|
MA THỨ TƯ: MA SỞ TRI
Chánh văn:
Ma này tức là
lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ, thì chánh định bị nhiễu
loạn, không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có lỗi như thế?
Chính vì biết
ta đắc ngộ, biết ta thông tông, biết ta minh giáo, biết ta hội lý, văn ta
lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh định, ta có
trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết ta
được thông, biết ta được diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật… Tất cả
cái biết đó, đều là lý chướng. Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp khó
quên. Chấp pháp chưa quên, thì chân tâm chẳng hiện. Người trong Tông môn
nên phải tự xét. Sớm dứt chướng này.
Giảng:
Chúng ta đã
học ma phiền não. Ma này là một loại ngoại ma. Đến đây, loại ma sở tri là
nội ma. Thường người tu theo đạo Phật hay bị ma sự. Ma sự có hai loại: Một
là nội ma, hai là ngoại ma. Nội ma tức là những cố chấp bên trong. Ngoại
ma tức là những vướng mắc bên ngoài.
Những vướng
mắc bên ngoài ta không giải tỏa, không vượt qua, không khắc phục được thì
bị nó đánh gục. Như thế chúng ta bị ngoại ma phá hoại, làm cho đường tu
không tiến được. Nếu như chúng ta khắc phục được những ma sự bên ngoài,
nhưng đến những chất chứa, những cố thủ cù cặn bên trong mà không trừ bỏ,
không vượt qua được thì chúng ta lại bị một loại ma nữa. Loại này cứng đầu
khó trị, tuy nhiên nó cũng từ ta mà có, không phải ở bên ngoài đến.
Người biết
tu, tức người có pháp trị ma. Pháp này chính là sự tỉnh sáng và an nhiên,
làm chủ được đối với tất cả hiện tượng bên ngoài, đồng thời khắc phục được
những dấy động bên trong. Cách trị ở đây là, vừa có niệm dấy khởi biết nó
không thật liền buông. Nếu chúng ta cho nó là thật thì sẽ lao đầu chạy
theo, rồi tạo nghiệp và chịu quả báo.
Buông được
vọng tưởng thì có định, ma lực bên ngoài không làm gì được chúng ta. Nếu
được định thì tuệ giác phát triển. Tuệ giác phát triển thì nội ma cũng
không làm gì được. Bọn ma chỉ là những niệm tưởng lăng xăng điên đảo, nó
là bóng dáng của tiền trần. Chúng dấy khởi lên bất cứ lúc nào trong mọi
sinh hoạt.
Nếu làm chủ
được tức là chúng ta chiến thắng giai đoạn đầu. Ma sự bên ngoài không làm
gì được chúng ta. Chiến thắng ở giai đoạn này, chúng ta được an nhiên. An
nhiên thì tuệ giác song song phát triển. Tuệ giác phát triển thì chúng ta
biết tận nguồn của nó là không thật, là loài ma. Dù cho chúng có hiện
thành Phật, Bồ-tát cũng không ăn thua, không dính dáng gì với việc của
chúng ta. Do đó nội ma chúng ta cũng làm chủ được, tức là chiến thắng giai
đoạn sau.
Cho nên có
thể nói ngoại ma là những vướng mắc bên ngoài, nội ma là những chấp thủ
bên trong. Người tu lúc nào cũng sáng suốt thấy rõ ma sự nên không để nó
làm gì được mình. Một niệm dấy khởi mà không làm chủ được thì sẽ bị chúng
ma kéo lôi ngược xuôi, tạo bao nhiêu hậu quả, vô vàn sinh tử không có ngày
cùng. Đó là nỗi điên đảo lớn lao mà gốc gác là do chúng ta không làm chủ
được.
Tỉnh giác,
luôn luôn canh phòng chúng ma, đó là tu. Người lúc nào cũng tỉnh giác canh
phòng các giác quan và mọi sinh hoạt của mình, đó là người đại tinh tấn.
Tỉnh táo, sáng suốt, nhìn thấy rõ ràng sinh hoạt của ma, chúng ta sẽ không
lầm đối với chúng nữa. Tại sao ? Dù chưa thật chứng nhưng qua kinh nghiệm
tu tập, chúng ta biết gốc gác luân hồi sanh tử là từ sơ hở, từ sự điên đảo
chưa làm chủ được mình. Biết rõ ràng như vậy nên chúng ta giữ giới trang
nghiêm, giữ tâm định tỉnh trong mọi thời, lúc nào chúng ta cũng tỉnh và
biết một cách rõ ràng. Đó là tuệ phát sinh, tuệ đã sinh thì bóng tối lùi
tan, chúng ma đâu còn chỗ nương tựa. Cho nên người đại tinh tấn là người
làm chủ được mình, là người canh phòng giỏi, không bị mắc mứu bởi những
cảnh duyên.
Ta làm tất
cả công việc cho chúng trong đạo tràng, từ việc rửa chén, quét nhà, dâng
hương, xách nước, giặt đồ, làm vệ sinh, hoặc khi nấu ăn, cuốc đất, làm
vườn… Tất cả việc đều tựu trung hồi hướng cho con đường Phật đạo của chúng
ta. Một là trang nghiêm đạo tràng, hai là hỗ trợ cho đồng chí đồng hạnh
của mình, ba là để trui luyện thực hiện con người thực của mình.
Tại sao phải
như vậy ? Bởi vì có khi chúng ta coi thường các việc này, không phải là
việc của mình phải làm. Giả như ở nhà thì những việc lặt vặt ấy của người
khác làm, ta không cần phải làm. Nhưng trong đạo tràng thì khác, làm bất
cứ việc nào cũng tu, việc làm nào cũng là Phật sự, trang nghiêm đạo tràng
và tiêu dung nghiệp tập của mình. Hòa đồng vào tinh thần thể nhập. Thành
ra làm việc là để tu.
Trong đạo
tràng này có nhiều cơ sở và phương tiện để trui luyện tinh thần tu học của
anh em chúng ta. Chúng ta nên tỉnh nhớ lời dạy của Hòa thượng, trong mọi
việc làm đều phải tu. Việc nào đã được sắp đặt, được phân công thì phải
gắng gỗ làm. Làm trong niệm sáng suốt, làm trong tinh thần tu tập để tăng
tiến công phu, làm mà không bị nghiệp dẫn. Như thế là tu hành đắc lực.
Người đó biết tu và là người đại tinh tấn.
Chúng ta
đừng bao giờ nghĩ rằng lên chánh điện lạy Phật, hoặc khấu chuông, tụng
kinh, ngồi thiền mới là tu. Mà trong mọi sinh hoạt chúng ta phải tu. Rửa
chén mà thấy hận trong lòng là đi con đường ngạ quỷ, tức là bị ma sự trói
buộc. Hoặc cuốc đất mà thấy không vui, coi như là một việc làm bắt buộc,
như vậy là chúng ta làm việc trái lại với bản nguyện tu hành của mình. Tuy
là hình thức người tu mà đã là quyến thuộc của ma, để rồi bị dẫn vào con
đường khổ. Khi được phân công mà thấy trong lòng bất an bất ổn, tức là
mình chưa biết tu. Đó là chúng ta còn nuôi dưỡng những ma mị trong lòng,
để cho chúng phát triển thành nội ma.
Những loài
ma quái bên ngoài trị không khó. Văn minh đến đâu thì những loài ấy rút
lui đến đó. Nhưng loài ma trong tim gan, trong máu thịt của mình mới là
khó trị. Đây là những vướng mắc, những cố chấp, những cù cặn bên trong mà
mình chưa dám thảy ra. Hãy thảy ra. Vì nuôi nó, chứa nó là chứa giặc, chứa
phiền não để nó dẫn mình đi con đường sai lệch. Trong sinh hoạt của người
tu, chúng ta sẵn sàng mạnh tay ném quách tất cả. Các Thiền sư dạy cây kiếm
của chúng ta phải thật bén. Kiếm này không phải sắc thép mà là trí tuệ.
Cái gì không đáng để trong đời tu của chúng ta thì phải chặt dứt, như thế
mới tiến được.
Chúng ta
đừng nghe nói ma mà tưởng nó là hiện hình râu tóc ghê rợn. Ma đây là sự
thối chuyển, sự khiếp nhược, sự cố chấp… mình bị vướng mắc những thứ đó là
ma. Có một loại ma rất khó trừ, đó là ma sở tri tức là những chấp thủ bên
trong. Ma này thuộc về lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ,
thì chánh định bị nhiễu loạn, không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có
lỗi như thế?
Chính vì
biết ta đắc ngộ, biết ta thông tông, biết ta minh giáo, biết ta hội lý,
văn ta lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh định,
ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết
ta được thông, biết ta được diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật… Tất
cả cái biết đó, đều là lý chướng. Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp
khó quên. Chấp pháp chưa quên, thì chân tâm chẳng hiện. Người trong Tông
môn, nên phải tự xét. Sớm dứt chướng này.
Chướng này
còn có tên là chấp pháp, tức là chấp bên trong.
Biết ta đắc
ngộ, nhưng đắc ngộ cái gì ? Mình là người bỏ quên của báu đi hoang, đói
khổ lâu đời, bây giờ được duyên nhận lại của báu cũ, thêm thắc gì đâu mà
gọi là đắc ngộ ? Biết ta thông tông, tức là thông được thiền, thông đạo
lý. Biết ta minh giáo, tức là mình đã nhận, sáng được giáo lý. Biết ta hội
lý, văn ta lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm.
Ví dụ mình
cho rằng ta giữ giới trang nghiêm, rồi thấy người khác không ra gì thì xem
thường, đó là một chướng ngại lớn lao trên đường tu. Trong việc tu, giữ
giới nghiêm là việc của mình, còn nghiệp tập của người khác, họ gây nhân
thì họ sẽ bị quả báo. Chỉ khi nào đồng đạo tràng, sống chung trong một qui
chế, chúng ta mới nhắc nhở hỗ trợ nhau. Không phải tu có chút thanh tịnh,
có đạo lý, rồi thấy lỗi ông này, bà nọ. Đó là loại ngã kiến làm trở ngại
cho đời tu và Phật sự của chúng ta.
Học tới đây
ta thấy cách dạy của Lục Tổ Huệ Năng rất là hay. Tự thấy lỗi mình, xét lại
xem mình có lỗi nhiều hay ít để tự trị. Còn thấy lỗi của người, thì lỗi
quấy đó đã thuộc về mình. Ngài dạy một cách thiết thực như vậy.
Nhưng chúng
ta là những người đồng hội đồng thuyền, trong qui chế chúng ta có pháp
thỉnh nguyện. Pháp này là ta thỉnh cầu người khác chỉ cho khuyết điểm của
mình, rồi nguyện sửa đổi. Nếu chúng ta chưa đủ tỉnh, thấy lỗi lầm của mình
để sám hối, thì xin người khác chỉ cho để sám hối chừa bỏ. Ý nghĩa của
việc thỉnh nguyện không phải cố ý chỉ lỗi của huynh đệ mà chủ yếu là hỗ
trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến tu. Cho nên người yêu cầu thì ta sẵn sàng chỉ
lỗi với thiện chí của cả đôi bên. Chỉ với tâm chân thật không có sự tị
hiềm hay bất cứ một vấn đề gì khác, như vậy thì tốt.
Có những lỗi
chúng ta biết nhưng vẫn cứ làm. Mình không dám đối diện, tìm phương cách
trị nó. Giả như có huynh đệ nào thương, thấy mình làm không đúng với quy
chế thì họ khuyên nhắc. Thành ra tinh thần thỉnh nguyện rất đẹp. Tôi chỉ
cho anh những lỗi lầm, anh vui vẻ nhận và cố gắng khắc phục, rồi lại cám
ơn tôi. Đối với những lỗi lầm của tôi, anh hỗ trợ giúp cho tôi chuyển hóa,
khắc phục. Chúng ta cùng phấn chấn, cùng tiến tu. Như thế thì còn gì đẹp
bằng.
Tinh thần đó
mà được phát huy thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Chúng ta từ bốn phương,
không phải máu xương ruột thịt gì, nhưng trong đạo tình cốt nhục Linh Sơn,
cùng sống chung, cùng hỗ trợ nhau để tăng tiến thì cuộc sống mới có ý
nghĩa, có lợi. Nếu không như vậy mà mỗi ngày phải đọc qui chế thì cũng
giống như con trâu mang cái ách quá nặng.
Thành ra nói
chướng là những trở ngại trên đường tu, làm nhiễu loạn định tâm của mình.
Nếu định đã bị nhiễu loạn thì làm sao có tuệ. Định tuệ không rời nhau, một
trong hai thiếu thì cái còn lại cũng không. Thành ra nói ta được chánh
định, ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại… Tất cả những cái
đó đều là chướng ngại. Vì trong lòng chưa yên nên mình còn tơ tưởng, còn
vướng mắc toan tính những việc đó. Chúng ta chưa dứt khoát dành trọn vẹn
sinh lực cho việc tu hành giác ngộ giải thoát của mình. Nghiệm lại, chúng
ta thấy mình còn rất nhiều chướng ngại.
Nên người tu
hành tinh tấn, thành công là người làm chủ mình, chớ không có gì lạ.
Người này cắt đứt hết dây mơ rễ má của các kiến chấp sở tri, an nhiên tự
tại. Có những trở ngại nào liền giải tỏa ngay. Người tu hành nếu không
tỉnh, không nhìn lại mình, cứ để thời gian trôi suông ngày qua ngày, tức
là đã đánh mất mình. Đánh mất mình thì bị trôi lăn trong sanh tử, biết
chừng nào ra khỏi.
Chú:
Vừa quay lưng với gia cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy mà tìm,
thật là một trường ảo mộng ! Si mê lui, phiền não dứt, ma sở tri này thuộc
pháp chấp nên khó đoạn. Hàng Bồ-tát đến Đệ Thập Nhất địa, vẫn còn chút sở
tri ngu. Với loại ma này, hành giả phải dày công, chân trí đã phát triển,
lại luôn luôn nhắm thẳng Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó.
Tóm lại, biên
cương ma Phật không thật có, còn thấy có hai, còn chấp thế này, thế nọ là
ma. Phá vỡ các cái thấy biết hai bên thiên lệch có không đó, tiến thẳng
vào cảnh vức Đệ Nhất Nghĩa Không, tức Như Lai địa bất sanh bất diệt. Khi
này, cả hai danh từ Phật ma không chỗ lập cước, không còn bóng dáng pháp
hay phi pháp, tất cả quét sạch, là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật
có thể thành.” Chỗ này tối kỵ lý thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ
lực hành trì, mới có chút phần tương ưng. Cố gắng ! Cố gắng !
Hình ảnh và lời cả quyết của bậc Đại sĩ dưới cội Bồ-đề năm xưa như còn
đồng vọng : “Nếu không đạt đạo dù thân này nát thành tro bụi, ta quyết
chẳng rời chỗ ngồi này”.
Dũng mãnh,
tinh tấn vô biên ! Lời cả quyết của đấng cha lành ba cõi. Từ bi trí tuệ vô
tận ! Lời cả quyết của bậc Đạo sư muôn loài. Lời cả quyết của Người, gông
cùm ba cõi tiêu tan. Ánh tuệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ cho
chúng sanh.
Chúng con,
những chúng sanh bất hạnh! Chỉ nương chút âm vang diệu vợi của Người. Đau
đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn muôn thuở. Cúi mong !
Vừa quay lưng
với gia cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy mà tìm, thật là một
trường ảo mộng ! Đây là lời chú, mình vừa quay lưng với giả cảnh thì nắm
bắt nội tâm.
Quay lưng là
sao? Mình có duyên gặp Phật pháp, cắt bỏ những ràng buộc thế gian vào đạo.
Như vậy tưởng là ổn rồi nhưng không ngờ tới đây, mình bị những phần bên
trong buộc ràng còn chướng hơn bên ngoài nữa. Nếu người tu không thấy chỗ
đó, cứ như thế mà chạy tìm, lây quây mãi thì chỉ là trò đùa mộng ảo mà
thôi. Bỏ việc đời thì mắc việc trong đạo, lăng xăng, lẩn quẩn. Ngoài đời
là mộng ảo, trong đạo cũng là ảo mộng, đâu có gì thật.
Si mê lui,
phiền não dứt. Ma sở tri này thuộc pháp chấp nên khó đoạn. Tức là khi đến
một mức độ tương đối tuy nhiên còn những nội chấp, bên trong cho rằng mình
đã được thế này thế nọ, đó cũng là những trở ngại.
Hàng Bồ-tát
đến đệ thập nhất địa, vẫn còn chút sở tri ngu. Với loại ma này, hành giả
phải dày công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm thẳng Phật đạo
mà tiến, dần dần hàng phục nó. Tức là nói tu hành theo con đường Bồ-tát
đạo thì có mười bậc từ Sơ hoan hỷ địa cho đến bậc thứ mười là Pháp Vân
địa. Qua bậc thứ mười một là Đẳng giác. Tuy nhiên đến bậc này thì có những
vi tế lăng xăng của vô minh của chấp thủ, chưa hoàn toàn.
Chúng ta là
phàm phu ở ngoài vòng Thập địa Bồ-tát, cho nên biết những điên đảo, lăng
xăng, chấp trước của chúng ta nhiều cở nào? Nhiều không tính kể hết. Tuy
nhiên chúng ta cũng không phải là người khuất phục, khiếp nhược. Là Thiền
tăng, mình biết tất cả những thứ đó không thật. Khi biết nó không thật thì
ta phải thể hiện được cái chân thật, cái tâm của mình.
Nhà thiền nói
nhận ra được Phật chất, hằng sống với tánh giác là người luôn tỉnh sáng,
con đường tu hành được bảo đảm. Cho nên có ai hỏi chúng ta đảm bảo dứt
được luân hồi sanh tử không ? Mình sẽ quả quyết dứt được. Dứt kiểu nào?
Một niệm dấy khởi không theo, thì không bị nó kéo đi. Chúng ta tu được như
vậy thì đảm bảo cắt đứt được vòng luân hồi.
Nếu không làm
chủ được thì ngày qua ngày mình giống như người đếm của báu cho người, như
kẻ làm ngân hàng. Một ngày đếm không biết bao nhiêu tiền nhưng đều là của
người ta. Đếm xong mìnhvẫn hoàn tay không. Chúng ta là người tu thiền,
quyết không để cho đời mình luống uổng như vậy. Mỗi ngày trong từng phút
giây, lúc nào chúng ta cũng làm chủ được, giữ được thế tự giác tự tỉnh cho
mình.
Với loài ma
này, hành giả phải dày công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm
thẳng Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó. Tóm lại, biên cương ma Phật
không thật có, còn thấy có hai, còn chấp thế này, thế nọ là ma. Phá vỡ các
thấy biết hai bên thiên lệch có không đó, tiến thẳng vào cảnh vức Đệ Nhất
Nghĩa Không, tức Như Lai địa bất sanh bất diệt. Khi này, cả hai danh từ
Phật ma không thể lập cước, không còn bóng dáng pháp hay phi pháp, tất cả
quét sạch, là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật có thể thành”. Chỗ này
tối kỵ lý thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ lực hành trì, mới chút
phần tương ưng. Cố gắng, cố gắng !
Tóm lại biên
cương ma Phật không thật có, còn chấp là ma, buông được là Phật, nhảy
thẳng vào đất Như Lai an ổn địa của chính mình. Chỗ này không thể nói
suông được. Chúng ta phải cố gắng hành trì.
Hình ảnh và
lời cả quyết của bậc Đại sĩ dưới cội Bồ-đề năm xưa như còn đồng vọng: “Nếu
không đạt đạo dù thân này nát thành tro bụi, ta quyết chẳng rời chỗ ngồi
này”. Lời cả quyết của Bồ-tát Sĩ Đạt Đa sau khi bỏ thành xuất gia, tu hành
khổ hạnh, trải qua quá trình tu học ấy, nhưng cuối cùng Ngài thấy chưa
viên mãn. Ngài lần tới cội Bồ-đề, trải cỏ làm tòa ngồi, ngồi vững vàng và
phát nguyện với lời cả quyết: “Nếu không đạt được đạo quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, dù thịt nát xương tan ta quyết không rời khỏi chỗ này.
Bởi sự cả quyết phi thường như vậy nên Ngài chiến thắng ma quân, thành đạo
sau bốn mươi chín ngày đêm quyết tử.
Điều này khiến
chúng ta nhớ lại một đoạn nhân duyên, Ngài và Bồ-tát Cầu Danh cùng xuất
gia một lượt. Nhưng Bồ-tát Di Lặc xuất gia rồi thì liên hệ các nhà quyền
quý, thế lực, cúng kính lợi dưỡng, việc tu hành chểnh mãng. Còn Ngài siêng
năng liên tục cả quyết cho nên Ngài thành đạo sớm. Phật đã thành đạo nhưng
ngài Di Lặc chưa rồi việc. Rõ ràng người tu hành siêng năng liên tục, tinh
tiến liên tục thì sẽ sớm thành đạo quả.
Dũng mãnh,
tinh tấn vô biên ! Lời cả quyết của Đấng cha lành ba cõi. Từ bi trí tuệ vô
tận ! Lời cả quyết của bậc Đạo sư muôn loài. Lời cả quyết của Người, gông
cùm ba cõi tiêu tan. Ánh tuệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ cho
chúng sanh. Chúng con, những chúng sanh bất hạnh ! Chỉ nương chút âm thanh
diệu vợi của Người. Đau đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn
muôn thuở. Cuối mong ! Đây là lời cuối của đoạn chú này.
Chúng ta là
những chúng sanh cách Phật quá xa. Tính theo thời gian cụ thể thì năm này
là 2543 năm rồi, thời gian quá xa nên tôi nói mình là những chúng sanh bất
hạnh. Chỉ nương chút âm vang diệu vợi của Người, nghĩa là chúng ta chỉ
được học, được nghe những gì của Người để lại thôi. Đau đớn cho phận mình,
trầm luân sanh tử cho tới bây giờ mà chưa giác ngộ. Cố gắng, nguyền xếp
mình làm tròn di huấn. Mình là người trong tông môn, là con cháu của Ngài
rồi thì phải cố gắng tu hành để được hết khổ.
Tóm lại đối
với những sự chướng bên ngoài chúng ta đã trừ được thì đến sự chướng ngại
bên trong cũng phải cố gắng trừ luôn. Tự thấy mình được cái này cái nọ,
cũng là chướng. Cho nên người tu thiền, đối với những trở ngại bên ngoài,
những chấp thủ bên trong, chúng ta đều phải tiêu dung, đều phải hóa giải
mới yên lòng mà tiến đến nơi đến chốn.
]
|