Ba nghiệp
(thân, miệng, ý) chính là bạn thân thiện nhất, mà cũng chính là kẻ thù
nhất. Tại sao? Bởi vì nếu dùng ba nghiệp để làm các việc lành, theo chiều
giác ngộ thì giúp ta an lạc và giải thoát tiến lên các quả lành (thành
Phật tác Tổ) đó gọi là thân. Trái lại, đem ba nghiệp này làm các việc ác,
chạy theo ngũ dục, theo chiều si mê, nó sẽ đưa chúng ta đến chỗ khổ đau,
trầm luân đen tối trong tam đồ, ấy gọi là thù.
-Nghiệp có tác
dụng gì mà chi phối lớn lao như thế?
-Nghiệp là chủ
động, mà cũng là động cơ chính yếu cho cuộc sống của con người. Tất cả mọi
an lạc hay khổ đau đều do nghiệp mà ra cả. Nghiệp là gì? Nghiệp chính là
thói quen ta huân tập lâu ngày thành nghiệp. Do nghiệp đó mà dẫn dắt chúng
ta đến cảnh giới thiện ác, hoặc khổ hoặc vui v.v... Ví du:û Như người tập
uống rượu, sẽ bị nghiệp rượu (ghiền) dẫn vào quán rượu. Người cờ bạc sẽ bị
nghiệp cờ bạc dẫn vào nhà chứa bài. Người tập rèn công nghệ văn nghệ thì
sẽ trở thành ngươì thuần thục về công nghiệp và văn nghệ v.v... Lý nghiệp
dẫn là như thế, chứ không phải có người thứ hai nào chen vào sai xử cả.
Tóm lại, nếu
chúng ta biết sử dụng ba nghiệp theo chiều lành, chiều giác ngộ thì ba
nghiệp sẽ giúp ích chúng ta và là bạn thân thiết. Trái lại, nếu buông lung
ba nghiệp, tạo ác theo chiều si mê để bị sa đọa trầm luân thì như thế
nghiệp là kẻ thù đáng chê trách nhất.
4. Hai cái nghĩ
Hỏi:
-Làm sao giản
trạch được cái nghĩ nào thuộc cái nghĩ của chúng sanh, cái nghĩ nào thuộc
cái nghĩ của chư Phật?
Đáp:
-Nghĩ hơn
thua, phải quấy, thiện ác, tốt xấu v.v... thuận theo sự suy tính của thế
gian thuộc về nghĩ của chúng sanh. Trái lại, cái nghĩ nào phù hợp với trí
Bát Nhã, gọi đó là trí huệ Phật, nghĩa là dùng trí quán chiếu, nhìn sự vật
trên tinh thần giác ngộ, giải thoát. Biết sự vật là hư huyễn giả dối...
nên không khởi niệm phân biệt yêu ghét, lấy bỏ v.v... Thường khởi lòng từ
bi độ thoát chúng sanh.
-Như thế thì
Phật vẫn còn khởi niệm, mà còn khởi niệm thì còn động, đâu thể gọi là tịch
tịnh được?
-Vấn đề này
chúng ta nên xét cho kỹ. Mặc dù Phật có khởi niệm nhưng Ngài vẫn ở trong
định, vì thế mới gọi Ngài ở trong Đại Thiền Định. Nghĩa là trong mọi oai
nghi đi, đứng, nằm, ngồi, động, tịnh, nói, nín đều là định. Bởi vì Phật đã
dứt tâm hữu lậu thế gian, Ngài hằng sống với trí "Vô phân biệt", mặc dù
Ngài có khởi dụng phân biệt độ sanh nhưng vẫn ở trong tánh thể như như bất
động (không dấy khởi phiền não). Ngài hoàn toàn làm chủ mọi tâm niệm. Trái
lại, chúng sanh sống theo nghiệp thức phân biệt theo tình, lòng nhiễm ô ái
trước đầy dẫy, nên khởi tình yêu ghét, có niệm tham sân, hằng sống trong
sanh diệt luân chuyển, niệm niệm trôi lăn không hay tự chủ.
Để chứng minh
cho đều này xin dẫn bài kệ Lục Tổ đáp với ông Ngọa Luân.
Ông Ngọa Luân
do lầm chấp là phải dứt bặt tư tưởng phân biệt không cho dấy niệm mới ngộ
đạo nên ông nói:
Ngọa luân hữu kỹ lưỡng
Năng đoạn bách tư tưởng
Đối cảnh tâm bất khởi
Bồ
đề nhật nhật trưởng.
Dịch:
Ngọa Luân có kỹ lưỡng
Hay đoạn trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm chẳng khởi
Bồ
đề ngày thêm lớn.
Lục Tổ nghe
xong liền bảo, bài kệ này tâm địa chưa sáng. Nếu y theo đó tu hành càng
thêm triền phược. Nhân đó Tổ nói kệ:
Huệ Năng một kỹ lưỡng
Bất đoạn bách tư tưởng
Đối cảnh tâm sổ khởi
Bồ
đề tác ma trưởng.
Dịch:
Huệ Năng chẳng kỹ lưỡng
Chẳng đoạn trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm thường khởi
Bồ
đề đâu có lớn?
Vì lẽ đó nên
pháp tu của Đại thừa giáo hay Thiền Tông có phần phóng khoáng, không gò bó
như lối tu kềm tâm và đoạn tư tưởng cho khô kiệt như Nhị thừa. Vì vậy, nên
vấn đề ứng dụng độ sanh của Phật và Bồ Tát mới được sâu rộng và phổ cập
quần sanh, khác hơn hàng Nhị thừa thân diệt trí chìm trong Niết Bàn không
tịch.
5. Bốn điều nương tựa
Hỏi:
-Trong kinh
Niết Bàn, Phật dạy: Người tu Phật phải nương theo pháp "Tứ Y" mà tu tập.
Vậy "Tứ Y" là gì?
1. Y Pháp bất
y nhân (Y theo giáo pháp chẳng y theo người): Pháp Phật là lẽ thật, là
chân lý, quý báu vô lượng. Người giảng nói pháp ấy tuy có hành vi không
chân chánh, nếu mình vì chút hành vi đó không tin nhận hoặc không chịu đến
nghe ắt sẽ mất phần lợi lạc. Để gạt bỏ tâm phân biệt tỵ hiềm này Phật dạy
chúng ta phải cố gắng học hỏi rồi y cứ giáo pháp Phật dạy để tu hành, mặc
dù người giảng dạy có tốt hay xấu không cần thiết. Xưa khi còn làm hạnh Bồ
Tát, Phật vẫn đến nghe Dã Can nói pháp. Trong Luận Đại Trượng Phu có dụ
như trong thùng rác nhơ có hòn ngọc quý, chúng ta đừng ngại vì thùng rác
nhơ mà không chịu thò tay lấy ngọc. Nghĩa y pháp bất y nhân là như vậy.
2. Y nghĩa bất
y ngữ (Y theo nghĩa lý chẳng y theo văn tự ngôn ngữ): Nghĩa Phật nói ra
nhằm dạy chúng ta đạt được chân lý, lẽ thật của sự vật. Người học phải y
theo nghĩa đó mà tu hành để đạt chân lý, đừng chạy theo phân biệt văn tự
ngôn ngữ, dù ngôn ngữ văn tự đó có kém dở, có vụng về, chúng ta cũng
không nên cố chấp.
3. Y trí bất y
thức (Y theo trí không y theo tình thức phân biệt): Dùng trí để quán xét
mới hợp chân lý. Trái lại, thức thì hợp với tình cảm, tình cảm là theo
nghiệp. Vì vậy, muốn đạt được chân lý phải sống bằng trí tuệ, gạt bỏ mọi
tình cảm phân biệt theo vọng thức.
4. Y liễu
nghĩa bất y bất liễu nghĩa (Y theo kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo kinh
điển không liễu nghĩa): Kinh điển Phật nói ra tùy căn cơ, tùy tâm bệnh,
như vị lương y tùy bệnh cho thuốc nên có cao thấp chẳng đồng, nhưng mục
đích cứu cánh là giải thoát sinh tử. Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị
giải thoát viên mãn (Phật) là kinh liễu nghĩa. Trái lại, kinh điển nào
dùng phương tiện cho hàng căn cơ thấp kém, như Nhân thừa, Thiên thừa
v.v... là kinh điển bất liễu nghĩa.
Vậy người tu
Phật muốn ra khỏi sinh tử thẳng đến Phật quả phải lấy "Tứ Y" này làm kim
chỉ nam để hướng thẳng đến đạo giác ngộ. Đây là phương pháp tu của Đại
thừa Phật Giáo.
6. Dứt tâm tam giới
Hỏi:
-Trong kinh
Phật nói: Dứt tâm trong ba cõi là Niết Bàn (Tam giới tâm tận tức thị Niết
Bàn). Thế nào là tâm trong ba cõi?
-Ba cõi là cõi
Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc.
1. Tâm trong
cõi Dục (Dục giới): Tâm đắm nhiễm ái trước lục trần (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp) và buông lung theo ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy)
không biết nhàm chán và xa lìa...
2. Tâm trong
cõi Sắc (Sắc giới): Người tu Thiền định (Tứ Thiền) do lóng dừng được một
phần vọng tưởng thô động bên ngoài, phiền não nhiễm ô cũng theo đó mà nhẹ.
Kết quả sẽ sanh các cõi trời Sắc giới (Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên
v.v...). Do tâm họ còn chấp về sắc tướng nên sanh cõi này.
3. Tâm trong
cõi không sắc (Vô Sắc giới): Người này tu về Không Định (Tứ Không). Họ
thiên về "Tưởng Không", tâm thức họ chìm đắm trong không tịch. Vì thế kết
quả họ sẽ sanh lên các cõi trời Vô Sắc... (Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô
Biên Xứ Thiên...). Quả vị này không còn chấp sắc tướng, nhưng họ kẹt về
"chấp không".
Nếu người tu
tập biết dứt trừ tâm chấp trước trong ba cõi (Dục, Sắc, Vô Sắc) vừa kể,
thông hiểu Phật pháp đoạn sạch nhân hữu lậu, họ sẽ ra khỏi ba cõi và đạt
đến Niết Bàn.
7. Ngộ thể khế dụng
Yêm Bà Nữ hỏi
Ngài Văn Thù:
-Người đạt lý
vì sao chưa tự tại trong sanh tử?
Ngài Văn Thù
đáp:
-Vì lực dụng
chưa đủ.
Ngài Văn Thù
trả lời nghĩa này thế nào? Người đạt lý không sanh tử, đối với sự sanh tử
không còn lầm mê, tuy nhiên về khởi hạnh chưa có (lực dụng chưa đủ). Vì
vậy muốn đạt rốt ráo lý sinh tử, phải dụng công khởi hạnh, diệt phiền não
dứt vọng hoặc. Khi phiền não vọng hoặc dứt sạch, mới thể nhập lý không
sinh tử. Thể nhập lý không sinh tử viên mãn, mới khế hợp với chân tánh và
hằng sống với tâm thể vô sanh. Khi trở về với tâm thể vô sanh, mới có đủ
diệu dụng nhiệm mầu, phát đại bi tâm tùy cơ giáo hóa độ khắp hữu tình.
Vì thế, nên
nói "Ngộ" không sanh tử không bằng "Thể" không sanh tử, "Thể" không sanh
tử không bằng "Nhập" không sanh tử, "Nhập" không sanh tử không bằng "Khế"
không sanh tử, "Khế" không sanh tử không bằng "Dụng" không sanh tử.
Cùng nghĩa này
Tiến Sơn Chủ đem câu hỏi trên hỏi Tu Sơn Chủ. Tu Sơn Chủ đáp:
-"Giống như
măng sẽ thành tre, nhưng ngày lúc còn măng thì không thể kết thành bè".
Vì thế, người
muốn thể nhập rốt ráo lý vô sanh, phải theo thứ lớp mà tu tập. Trước tiên
ngộ lý không sanh tử, kế phải thực hành để thể nhập được lý ấy. Khi thể
nhập viên mãn mới khế hợp thể tánh thanh tịnh sẵn có của mình. Bấy giờ có
đủ diệu dụng bất khả tư nghì giáo hóa chúng sinh, khi công hạnh viên mãn
thành Phật quả.
Đây là con
đường tiến tu của người tu hạnh Đại thừa phải trải qua vậy.
8. Sống thật
Thiền Sư Triệu
Châu nói: "Cả ngày ăn cơm mà chẳng nhai nát một hạt gạo. Cả ngày mặc áo mà
chẳng dính mắc một sợi tơ". Ngài muốn nói gì với chúng ta?
-Bởi vì người
đạt đạo thấu được lẽ chân, nhận ra tánh chân thật của chính mình. Rõ thông
các hành động đều từ tâm thể hiện, nên không dấy niệm có không, được
mất... Trái lại, phàm phu ngu mê, chạy theo thức tình phân biệt, lúc ăn
còn nghĩ trăm thứ, lúc mặc còn nghĩ trăm việc. Do đó mà phiền não (tham,
sân, si) dấy khởi mất tánh thường nhiên, tâm luôn luôn bàng hoàng xao
xuyến, khắc khoải lo âu... Vì vậy mà sống xa với đạo (lẽ thật). Vì sống
với đạo phải sống với tánh bình thường. Tánh bình thường này ai ai cũng có
và không lúc nào vắng mặc nó. Tuy nhiên, vì ta mãi lo chạy theo ngoại cảnh
mà bỏ quên tánh ấy. Khi chúng ta nhớ lại không chạy theo ngoại cảnh, tức
là trở lại tánh thường nhiên. Tánh ấy nó thường hằng và miên viễn không
phải đợi tìm kiếm mới có.
Thiền Sư Vĩnh
Gia Huyền Giác nói: "Ma ni châu, nhân bất thức. Như lai tàng lý thân thâu
đắc. Lục ban thần dụng không bất không. Nhất khỏa viên quang sắc phi sắc".
Nghĩa là: Có ngọc Ma ni người không biết. Sáu ban thần dụng (lục thông
diệu dụng) không mà chẳng không. Một viên tròn sáng sắc mà chẳng phải sắc.
Thể tánh vắng
lặng thường nhiên của chúng ta ví như hạt minh châu. Hạt châu này sẵn
trong kho Như Lai của chúng ta, nếu chịu khó sẽ nhận đặng. Khi nhận được
châu liền có đủ thần thông diệu dụng bất khả tư nghì. Nó vốn tròn sáng
không phải sắc, không phải không mà gồm đủ cả sắc và không.
Người nhận ra
hạt châu này sống với nó mới là sống thật. Hạt châu này chính là tánh giác
của mọi người chúng ta vậy.
Tóm lại, muốn
sống thật là phải nhận ra được tánh giác của chính mình, tánh ấy nó bất
sanh bất diệt tròn sáng không từng ô nhiễm. Khi hằng sống với tánh giác
thì không còn lầm mê, không bị sáu trần sai sử. Nhờ đó mà định lực chúng
ta kiên cố, trí tuệ tròn đầy, sanh tử nhân đây mà dứt. Đây chính là sống
thực và sống miên viễn vậy. |