|
PHẦN IV: TRÍCH GIẢNG THIỀN SỬ
1. Nghĩa Phật tánh
Ngài Ngưỡng
Sơn hỏi Ngài Trung Ấp:
-Thế nào là
nghĩa Phật tánh?
Ngài Trung Ấp
nói:
-Ta nói cho
ông một thí dụ: Như cái nhà có sáu cửa, trong đó để một con khỉ kêu choé
choé!
-Con khỉ ngủ
thì sao?
Ngài Trung Ấp
bước xuống giường thiền nắm đứng Ngài Ngưỡng Sơn nói:
-Choé! Choé!
Ta cùng ông thấy nhau rồi.
Ngài Trung Ấp
nói kệ giải thích:
Đông niên tuyết thất thế thôi đồi
Yên điện la môn dạ bất khai
Hàn cảo viên lâm khai biến thái
Xuân phong xuy khởi luật đồng khôi
Dịch:
Năm tàn nhà tuyết ngủ im lìm
Thầm lặng cửa rêu đêm chẳng mở
Cây lạnh vườn rừng trong biến thái
Gió xuân chợt khởi vọng phù trầm.
BÌNH:
Chỉ cần con
khỉ ngủ đi tức tin xuân đây đó hiện.
2. Động Sơn thăm bịnh
Tăng hỏi:
-Khi gió lửa
phân ly sẽ về đâu?
Ngài Động Sơn
đáp:
-Khi đến chẳng
mang một vật, khi đi cũng thế ấy.
-Tuy nhiên
thân con chẳng an (đau nhức).
-Thân đau nhức
có cái chưa từng đau nhức.
-Cái không đau
nhức thế nào?
-Ngộ thì trong
gang tấc, mê thì cách núi đồi.
-Xin Hòa
Thượng chỉ cho con đường sẽ hướng đến.
-Tối đen tợ
như sơn, hiện tại tức thành lập (chỉ nhớ hiện tại, đừng nghĩ quá khứ và vị
lại...).
-Thế nào là ý
Tổ Sư từ Ấn Độ sang?
Ngài Động Sơn
trả lời:
-Sáu cửa chẳng
đồng mưu.
3. Tin người nghe pháp
Tổ Lâm Tế quở
chúng: "Các ông không đủ lòng tin".
Chúng thưa:
-Hòa Thượng
bảo con tin việc gì?
-Tin người
nghe pháp đó!
Tổ dạy tiếp:
Nhữ nhược ái Thánh tắng Phàm
Sanh tử hải lý trầm phù
Phiền não do tâm cố khởi
Vô
tâm phiền não hà câu
Bất lao phân biệt thủ tướng
Tự
nhiên đắc đạo tu du.
Dịch:
Nếu ông mến thánh ghét phàm
Trong biển sanh tử nổi chìm
Phiền não do tâm nên có
Không tâm phiền não còn đâu
Chẳng nhọc phân biệt chấp tướng
Tự
nhiên đắc đạo phút giây.
Tổ Lâm Tế nói:
-Sáu căn không
nhiễm sáu trần là "Lục thông".
BÌNH:
Ai muốn được
lục thông? Bao giờ có?
4. Quên mình theo vật
Thiền Sư Cảnh
Thanh ngồi trong thiền thất nghe tiếng mưa rơi hỏi Thiền khách:
-Ấy là tiếng
gì?
Thiền khách
đáp:
-Tiếng mưa
rơi.
Thiền Sư Cảnh
Thanh quở:
-Quên mình
theo vật.
BÌNH:
Xoay nhìn lại
tự tâm niệm (biết mình đang nghĩ gì) là sống với chính mình. Trái lại
hướng tâm ra ngoài, chạy theo ngoại cảnh là sống với ngoại cảnh (mất
mình).
Vậy câu hỏi
trên của Thiền Sư Cảnh Thanh nếu đem hỏi chúng ta, phải đáp sao cho đúng?
Chúng ta phải
đáp:
-Tôi đang
nghe!
Nghĩa là tôi
đang nghe rõ ràng không có lầm lẫn.
5. Tâm tịnh là trên hết
Cổ Đức nói:
"Tinh tấn mà loạn động không bằng giữ tâm nhàn" (an tịnh).
Có vị Tỳ Kheo
siêng năng mỗi ngày lễ tam thiên Phật, suốt thời gian dài gian khổ nhưng
không thấy đạo. Đến hỏi Hòa Thượng Tuyết Đường.
Ngài dạy:
-Người hành
công phu làm việc lễ bái không xen hở... nhưng không bằng để vô sự (nhàn
nhàn) ví như cái hồ lô (quả bầu bộng ruột) để dưới nước động thì chuyển.
Thiền Sư Phổ
Chiếu mỗi ngày tụng ba trăm biến Đại Bi, lạy ba trăm lạy, nhưng không thấy
đạo, cũng đến hỏi Hòa Thượng Tuyết Đường.
Ngài bảo:
-Tụng nhọc
buông đi! Buông hết rảnh rỗi, không làm không nói. Nếu ông chưa đủ lòng
tin, chấp Phật cũng là cơ cảnh, chấp pháp cũng là cơ cảnh, huống chi văn
chương tạp sự khác. Phải giữ chỗ nhàn nhàn, chỗ đó hư mà linh, tịch mà
diệu. Ví như trái bầu để trên mặt nước không cột mà vẫn đứng yên.
BÌNH:
Trăm năm tinh
tấn hướng bên ngoài, đâu bằng trong tâm một niệm liền rỗng suốt.
6. Chỉ cần biết vọng
-Không kềm
tâm.
-Không đè
niệm.
Kềm vọng niệm,
hoặc đè niệm khởi, dễ sanh bệnh hoặc đau đầu, chỉ biết "vọng niệm không
thật" niệm tự dừng.
Hằng sống với
tâm niệm "buông xả" thảnh thơi thoải mái là đúng với nghĩa tâm bình
thường. Như người "chăn trâu" khi trâu còn nghịch phải dùng dây mũi và roi
để trị. Đến khi trâu thuần thục, mục đồng thổi sáo thảnh thơi. Khi ấy nếu
còn đối trị là sai.
BÌNH:
Tâm bình
thường là tâm không nghĩ thiện, nghĩ ác, nghĩ phải, nghĩ quấy v.v... tức
là sống với tâm thể thanh tịnh trùm khắp thênh thang. Trong nhà thiền gọi
là sống với "ông chủ". Vì vậy pháp tu này trước phải nhận ra ông chủ (tánh
giác). Khi nhận được tánh giác phải hằng sống với tánh giác ấy không phút
giây lơi lỏng, gọi là sống với chính mình. Trái lại là sống theo nghiệp
thức.
7. Hằng tỉnh giác
Một cậu thanh
niên đến một ông võ sư học kiếm. Suốt mấy năm ông thầy không chỉ dạy gì
hết. Một hôm cậu học trò đang làm việc, thình lình ông ta đâm vào hông cậu
một nhát kiếm...
Sau này cậu
học trò về nhà sử dụng nghề kiếm đại tài. Sở dĩ được tài giỏi là do cậu ta
lúc nào cũng chăm chăm đề phòng người ám hại.
Người tu cũng
thế, phải chăm chăm theo dõi vọng tâm không phút giây lơi lỏng.
BÌNH:
Người kéo cây
muốn ra lửa, phải bền chí lâu dài. Người tu Phật muốn giác ngộ phải hằng
tỉnh giác (giác từng phút từng giây). Tánh giác đâu có xa mình, chỉ vì mê
mà xa với tánh giác, nên cốt yếu của sự tu là phải hằng giác (một niệm mê
là chúng sanh, một niệm giác là Phật). Giác cho đến viên mãn mới thôi.
8.Biết ơn Phật thứ nhất
Phật dạy:
"Người thực hành lời Phật dạy là đền ơn Phật hơn hết".
Kinh chép một
hôm Phật có bệnh, tất cả hàng Thanh Văn, Bồ Tát đều đến thăm Phật. Riêng
có một vị Tỳ Kheo ở gần Tinh xá Phật ở nhưng không buồn đến thăm Ngài. Có
vị Trưởng Lão đến hỏi vị Tỳ Kheo ấy. Ông đáp:
-Tôi mong cầu
chứng A La Hán, chứ không ưng thấy Thế Tôn nhập Niết Bàn.
Nghe thuật lại
lời này, Phật khen: "Vị Tỳ Kheo ấy là người biết ơn Phật thứ nhất".
BÌNH:
Chúng ta có
muốn được Phật khen chăng? Chúng ta phải làm gì? Và làm những gì?
9. Trồng rau
Thiền Sư Duy
Nghiễm Dược Sơn, một hôm vào vườn thấy Tri Viên trồng rau. Sư bảo:
-Trồng thì
không ngăn người trồng, chớ cho nó mọc rễ.
Vậy ai có thể
thay Thầy Tri Viên đáp một câu xem phải trồng như thế nào?
BÌNH:
Ngay khi bảo:
"Chớ cho nó mọc rễ", liền thưa: Chẳng can hệ đến việc của Hòa Thượng.
10. Tha ngươi ba mươi gậy
Động Sơn Thủ
Sơ ban đầu đến tham vấn Vân Môn.
Vân Môn hỏi:
-Vừa rồi ở
đâu.
Sư thưa:
-Tra độ
Vân Môn hỏi:
-Mùa hạ rồi ở
đâu?
Sư thưa:
-Chùa Báo Từ ở
Hồ Nam.
Vân Môn hỏi:
-Rời nơi ấy
lúc nào?
Sư thưa:
-Ngày hai mươi
lăm tháng tám.
Vân Môn bảo:
-Tha ngươi ba
gậy.
Sau này, nhân
Huệ Nam đến Từ Minh thưa hỏi, Từ Minh bảo:
-Thư ký học
Thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như nói: "Tha Động Sơn ba gậy".
Động Sơn khi ấy nên đánh, chẳng nên đánh?
Sư thưa:
-Nên đánh.
Từ Minh nghiêm
nghị bảo:
-Nghe tiếng ba
gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu, trống
đánh, tiếng chuông, tiếng bảng... Cũng nên ăn ba gậy. Ăn gậy đến lúc nào
mới thôi?
Như vậy, chúng
ta phải nói thế nào, nên đánh hay chẳng nên đánh?
Ai thử đáp
xem?
BÌNH:
Chỉ nên nói:
"Cám ơn Hòa Thượng từ bi chỉ dạy", liền lễ bái.
11. Đến chỗ nào ngồi
Thiền Sư Phật
Ấn, một hôm Sư và đồ chúng vào thất, cư sĩ Tô Đông Pha đến thẳng vào thất.
Sư nói:
-Trong này
không có ghế ngồi, cư sĩ đến đây làm gì?
Đông Pha nói:
-Tạm mượn thân
tứ đại của Phật Ấn làm ghế ngồi.
-Sơn Tăng có
một câu hỏi, cư sĩ nếu nói được thì mời ngồi, bằng chẳng nói được thì cởi
ngọc đái để lại.
Đông Pha vui
vẻ nói:
-Xin hỏi.
Phật Ấn nói:
-Vừa rồi cư sĩ
nói: "Tạm mượn thân tứ đại Sơn Tăng làm ghế ngồi". Chỉ như Sơn Tăng tứ đại
vốn không, năm ấm chẳng có, cư sĩ đến chỗ nào ngồi?
Tô Đông Pha
không đáp được, phải cởi ngọc đái để lại.
Vậy ai có thể
vì Tô Đông Pha đáp một câu thâu hồi ngọc đái lại xem?
BÌNH:
Đợi khi Phật
Ấn hỏi: Cư sĩ đến chỗ nào ngồi? - Liền đáp: Mắt Phật xem cũng chẳng thấy.
12. Chẳng phải Như Lai
Một cư sĩ cầm
trái táo vừa ăn vừa hỏi:
-Thế nào là
Như Lai ăn Như Lai?
Viện Chủ bảo:
-Chẳng phải
Như Lai rồi!
BÌNH:
Vì sao chẳng
phải Như Lai? Vị này vốn chấp chính mình là Như Lai nên mới nói như thế,
nhưng không ngờ lời ấy đã rơi! Vì đã thành hai Như Lai rồi.
13. Chủ khách
Có hai Thủ Tọa
nhà Đông, nhà Tây gặp nhau liền hét lên một tiếng. Một vị Tăng đem việc
này hỏi Hòa Thượng Lâm Tế:
-Như vậy có
chủ khách chăng?
Lâm Tế đáp:
-Chủ khách rõ
ràng.
-Vậy ai là
chủ? Ai là khách?
Đáp:
-Im lặng là
chủ, hỏi là khách.
BÌNH:
Giả sử cả hai
đều im lặng thì sao? Hoặc cả hai đều hỏi thì sao?
Ai là người đủ
mắt thử đáp xem!
14. Cái gì quí nhất
Có một vị Tăng
hỏi Ngài Huyền Sa:
-Ở thế gian
cái gì quí nhất?
Huyền Sa đáp:
-Cái đầu con
mèo chết quý nhất.
Vị Tăng hỏi:
-Vì sao cái
đầu con mèo chết quý nhất?
Huyền Sa đáp:
-Vì không ai
trả giá.
BÌNH:
Tại sao cái
đầu con mèo chết lại quý, nó quý ở chỗ nào? Ai biết được? Chúng ta không
khỏi thắc mắc điều này, cứ moi đầu bóp trán tìm xem vì sao "cái đầu con
mèo chết" lại quý nhất trên đời? Thật không thể tưởng tượng nổi! Chúng ta
không ngờ đã bị ông già Huyền Sa lừa một cách thật tài tình. Hỏi đến cái
quý nhất Ngài lại tráo trở đưa ra cái đầu con mèo chết. Đợi người kỳ kèo
hỏi lại liền bảo: "Không ai trả giá". Quả thật Huyền Sa một người biết
dùng của quý và biết giữ của quý, không ai trộm cướp được. Cái quý nhất mà
còn có chỗ trả giá là chưa phải thật quý. Vì đã có trả giá là có so sánh,
có quý tiện, tức còn bị mua đi bán lại. Trái lại, một vật mà không ai có
thể trả giá được, không ai có thể trộm cướp được, đó mới chính là vật quý
vô giá, trên thế gian này không còn gì có thể so sánh.
Chúng ta thấy
Thiền Sư rất khó hiểu. Khi các Ngài nói ở đây mà ý giảng ở đàng kia, nếu
không khéo là chúng ta bị chết ở trên ngôn cú của các Ngài. Huyền Sa vì
người thật hết sức khéo léo! Chúng ta muốn thấy Huyền Sa chăng? Hãy xoay
mặt về hướng Nam nhìn sao Bắc đẩu!
15. Ai thân ai sơ
Hiệp Sơn cùng
Định Sơn đồng đi đường cùng nói chuyện với nhau.
Định Sơn nói:
-Trong sanh
tử, không Phật tức phi sanh tử.
Hiệp Sơn nói:
-Trong sanh
tử, có Phật tức chẳng mê sanh tử .
Cả hai cùng
lên núi lễ vấn Thiền Sư Đại Mai Pháp Thường. Hiệp Sơn đem câu nói của hai
người thuật lại Sư nghe. Và hỏi:
-Chưa biết chỗ
thấy của hai người ai được thân (gần gũi).
Sư bảo:
-Một thân một
sơ.
-Ai được thân?
-Hãy đi sáng
mai lại!
Sáng hôm sau
Hiệp Sơn lại đến hỏi Sư, Sư bảo:
( Người thân
thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân.
BÌNH:
Chúng ta vẫn
thường nghe nói: "Chỗ lý cùng tột vốn không thân sơ, thân sơ là tại nơi
người". Bởi có tâm kia đây mới thấy có gần với đạo hay cách xa đạo. Nếu
tâm "không hai" thì còn chỗ nào là thân là sơ? Thế nên, người hỏi thân sơ
là còn kẹt trong niệm phân biệt ắt rơi vào thức tình, không hợp với đạo.
Nếu chúng ta lại theo đó mà đáp hoặc thân hoặc sơ tức cũng đồng bị kiểm
điểm như họ... Đại Mai thì chẳng như thế, Sư khôn khéo gạt đi một câu:
"Hãy đi sáng mai lại". Sau một đêm trằn trọc nôn nóng muốn biết ai thân ai
sơ, nên sáng hôm sau Hiệp Sơn đến trước hỏi: "Ai được thân?". Rõ ràng bày
quả tang không còn nghi ngờ! Do đó Đại Mai liền bảo: "Người thân thì chẳng
hỏi, người hỏi thì chẳng thân". Hiệp Sơn đành hổ thẹn trở lui.
Thật đau biết
mấy!
Đây là một bài
học đích đáng cho những ai còn có niệm tranh chấp thân sơ, đúng sai. Người
mà thật "thân" tức một câu nói ra đã đầy đủ tự tin, dù cho ai có phê phán
thế nào cũng không nghi; trái lại, nói ra mà còn hồi hộp chờ đợi phê phán
đúng sai tức còn mơ màng chưa phải "thân" rồi!
Từ đó suy ra
những cuộc tranh chấp thông thường cũng vậy. Giả sử hai người cãi nhau đem
đến chúng ta đòi xử ai đúng, ai sai, chúng ta chỉ cần lấy đây xét đoán
khỏi phải tranh chấp nhiều lời. Vì nếu xử người này đúng, người kia sai,
tức kẻ sai liền cho chúng ta bênh vực người này mà ghét bỏ họ, ắt sanh tỵ
hiềm với nhau khó mà dung hòa. Cho nên chỉ cần bảo: "Người đúng thì chẳng
hỏi, người hỏi thì chẳng đúng", để mọi người tự xét lấy. Nên nhớ rằng kẻ
trông mong cho mình đúng là có tâm muốn hơn người, nếu bị cho sai tức sanh
phiền hận, đó là bệnh. Thế nên biết, vừa khởi tâm đúng sai, thân sơ là đã
trật rồi! Huống là chỗ "chí đạo" vốn bặt kia đây, dứt tâm chọn lựa, lấy
đâu mà nói thân nói sơ, nói đúng nói sai? Vậy ai là người trí hãy khéo xét
kỹ, chớ để một chút sai lầm càng xa lý thật!
16. Dứt bặt có không
Hỏi:
-Trong nhà
Thiền thường nói: Chỗ có Phật hãy đi nhanh qua, chỗ không Phật chớ dừng
trụ, lý này thế nào?
Đáp:
-Chỉ là vượt
qua "có" và "không", tức không kẹt hai bên vậy.
BÌNH:
Thường thường
chúng ta nếu không kẹt bên này tức rơi bên kia, do vậy khi nghe nói "Chỗ
có Phật phải đi nhanh qua, chỗ không Phật chớ dừng trụ" liền thắc mắc
không sao hiểu nổi. Nhưng chúng ta quên rằng, nếu còn thấy có Phật, không
Phật tức còn thấy cái hai bên chưa phải cái thấy của người đạt đạo. Quả
thật là người đạt đạo có đủ mắt sáng thì riêng tự có lối đi không một điểm
nhỏ nào có thể dối gạt được. Dụ mây bay giữa trời thênh thang đi khắp
không vướng mắc chỗ nơi, nếu vừa có chỗ dính cứng tức chẳng còn là mây nữa
rồi. Cũng vậy, người mà còn có sở đắc thì không kẹt bên có Phật tức rơi
bên không Phật, chẳng thể nào vượt qua khỏi bẫy của Thiền Sư. Trong đây ai
là kẻ thuộc dòng giống Sư Tử thử vươn vai, rống lên một tiếng cho bầy chồn
cáo vỡ tan, chánh pháp Như Lai sáng ngời muôn thuở!
17. Nói cái gì?
Người xưa nói:
Mạc hành tâm xứ lộ
Bất quải bổn lai y
Hà
tu thậm ma đạo
Thiết kỵ vị sanh thì.
Dịch:
Chớ đi nơi đường tâm
Chẳng mặc áo xưa nay
Đâu cần nói cái gì?
Rất kỵ lúc chưa sanh.
BÌNH:
Chúng ta thấy
bài kệ trên có gì đặc biệt? "Mạc hành tâm xứ lộ": Chớ đi đường tâm là dứt
bặt vọng tình. "Bất quải bổn lai y": Chẳng mặc áo xưa nay là chẳng trụ
chân thật, nghĩa là chẳng đi theo vọng tình cũng chẳng trụ nơi chân thật,
tức chẳng kẹt nơi "vọng" chẳng trụ bên "chân", hai đầu cắt đứt. Chính ngay
khi ấy lại bảo nói cái gì? Ai có thể nói được? Chỉ cần nhằm y nói: "Rất kỵ
lúc chưa sanh" vừa mở miệng là trời đất cách xa, nhích một chút là ngàn
sai muôn sai, cho nên nói chỗ này rất kỵ động đến! Sở dĩ ba đời chư Phật
thường hộ niệm, lịch đại Tổ Sư thầm giữ gìn, dứt bặt lối đi, đầu tro mặt
đất khó lường tung tích, những kẻ tà tâm đều không thể nhìn trộm. Nếu
chẳng phải kẻ tri âm làm sao có thể nói? Trong đây phải thật nhanh mắt,
chớp nhoáng như điện xẹt, trong khoảng nháy mắt là đã qua rồi vậy. Ví như
trái banh thả trên dòng nước, động đến liền xoay, chạm đến liền chuyển,
lăn tròn tự tại không chút đình trệ.
Như có vị trời
đến hỏi Phật:
-Thưa Tôn Giả,
làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
Phật đáp:
-Này hiền giả,
không đứng lại, không bước tới, ta vượt khỏi bộc lưu.
Vị trời hỏi
tiếp:
-Thưa Tôn Giả
làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
Phật đáp:
-Này hiền giả,
khi ta đứng lại thì ta bị chìm xuống, khi ta bước tới thì ta trôi giạt. Do
vậy, này hiền giả, không đứng lại, không bước tới ta vượt khỏi bộc lưu.
(Tương Ưng Bộ Kinh).
Bộc lưu là
dòng nước chảy nhanh, trên dòng nước chảy nhanh nếu ta đứng lại là bị nhận
chìm ngay, vừa bước tới liền bị cuốn trôi theo. Ngay đó không đứng lại,
không bước tới, tự làm chủ chính mình, tức vượt khỏi hai đầu.
Cũng vậy, "Chớ
đi đường tâm" là không bước tới; "Chẳng mặc áo xưa nay" là không đứng lại;
"Rất kỵ lúc chưa sanh" ngay đó liền tự tại vượt khỏi vòng sanh tử lưu
chuyển.
Vì vậy, người
tu Thiền chúng ta phải nhận cho thật kỹ chỗ này, không khéo thì dễ bị ngăn
trệ đường tu. Chủ yếu là dứt bặt hai bên, vốn không chỗ trụ. Không trụ nơi
thường tình, không dừng nơi chân thật. Thiền sư phải là những người đi qua
không để lại dấu vết. Nếu còn có chỗ rơi thì đâu khỏi bị người kiểm điểm!
Thế nên câu: "Rất kỵ lúc chưa sanh" quả thật là một nhát búa đập thẳng vào
đầu chúng ta, không còn có chỗ suy tư. Là những người tu thiền, bước đi
trên đường giải thoát, chúng ta không thể xem thường chỗ này! Đây là chỗ
tối kỵ trong nhà Thiền. Các Tổ đâu chẳng thường bảo:
-Chớ động đến.
-Nếu động đến
thì sao?
-Tức tan nhà
nát cửa, không còn có chỗ để nương tựa.
Thử hỏi ai đã
từng động đến?
-Tha cho ba
gậy! |