|
LUẬN TỌA THIỀN
Thiền sư Đại Giác.
Xét thấy, Tọa
Thiền là pháp môn đại giải thoát. Các pháp từ đó mà lưu xuất, muôn hạnh từ
đó mà thông đạt, thần thông, trí huệ, phước đức, đều từ trong cửa này mà
khởi lên, cho đến con đường tánh mạng của trời, người cũng đều từ cửa ngõ
này mà mở ra.
Chư Phật đã từ
cửa ngõ này mà ra vào. Người thực hành hạnh Bồ-tát chính phải vào cửa này,
hàng Nhị thừa thì còn ở giữa đường, bọn ngoại đạo tuy có đi mà chẳng vào
được con đường chính. Phàm các tông Hiển, Mật chẳng thực hành pháp môn
này, thì chẳng còn con đường nào khác để thành Phật.
1. HỎI: Nói
rằng Tọa Thiền là cội nguồn của các pháp, ý chỉ đó thế nào?
ĐÁP: Thiền là
Phật trong tâm, Luật là Phật tướng ngoài, Kinh Giáo là lời Phật nói ra,
niệm Phật tức là niệm danh hiệu Phật, tất cả đều từ trong Phật tâm lưu
xuất, thế nên nói cội nguồn là vậy.
2. HỎI: Pháp
Thiền vô tướng, vô niệm, linh đức chẳng lộ bày, kiến tánh cũng chẳng có
chứng cứ, do đâu mà có thể tin được?
ĐÁP: Tâm ta
cùng tâm Phật một vị, há chẳng phải là linh đức ư? Tâm ta ta chẳng biết,
bảo cái nào làm chứng cứ? Tức tâm tức Phật, cầu chứng cứ gì bên ngoài?
3. HỎI: Có thể
tu pháp nhất tâm, cũng tu muôn hạnh, muôn thiện, công đức có gì so sánh
được?
ĐÁP: “Chóng
giác xong Như Lai Thiền, sáu độ muôn hạnh thể tự tròn đầy”. Thế thì, một
pháp thiền gồm đủ tất cả pháp. Há chẳng thấy nói: “Ba cõi chỉ một tâm,
ngoài tâm không pháp khác”. Dù tu muôn hạnh mà không nhận pháp tâm này,
thì không thể đắc ngộ. Nếu chẳng đắc ngộ mà thành Phật, lẽ ấy làm gì có?
4. HỎI: Pháp
tâm này đâu thể tu hành, dù có dụng công tu hành, cũng chẳng được khai
ngộ, kết quả thành Phật chẳng nhất định, thì dù cho nhọc nhằn tu hành, nào
có lợi ích gì?
ĐÁP: Tông này
là pháp môn sâu mầu kín nhiệm, nếu tai ta được một lần nghe, liền thành
thắng nhân Bồ-đề. Người xưa nói:
“Người nghe
tông này mà không tin, phước còn vượt hơn trời, người; kẻ học mà không
thông hiểu thì trọn đến quả Phật”. Nên biết, pháp này là tâm tông của
Phật. Phật tâm tự nó vốn chẳng có mê, ngộ, đây chính là diệu thuật của Như
Lai. Dù rằng chưa được tỏ ngộ, nhưng một phen ngồi thiền, tức là ngồi tòa
Phật, một ngày ngồi thiền, một ngày làm Phật, trọn đời ngồi thiền là trọn
đời làm Phật, kiếp tương lai cũng như thế, người chỉ tin thế ấy, là người
đại căn cơ.
5. HỎI: Nếu đã
như thế, thì tôi cũng có thể tu hành. Vậy làm thế nào an tâm? Phải dụng
tâm thế nào?
ĐÁP: Phật tâm
tất cả đều không trước tướng. Lấy lìa tướng làm thật tướng. Đi, đứng,
ngồi, nằm trong bốn oai nghi, lấy ngồi làm nghĩa an ổn. Do ngồi ngay thẳng
mà tư duy thật tướng.
6. HỎI: Nghĩa
ngồi ngay thẳng, tư duy thật tướng này, xin nói rõ hơn?
ĐÁP: Ngồi ngay
thẳng, chính là đức Như-Lai kiết-già-phu-tọa. Tư duy thật tướng, cũng gọi
là ngồi thiền.
Kết pháp giới
định ấn, thân tâm chẳng động, mắt mở chừng phân nửa, giữ mũi thật ngay
thẳng, sẽ thấy các pháp hữu vi in tuồng giấc mộng, như làn bọt nước, cũng
chẳng khác bong bóng nổi. Chớ buộc niệm !
7. HỎI: Chân
ngồi kiết-già, tay bắt ấn là oai nghi của Như-Lai, còn mắt mở phân nửa,
giữ mũi ngay thẳng là việc gì?
ĐÁP: Mắt mở
lớn sẽ thấy xa, bị cảnh lăng xăng trước mắt bức bách, tâm dễ tán loạn.
Nhắm mắt thì sa vào cảnh hôn trầm, trong tâm không được sáng suốt. Mắt mở
phân nửa, thì niệm chẳng vội vàng, thân tâm nhất như… Xét rõ, thì sanh tử,
phiền não chẳng có thể gần gũi. Đó gọi là lập địa thành Phật, là đại dụng
đại cơ.
8. HỎI: Dù
được nghe các việc như thế rồi, nhưng lòng tin vẫn chưa vững. Đọc tụng
kinh chú chứa công ấy, trì trai giữ giới xướng danh hiệu Phật, nhóm đức
ấy, việc đó có chỗ tựa nương. Riêng chẳng làm việc gì khác, yên ngồi trong
thiền định, hay có những kỳ đặc sao?
ĐÁP: Nghi như
thế là nghiệp sanh tử, nghi như thế là phiền não chướng. Thực hành tất cả
pháp tâm không sở đắc, gọi là thậm thâm Bát nhã, là trí huệ Bát nhã. Trí
huệ này, là kiếm báu có thể chặt đứt cội nguồn sinh tử. Tu các căn lành,
mong được quả báo, đó là phàm phu mê muội. Hàng Bồ-tát khi tu các căn
lành, chẳng cầu quả báo ấy, chỉ hướng đến đại từ đại bi mà tu thiện căn,
cho nên thành chất liệu Bồ-đề.
Vì mong cầu
quả báo mà tu các căn lành, chỉ thành đạt quả phúc nhỏ hẹp trời người, hạn
định trong nghiệp sinh tử hữu lậu thôi.
9. HỎI: Chẳng
nhờ chứa nhóm các căn lành, công đức thì đâu có thể thành tựu muôn đức,
tròn đầy Phật quả được?
ĐÁP: Nếu đợi
nhóm hợp đủ các căn lành, công đức thì phải trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp
mới thành Phật được. Ngược lại, người thực hành nhân quả bất nhị pháp môn
là thành Phật ngay trong đời này. Nghĩa là, minh tự tâm, ngộ tự tánh, nhận
thấy tự mình vốn sẵn là Phật, chẳng đợi đến nay mới thành.
10. HỎI: Người
kiến tánh thành Phật, chẳng y cứ nhân quả. Vậy thì, không thể tu các căn
lành sao?
ĐÁP: Người
kiến tánh thành Phật, dù có tu các căn lành, chỉ vì lợi ích, chẳng vì quả
báo. Bởi giáo hóa chúng sanh, nên dạy nhân quả, do vì thân mình không sở
đắc, nên chẳng trông vào các công đức; vô tâm với tất cả.
11. HỎI: Người
vô tâm như thế nào? Nếu đã vô tâm, thì ai kiến tánh, ai ngộ đạo? Cái gì
lại hay vì chúng sanh mà thuyết pháp giáo hóa?
ĐÁP: Vô tâm là
nói người không tất cả tâm ngu si, chẳng phải nói người không tâm biện
biệt cặn kẽ tà chánh. Ta chẳng nghĩ tưởng chúng sanh, cũng chẳng vọng cầu
Phật đạo, lại chẳng nghĩ mê, chẳng cầu ngộ, chẳng chạy theo sự tôn kính
của người, cũng chẳng thích nghe danh hư lợi dưỡng, chẳng nhàm chán độc
hại oán thù, mặc cho tất cả việc lành dữ, chẳng khởi niệm sai biệt, đó gọi
là Đạo Nhơn Vô Tâm.
Thế nên nói:
Đạo vô tâm hợp với người, người vô tâm hợp với đạo.
12. HỎI: Trì
trai giữ giới, đọc tụng kinh chú, xướng danh hiệu Phật, công đức đó có hơn
kém nhau chăng?
ĐÁP: Người trì
trai là lìa ăn tham dục, kiếp tương lai sẽ được phước đức lớn. Giữ giới,
là vì ngưng tâm ác, sinh tâm lành. Người có tâm lành, nếu sinh trong cõi
trời, người thì địa vị rất là tôn quý. Còn người đọc tụng kinh chú, là gìn
giữ pháp Phật, nên đời sau sẽ được trí huệ lớn. Do xướng danh hiệu Phật,
đời sau quyết chắc sanh đất Phật. Lại vô tâm này là Phật tâm. Công đức
Phật tâm này lời lẽ không diễn tả xiết, nghĩ lường không thể cùng tột,
thật là chẳng thể nghĩ nghị.
13. HỎI: Giờ
đây, công đức của căn lành đã rõ ràng rồi, chẳng còn nghi ngờ nữa. Nhưng
đối với công đức của vô tâm còn có chỗ chưa hiểu?
ĐÁP: Học đòi
oai nghi Phật, truyền đạt lời nói Phật và xướng danh hiệu Phật, đều có
công đức. Lại đạo nhơn vô tâm cũng hay có các công đức. Nếu bảo vô tâm
không công đức, thì các hạnh khác không thể có công đức. Vì tất cả căn
lành là nhân duyên công đức của trời, người, còn vô tâm là con đường chóng
chứng đạo Bồ-đề. Công đức đó không thể dùng lời lẽ mà kể xiết, thực là một
đại sự nhân duyên, phiền não, sinh tử tự tiêu diệt, thân tâm nhất như, tức
tâm thành Phật, còn nghi gì nữa ư?
Người xưa nói:
“Cúng dường ba đời các đức Phật, chẳng bằng cúng dường một đạo nhơn vô
tâm” Thực là, cảnh giới chỉ có Phật với Phật biết nhau, hạng phàm phu cùng
Nhị thừa chẳng có thể lường nổi.
14. HỎI: Các
kinh chẳng nói vô tâm, cũng chẳng khen ngợi. Cớ sao tông này lại quý trọng
lẽ ấy đến thế?
ĐÁP: Trong các
kinh nói đến lẽ này rất nhiều. Như nói: “Ngôn ngữ đạo đoạn”. Hoặc nói:
“Bất khả thuyết”. Hay là: “Cứu cánh không”. Cũng nói: “Một đại sự nhân
duyên”. Hoặc lại nói: “Các pháp vốn tịch diệt”. Đức Thích Ca đóng cửa
thất, Ngài Tịnh Danh ngậm miệng. Đây há chẳng phải chỉ bày cảnh giới vô
tâm là gì ư? Vì ảnh hưởng đến bậc Bồ-tát đã chứng trí, nên đức Thế Tôn
không nói đó thôi. Lại hàng Nhị thừa còn kém cỏi nên Phật cũng chẳng nói.
Do đó, kinh Pháp Hoa dạy: “Đối với hạng người không trí, chớ nói kinh
này”. Ấy chẳng ngoài ý dẫn trên.
Các kinh có
đến tám muôn bốn ngàn pháp môn, nhưng chẳng ngoài hai pháp sắc, không. Tất
cả loài có hình tướng đều thuộc sắc là thân, còn loài chẳng lộ bày tướng
ra, đều thuộc Không. Thân có hình tướng, nên nói là sắc, tâm không hình,
nên bảo rằng không. Các kinh điển của Phật nói, đều chẳng rời ngoài hai
pháp sắc, không này. Đó là nói cảnh giới vô tâm bất khả thuyết. Sở dĩ,
chẳng khen ngợi lẽ này, là vì ngôn ngữ chẳng đến được, nên chỉ nói “Ngoài
giáo truyền riêng”.
15. HỎI: Thế
thì, sắc thân này có thể là mê ư? Cũng có thể là ngộ ư? Tâm là vật gì? Căn
bản của mê và ngộ không thể không biết đó. Lại tâm ở trong thân, hay ở
ngoài thân, nó từ chỗ nào dấy lên như thế?
ĐÁP: Sắc thân
bốn đại, năm uẩn đầy khắp mười phương, là căn bản của tất cả chúng sanh.
Nhân duyên hòa hợp, thì thân thể kiến lập, gọi đó là sinh. Quả báo đổi
dời, thì bốn đại phân tán, gọi đó là chết. Sắc tướng, thì có phàm thánh,
tâm thể vốn chẳng ngộ, mê. Tuy nhiên, giả có mê, nên gọi chúng sanh, ngộ
gọi là chư Phật. Mê ngộ chỉ nhân vọng tâm, chân tâm thì không mê ngộ,
chúng sanh hay Phật vốn nhân nơi một tâm mê ngộ này. Rõ được bản tánh, thì
hoàn toàn không có phàm, thánh sai biệt. Nên kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:
“Bản tánh
nhiệm mầu tròn sáng, rời ngoài các danh tướng, xưa nay chẳng có thế giới
chúng sanh”
16. HỎI: Tâm
tánh vốn chẳng mê. Nếu vậy, mê tình khởi từ chỗ nào?
ĐÁP: Nếu khởi
vọng niệm, mê liền theo đó mà đến. Mê đến, nên phiền não sanh. Vọng niệm
nếu dứt thì mê cũng từ đó mà đi. Mê đã đi, nên phiền não diệt. Nên biết,
pháp phiền não là pháp sinh, đó là hạt giống sanh tử, Bồ-đề là pháp diệt,
thì là vui tịch diệt. Khi mê, các pháp đều là phiền não. Lúc ngộ, các pháp
đều là Bồ-đề. Người đời chẳng biết cội gốc mê ngộ này, nên nhàm sanh tử,
buộc niệm chẳng khởi, cho đó là một niệm không sanh, là vô tâm. Đó vẫn là
niệm sanh tử, chẳng phải vô tâm, chẳng phải tịch diệt. Dùng niệm dứt niệm,
là sanh tử nối tiếp.
17. HỎI: Tiểu
thừa thì rơi vào lý Không, chẳng biết vô tâm. Đại thừa Bồ-tát có thể được
vô tâm chăng?
ĐÁP: Hàng
Bồ-tát đến Thập địa vẫn còn lầm trí nhị chướng, chẳng được vô tâm. Một
hoặc chướng này, vào đệ Thất địa, tâm tìm pháp vẫn còn, nên bị chướng. Đến
đệ Thập địa, có tâm giác chiếu, nên cũng bị chướng, cho đến lúc thành Đẳng
Chánh Giác, mới hợp với vô tâm này.
18. HỎI: Đã là
hạng Bồ-tát đến Thập địa còn chẳng biết, huống nữa bọn phàm phu sơ tâm học
đạo, thì làm sao có thể hợp với vô tâm?
ĐÁP: Đại thừa
thì không thể nghĩ bàn. Có trường hợp thẳng tiệt (chặt đứt) một niệm,
chóng ngộ cội nguồn.
Các nhà bên
giáo lập Tam hiền, Thập thánh là vì hạng người căn cơ chậm lụt. Hạng lợi
căn, ngay khi mới phát tâm liền thành Chánh giác. Cũng có trường hợp thẳng
đến thành Phật một cách nhanh chóng không thể nghĩ lường.
Bậc Thập Địa,
Đẳng Giác hợp với vô tâm, thì ngang với hạng người hiện nay kiến tánh
thành Phật. Nên biết, trong lý vô tâm không có sai khác.
19. HỎI: Thấy
tánh thành Phật, việc đó thế nào? Tánh là gì? Thấy là thấy cái gì? Dùng
trí có thể biết chăng? Con mắt có thể thấy chăng? Nghĩa đó ra sao?
ĐÁP: Học kinh
luận được trí, tức là trí phân biệt bằng thấy nghe hiểu biết. Ở đây, người
tu hành chẳng dùng trí ấy mà thấy biết bằng hồi quang phản chiếu, bằng tự
tánh sẵn có, cũng gọi là huệ nhãn. Tuy nhiên, sau khi thấy tánh rồi, vẫn
thụ dụng bằng thấy nghe hiểu biết như thường.
20. HỎI: Thấy
biết tự tánh sẵn có, cái thấy biết có thể biết được, còn tự tánh sẵn có là
thế nào?
ĐÁP: Vì tất cả
chúng sanh xưa nay vẫn có tánh, nên trợ giúp khởi lên tự thể. Tánh này từ
vô thủy đến nay chẳng sinh, chẳng diệt, không sắc, không hình, thường trụ
chẳng biến đổi, gọi đó là tự tánh sẵn có. Tự tánh này cùng với chư Phật,
một vị bình đẳng, nên cũng gọi là Phật tánh. Tất cả ngôi Tam Bảo, chúng
sanh trong sáu nẻo, do tánh này làm cội gốc mà thành tựu tất cả pháp.
21. HỎI: Hồi
quang phản chiếu là thế nào?
ĐÁP: Chiếu là
soi rõ các pháp bên ngoài, tự mình có cái sáng suốt chiếu lại bên trong.
Tâm sáng suốt,
như ánh sáng không lường, không ngằn của mặt trời, mặt trăng hay chiếu soi
trong ngoài tất cả cõi nước. Ánh sáng đó, chẳng đến chỗ u ám gọi là núi
đen hang quỷ, các loài quỷ thần đều ẩn nấp trong đó. Hạng quỷ thần này,
hay nhiễu hại chúng sanh. Tâm pháp cũng như thế, trí sáng không lường
không ngằn của tâm tánh hay chiếu suốt các cảnh giới. Ánh sáng đó, chẳng
đến chỗ ngăn khuất, gọi là vô minh, ấm giới, tất cả phiền não đều trụ
trong đó. Phiền não, thì hay nhiễu hại chúng sanh. Trí tâm là ánh sáng.
Vọng niệm là những cái bóng. Soi sáng sự vật nói là chiếu. Cảnh giới tâm
niệm chẳng đổi dời hướng vào bản tánh, nên nói rằng hồi quang phản chiếu.
Lại nói chiếu
khắp, chính là chiếu khắp đương thể (thể hiện hữu) chỗ mê, ngộ chưa hiện
bày. Thế mà thời nay người dùng vọng niệm để suy tìm bản tâm, lấy phiền
não làm thú vui, thì bao giờ mới cởi bỏ sanh tử?
22. HỎI: Ngồi
thiền lấy “một niệm không sanh” làm tỉnh yếu (chỗ quan yếu để tỉnh giác).
Lấy niệm dừng niệm, đây thời chẳng khác lấy máu rửa máu. Việc đó thế nào?
ĐÁP: Một niệm
không sanh, chính là tâm pháp bản thể, chẳng phải dừng niệm, cũng chẳng
phải chẳng dừng niệm, chỉ là một niệm không sanh. Nếu hợp với bản thể này,
thì đó là pháp tánh Như Lai. Bấy giờ, việc ngồi thiền cũng bằng vô dụng.
Không mê, không ngộ, há lại còn có một niệm ư? Nếu chẳng nhận được bản thể
này, thì đâu gọi là được không sanh. Dù đè niệm chẳng cho khởi, cũng đều
là vô minh. Chẳng khác lấy đá đè cỏ, chẳng bao lâu cỏ ấy lại sanh. Phải
công phu miên mật lắm, không thể dung dị mà được.
23. HỎI: Hoặc
có người hỏi, lúc đến chỗ một niệm không sanh, thì thế nào?
ĐÁP: Một niệm
không sanh là hoàn toàn không tướng sanh diệt, đi lại, có thể nói năng chỉ
bày. Sự sanh tử theo niệm mà khởi, nếu chẳng biết chỗ niệm khởi thì, chẳng
rõ được cội gốc sanh tử. Các chúng sanh trong suốt 12 giờ bị giặc phiền
não sai sử trái với tánh bản hữu. Nếu mây vọng niệm tan, tâm tánh như ánh
sáng mặt trăng. Những niệm xấu từ trước nay đều trở thành trí huệ, dùng
niệm này có thể thuyết pháp giáo hóa chúng sanh. Người xưa bảo:
“Các ngươi bị
12 giờ sai sử, ta sai sử được 12 giờ”
24. HỎI: Khi
ngồi thiền, niệm khởi là lỗi, ngừng lại có lỗi chăng? Việc đó thế nào?
ĐÁP: Lúc chưa
thấy tánh, khởi hay ngừng đều có lỗi. Trong kinh Phật dạy: “Chẳng khởi
vọng niệm”, hoặc nói: “Cũng chẳng diệt hẳn”. Đó là lối nói khiến cho ta
nhận bản tánh. Người thấy tánh thì việc tu hành là vô dụng. Bệnh mê vọng
đã trừ, khoa trị liệu nào có ích gì. Tuy nhiên, bệnh mê tình dấy khởi, thì
dùng tu hành để trị liệu, bệnh niệm chẳng còn khởi nữa, thì chẳng dùng
thuốc tiếp tục.
25. HỎI: Dù có
niệm khởi, nhưng niệm vốn không tự tánh, thì có lỗi gì?
ĐÁP: Tuy không
tự tánh, nhưng dấy khởi đều có lỗi. Cũng như việc trong mộng, sau khi thức
giấc, biết nó hư vọng, há bảo không lỗi sao? Khởi lên tức thành lỗi, còn
mộng là do chúng sanh vọng thấy, một khi được nghe Phật pháp, phát khởi
lòng tin, việc đó thù thắng hơn. Thế nhưng, chẳng phải người có đạo tâm
chân thực, dụng công một cách hời hợt, chẳng biết lỗi của tâm, bất chợt đè
ép các niệm nhỏ mà chẳng biết các niệm lớn. Nếu chẳng đoạn tiệt từ cội
nguồn của nó, thì dù có kết được duyên phần, cũng khó thoát khỏi sanh tử.
26. HỎI: Tất
cả việc lành, dữ đều chớ nghĩ lường v.v… Mặc kệ nó, việc xấu tốt không nên
nghĩ lường, như thế mới thực là người dụng tâm tọa thiền. Nếu vậy, đối với
các niệm lớn, nhỏ phải làm sao đây?
ĐÁP: Tất cả
việc lành, dữ đều chớ nghĩ lường, đó là lời nói chặt thẳng vậy. Còn tính
thời gian ngồi thiền, chẳng nên dùng nó. Nếu đến ruộng đất này, thì đi,
đứng, ngồi, nằm đều là thiền hẳn chẳng nên cố chấp tướng ngồi. Tổ sư bảo:
“Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói, nín, động, tịnh thể an nhiên”.
Trong Kinh
Phật có dạy:
“Thường sống
trong đó, kinh hành hoặc ngồi nằm…”. Những niệm nhỏ lăng xăng theo cảnh
trước mắt. Những niệm lớn khởi lên, là tham dục, sân khuể, ngu si, tà
kiến, kiêu mạn, tật đố, danh văn, lợi dưỡng… Người chí mỏng, lúc ngồi
thiền, chỉ thu nhiếp các niệm nhỏ. Còn những ác niệm này chẳng biết chúng
ngủ ngầm trong tâm ta, gọi là những niệm lớn. Ném bỏ các ác niệm này, gọi
là chặt thẳng cội nguồn. Chặt thẳng cội nguồn thì phiền não là Bồ-đề, ngu
si thành trí tuệ, ba độc thành ba tụ tịnh giới, vô minh thành pháp tánh
đại trí. Đã vậy còn nói gì là các niệm nhỏ ư? Đức Phật dạy:
“Nếu hay
chuyển vật, tức đồng Như Lai”. Là ý này vậy. Chỉ hay có thể chuyển vật,
chớ để bị vật chuyển!
27. HỎI: Nếu
hay chuyển vật tức đồng Như Lai. Vật là vật nào? Chuyển là việc gì?
ĐÁP: Vật tức
là vạn vật, chuyển tức là thoát thể. Chuyển vật tức là gặp tất cả cảnh
giới mà tâm chẳng đổi, đều hướng đến bản tánh. Cảnh chẳng ngại tâm, thiên
ma ngoại đạo, phiền não sanh tử, chẳng có cơ hội thuận tiện. Đấy gọi là
chuyển vật, nơi vật chẳng đổi tâm mà dụng tâm. Thấy Phật, thấy pháp, còn
phải đoạn tuyệt, hà huống là vọng niệm ư? Tâm đoạn tuyệt này, dù giống như
tà niệm, kỳ thực nó là chánh niệm. Chánh niệm thì gọi là huệ niệm, cũng
chính là trực nhập trí huệ chánh kiến.
28. HỎI: Phiền
não, Bồ-đề, đều từ một tâm này khởi lên đã phân minh, nhưng đầu mối của nó
khởi lên từ chỗ nào?
ĐÁP: Nghe
tiếng, thấy sắc, ngửi mùi, nếm vị, biết xúc chạm, nhận rõ các pháp đều là
đức dụng của sáu căn. Gá cảnh giới này, rồi phân chia thành lành, dữ, biện
biệt chánh tà, cho là trí huệ. Nơi đó lập nhân ngã, khởi tắng ái đều là
vọng kiến. Theo vọng kiến ấy, thành trước tướng gọi là mê. Từ đây khởi mê
năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, gọi là phiền não. Do phiền não, kiến
lập thân thể. Lại chúng sanh, phần nhiều ưa giết hại, trộm cướp, tà dâm,
nói vọng v.v… hoàn toàn bị rơi vào ba đường dữ, đều từ vọng niệm mà khởi
lên.
Những vọng
niệm này lúc chúng mới phát khởi, liền chuyển thẳng tất cả hướng đến bản
tánh, tức thành vô tâm. Đã an trụ nơi vô tâm, thì thân năm uẩn này liền
thành năm phần pháp thân của Như Lai. Đấy gọi là: “Nên không chỗ trụ, mà
sanh tâm kia”.
Dụng tâm như
thế là người đại dụng tu hành.
29. HỎI: Người
dụng công ngồi thiền tích lũy công phu lâu ngày đã thuần thục, thì không
thể có tâm phiền não tà mê. Kẻ mới tu hành, làm sao có thể sạch hết phiền
não?
ĐÁP: Chẳng
chán sợ phiền não, chỉ nên tịnh tâm mình. Người xưa nói: “Học đạo cần phải
sắt đá, nắm được đầu tâm liền xét thẳng đến Vô thượng Bồ-đề, tất cả việc
thị phi cũng chớ quản. Nắm chặt đầu tâm là phê phán tâm tà chánh”.
Nên biết người
nhận được cái lầm của tâm mình gọi là người trí. Nếu đã có trí huệ, thì
không còn mê. Ví như từ xưa ở trong hang tối, chưa từng gặp ánh sáng mặt
trời, mặt trăng, chợt có ánh đèn sáng, thì bóng tối kia chẳng cần đuổi mà
chốc lát tự nó biến thành sáng.
Bóng tối vô
minh phiền não, khi có ánh sáng trí huệ chiếu đến, thì không đợi phải đuổi
mà tự đi. Đêm xuống khắp hư không tối, nhưng ánh sáng mặt trời xuất hiện
thì hư không tối tăm kia, liền thành sáng khắp.
Tâm pháp cũng
như thế. Mê thì tối, ngộ là sáng. Ánh sáng trí huệ chiếu soi, thì bóng tối
phiền não tan diệt liền thành sáng suốt. Thế nên, Bồ-đề không riêng có hai
pháp.
30. HỎI: Chiếu
phiền não tối, là nương sức trí huệ, không trí huệ, thì không thể có
Bồ-đề. Thế thì làm thế nào được trí huệ này?
ĐÁP: Trí quang
của mình, tự nó sáng suốt. Tuy nhiên khi bị vọng trần che khuất, tạm thời
nó mất đi, nên nói mê mới nổi dậy, chẳng khác người trong lúc thấy chiêm
bao, mỗi việc mỗi việc đều là tướng chân thật, sau khi thức giấc, lại
không một việc.
Cũng thế, mộng
vọng tưởng sau khi tỉnh, biết nó từ nơi bản không. Do chúng sanh mê muội,
nên nhận vọng làm thực.
31. HỎI: Người
ngộ là hằng ngày so sánh việc chẳng biết mà chợt biết được, vậy có thể
biết được việc của quá khứ, vị lai chăng?
ĐÁP: Hết sạch
vọng kiến, mộng lớn chốc lát tỉnh biết, thấy Phật tánh, gọi là đại ngộ,
đại triệt. Chỗ này so sánh nghĩ lường không thấu nổi.
Biết được việc
quá khứ, vị lai, là do sức thần thông, và do công lực tu hành, chẳng nên
gọi là đại ngộ. Bọn thiên ma, quỷ thần, ngoại đạo, tiên nhơn đều có thần
thông này, xưa kia họ từng tu hành các khổ hạnh. Đức đó tuy có, nhưng
chẳng rời tà kiến, nên chẳng vào được trong hàng Phật đạo.
32. HỎI: Người
ngộ đạo, đắc pháp, mà chẳng đầy đủ thần thông, thì có đức dụng gì?
ĐÁP: Thân này
bởi do quá khứ ngu mê mà kiến lập, dù là người kiến tánh thành Phật, nhưng
thần thông chưa lộ bày. Thế nhưng, ngộ thì thấu thoát sáu trần, đoạn tuyệt
sinh tử, nên từ đó mà đầy đủ thần thông diệu dụng. Đây chẳng phải là sức
thần thông hữu lậu của bọn thiên ma, ngoại đạo…
Người hoát
nhiên đại ngộ, chẳng cần phải trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp, liền thành
Phật đạo, đâu riêng luận thần thông diệu dụng ư!
33. HỎI: Kiến
tánh thành Phật, cùng tức tâm tức Phật, có khác nhau chăng?
ĐÁP: Tức tâm
tức Phật, là lời nói chỉ thẳng ngoài tâm không có Phật. Nếu nhận nơi ý chỉ
này, là người lanh lợi. Hoặc cũng chỉ bày phi tâm phi Phật…
Kiến tánh
thành Phật, là thấy biết tự tánh, đoạn tuyệt mạng căn chúng sanh, nhận ra
bản tánh nhiệm mầu tròn sáng. Thế thì, không còn sinh tử, chẳng có phiền
não, chỉ giả danh mà gọi là thành Phật. Phật là giác. Giác, thì rõ ràng
xưa nay chẳng từng mê. Tuy không đồng, dị mà vào cửa in tuồng có sự sai
khác. Do đó, liền thành lời nói có hai chiều.
34. HỎI: Tánh
thì thường trụ bất biến, chư Phật cùng chúng sanh một vị bình đẳng. Tuy
nhiên, mê là chúng sanh có khổ sanh tử. Như vậy, đâu có thể bảo một vị
bình đẳng được?
ĐÁP: Một vị
bình đẳng là chỗ trí huệ chiếu đến, chẳng phải hạng ngu si thấy được.
Tổ sư dạy:
“Phải dùng hòn gạch đi gõ cửa thiện tri thức”. Khi chưa vào cửa, lời nói
kiến tánh thành Phật là tột cùng. Vào được cửa này, vì lìa các tướng, nên
thành Phật lại vô đắc.
35. HỎI: Các
tông Hiển, Mật, đều có tám pháp: Giáo, Lý, Trí, Đoạn, Hạnh, Vị, Nhân, Quả.
Hàng Nhị thừa Thanh văn, tu tứ thiền, bát định, khỏi được ba tai nạn,
nước, lửa, gió. Không, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vào vô dư Niết Bàn.
Bậc Bồ-tát, gìn giữ ba tụ tịnh giới, tu từ bi vạn hạnh, trải qua ba ngôi
Hiền, mười bậc Thánh, dứt được các phiền não trong và ngoài. Nếu bảo,
phiền não không có nơi chỗ thì cảnh giới Phật nương đâu mà có ba đời chư
Phật, ra khỏi pháp giới chân như, thị hiện trong cõi dục sinh tử này ư?
ĐÁP: Chư Phật,
Bồ-tát, lấy việc lợi sinh làm sự nghiệp, nếu chẳng làm lợi ích chúng sanh
thì chẳng phải là Phật, Bồ-tát. Hàng Tam thừa, chẳng vì lợi ích chúng
sanh, nên Đại thừa cho họ đã rơi vào hầm sâu giải thoát. Hàng Bồ-tát Tam
hiền, Thập thánh chuộng vào cửa huyền, vì độ chúng sanh mà ra khỏi cõi an
lạc tịch quang, hiện thân vào đời ác năm trược, thành đạo dưới cội Bồ-đề.
Ví như chỗ cao
nguyên đất bằng, không thể mọc hoa sen, nơi ẩm thấp, bùn lầy hoa sen
thường sinh trưởng tươi đẹp. Lại như việc cấy hái của nhà nông, chỗ đất
trắng khô, không thể gieo giống lúa mạ được, gặp nơi bùn ướt có nhiều phân
tốt, giống lúa mạ mới phát triển mạnh mẽ. Nhân duyên đến mùa, dương khí
sinh động, mưa gió thấm nhuần, mầm non lớn dần, thân cây, nhánh lá xinh
tươi, rậm rạp, lúa mạch, lúa mì… bắt đầu rộ chín. Bấy giờ công việc của
nhà nông hoàn tất, có thể ca khúc thanh bình.
Chư Phật ra
đời cũng thế. Cõi giải thoát tịch quang chẳng hay kiến lập Phật pháp, mà
trong đời ác năm trược, các Ngài hay mặc y xấu rách, đúng thời cơ nói
pháp, gieo hạt giống chân chính, khuyến dẫn chúng sanh đang bị phiền não
ác nghiệp lôi cuốn. Nhân duyên đến mùa, mặt trời tuệ chiếu soi, gió lành
thổi mát, mưa pháp đượm nhuần, vị cam lồ chan rưới, mầm non, nhánh lá, gốc
giác đạo sum sê. Cây Bồ-đề sống mạnh, liền nở hoa Đẳng giác kết trái Diệu
giác. Thế là công việc hoá đạo lợi sanh được hoàn thành viên mãn, khi này
các Ngài có thể xướng khúc Diệu pháp Niết Bàn thường lạc.
Hàng đạo nhơn
xem nhục thân này như một gốc cây, gặp đất thối lục trần, sanh hạt giống
giải thoát. Đã gieo mộng sắc thân, mầm chồi tánh trí cũng nhân đây nẩy nở.
Cội cây tâm niệm lớn dần, cọng ý tưởng phát triển, nhánh thần thức rậm
tươi, lá tình dục sum sê, thành cội rễ vô ưu, trổ hoa tri kiến, kết trái
giác ngộ. Như thế sự nghiệp của đạo hoàn thành, có thể vui hát khúc Vô
tâm.
Phàm phu cũng
có một gốc cây, gặp đất khô cằn ngu si, vun quén bằng phân tham ái, gieo
hạt giống vô minh. Gieo mộng năm uẩn, mầm chồi nghiệp thức sống dậy, cây
chấp trước lớn dần, cộng nhân ngã, nhánh siểm khúc, lá tật đố xanh rậm,
thành gốc cây phiền não, đơm hoa đẹp mê say, kết nên trái tam độc, và đó
là việc danh lợi đã xong, có thể ca bài vui ngũ dục.
Hãy nói từ nơi
ba gốc cây này có sự hơn kém nhau chăng? Nếu có người một tay nắm cả ba
gốc cây này, cùng một lúc nhổ sạch, vun trồng nơi đất không âm dương, liền
thành cây vô ảnh, đương sự là hạng người có lực lượng lớn.
Trời đất cùng
ta đồng một cội nguồn, muôn vật với ta chẳng khác thể tánh. Thử hỏi, ta là
gì? Nếu nói rằng, thành Phật, thì trời đất còn cách xa ta lắm!
] |