|
MA THỨ SÁU: MA VỌNG TƯỞNG
Chánh Văn:
Ma vọng tưởng
này là tự chướng. Tự chướng chẳng không, thì dòng sanh diệt tiếp nối. Điên
đảo tán loạn, che chướng bản tâm, do đó người tham thiền cần lưu tâm nhiều
ở điểm này. Nay xin đưa ra một vài vọng chướng tiêu biểu để trình bày, như
:
- Vọng tưởng
ta ngộ đạo.
-
Vọng tưởng ta tu chứng.
-
Vọng tưởng ta được định.
-
Vọng tưởng ta phát tuệ.
-
Vọng tưởng ta biết nhiều.
-
Vọng tưởng ta giỏi văn.
-
Vọng tưởng ta có danh hiển đạt.
-
Vọng tưởng nhiều người cung phụng ta.
-
Vọng tưởng ta làm thầy thiên hạ.
-
Vọng tưởng nhiều người quy hướng ta.
-
Vọng tưởng ta tiếp nối Tổ đăng.
-
Vọng tưởng ta sẽ làm Trụ trì.
-
Vọng tưởng ta hóa đạo.
-
Vọng tưởng ta truyền lục.
-
Vọng tưởng nhiều người nối dõi ta.
-
Vọng tưởng ta sẽ được nhập tạng.
-
Vọng tưởng ta có thần thông.
-
Vọng tưởng ta được huyền diệu.
-
Vọng tưởng ta rất kỳ đặc.
Và có rất
nhiều thứ quái lạ như…
Ta sẽ sống
lâu, ta sẽ cải lão hoàn đồng, ta sẽ bay cao và ta sẽ thành Phật… Các cuồng
vọng như thế, làm rối tâm động niệm, trái với chân thể thanh tịnh của
mình. Vì thế, người sơ cơ học đạo phải biết mà ngừa dứt nó.
Giảng:
Trong mọi sinh
hoạt hằng ngày, đi đứng, nói năng, ăn nghỉ, làm việc tiếp xúc… trong tất
cả các thời. Những việc gì chúng ta đã sắp đặt thì cứ theo đó mà làm.
Những gì đột nhiên xen vô thì nhất định phải loại ra vì nó sẽ làm loạn
công phu của mình. Dĩ nhiên tất cả những dấy khởi đều là vọng tưởng hết,
không thể chấp nhận bất cứ một dấy khởi nào.
Chúng ta còn
sống còn phải làm việc, chung quanh ta còn nhiều sự tiếp xúc. Cho nên phải
có tổ chức, có sự sắp đặt nề nếp. Nếu trong khi làm công việc của mình, mà
có những dấy khởi ngoài sự sắp đặt thì chúng ta phải buông, để dồn tất cả
năng lực tập trung làm một việc cho đạt được kết quả tốt. Đây là phương
tiện đầu, tập trung vào một việc làm duy nhất. Nhà thiền gọi đây là giai
đoạn người đâu trâu đó.
Ma vọng tưởng
này là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì dòng sanh diệt tiếp nối. Chẳng
không tức là mình chưa buông, chưa làm chủ được, chưa chiến thắng được.
Điên đảo tán loạn, che chướng bản tâm, do đó người tham thiền cần lưu tâm
nhiều ở điểm này. Chúng ta không làm chủ được, bị nó kéo đi trôi dạt trong
vòng sanh tử luân hồi không có ngày cùng. Bị kéo như vậy thì chúng ta mất
mình, không phải là người tu tiến nữa.
Bị che chướng
bản tâm tức tâm không sáng, việc tu hành không tới đâu hết. Nay xin đưa ra
một vài vọng chướng tiêu biểu để trình bày, như:
- Vọng tưởng
ta ngộ đạo. Điều này chúng ta biết rồi, đối với việc ngộ đạo, không phải
ngồi đó mà chờ. Phải năng nỗ quyết tử công phu. Công phu đắc lực tức là
chúng ta có sức mạnh, tự nhiên thành công. Nếu cứ ngồi đó trông chờ, cầu
nguyện mà không chịu công phu hoặc công phu lệnh lạc thì không bao giờ
thành tựu được sở nguyện.
Ở đây chú
trọng tập trung vào công phu. Nếu chúng ta còn ngã chấp thì gắng sức dẹp
trừ ngã chấp. Chư Tổ trong nhà thiền chỉ nói ngã không. Vì nó không thật,
nên không có gì dính dáng với mình hết. Nếu còn ngã chấp thì chúng ta phải
tích cực trừ bỏ, đừng để nó kéo lôi quấy rầy mình nữa. Dẹp được nó rồi mới
nhẹ nhàng. Người ngộ được lẽ thật này rồi thì thở khì một cái, như trút
gánh nặng ngàn cân trong thân tâm vậy.
Lục Tổ Huệ
Năng khi đã triệt ngộ, Ngài nói liên tục: “Nào ngờ tánh mình xưa nay thanh
tịnh. Nào ngờ tánh mình vốn không sanh diệt. Nào ngờ tánh mình vốn không
dao động. Nào ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ. Nào ngờ tánh mình hay sanh muôn
pháp.” Tánh ấy sẵn có, nhưng lâu nay bị che chướng, nên chúng ta không
nhận ra. Bây giờ có cơ hội mình phủi bỏ những lớp mê mờ che chướng ấy đi,
thì nó sẽ hiện bày.
Ở đây nói đến
công phu nội tỉnh của chúng ta. Người tu thiền là người có sức mạnh nội
tỉnh, có thần lực phi thường. Như câu chuyện ngài Xá Lợi Phất đang ngồi
thiền, có một con quỷ đi ngang qua. Nó dùng cái chày lớn đập lên đầu Ngài.
Bình thường với sức mạnh này, nó có thể đập vỡ cả quả núi Tu Di. Nhưng lúc
ấy ngài Xá Lợi Phất chỉ hơi ê đầu một chút thôi. Vì Ngài đang trụ trong
chánh định.
Chúng ta tu
hành là để phát huy sức mạnh đó. Phát huy từ công phu miên mật của mình.
Thấy rõ thật chất của nó không thật nên ta không sợ. Nếu thấy thật thì
mình sẽ sợ nó. Đó là điểm cốt lõi trong công phu tu hành của chúng ta.
Nhất định không vọng tưởng ta ngộ đạo nên không bị nó kéo lôi.
- Vọng tưởng
ta tu chứng. Tu chứng thì cũng không ngồi đó mà trông đợi được. Phải tu,
phải công phu, khi nhân duyên thời tiết đến, thùng sơn lủng đáy thì xong
việc.
- Vọng tưởng
ta được định.
- Vọng tưởng
ta phát tuệ.
- Vọng tưởng
ta biết nhiều. Nói một chút về biết nhiều. Người muốn biết nhiều, không
thể ngồi tơ tưởng mà có thể biết chính xác được. Thông thường ở thế gian
thì phải học. Học là làm quen, thu thập những kiến thức, những kinh nghiệm
của người trước. Từ đó ghi nhớ mới tích lũy thêm sự hiểu biết.
Người tu không
phải biết nhiều như vậy. Muốn có kinh nghiệm, có sự hiểu biết sâu sắc thì
trong nội tại phải có thiền định. Có thiền định thì có trí tuệ. Có trí tuệ
mới soi rọi tận cùng nguồn bể các pháp. Cho nên người có trí tuệ là người
biết triệt để nhất. Người tu chúng ta trước nhất là phải học, sau đó là
thiền định. Thiền định phát tuệ thì biết suốt hết. Hai việc này chúng ta
đều phải thực hiện hết. Vì sao ? Vì nhất thời chúng ta chưa được thiền
định, mà cũng không biết gì hết thì không tu được. Cho nên phải học, học
hiểu rồi mới bắt đầu thực hành tu tập. Chỗ này Tổ Qui Sơn nói: Chớ để cuộc
đời ngơ ngơ ngáo ngáo, lơ lơ láo láo, ngày tháng qua rồi không tìm lại
được.
- Vọng tưởng
ta giỏi văn. Vọng tưởng ta có danh hiển đạt. Vọng tưởng ta được nhiều
người cung phụng. Vọng tưởng ta làm thầy thiên hạ. Vọng tưởng nhiều người
qui hướng ta. Vọng tưởng ta tiếp nối tổ đăng. Vọng tưởng ta làm trụ trì.
Vọng tưởng ta hóa đạo. Vọng tưởng ta truyền lục. Vọng tưởng được nhiều
người nối dõi. Vọng tưởng ta nhập tạng v.v… Tất cả những vọng tưởng này
coi như là danh văn lợi dưỡng.
Đối với người
tu chúng ta, những danh văn lợi dưỡng này xem như rác rưởi, phải trừ khử
gấp. Người xưa làm việc gì cũng xem như đi trên băng mỏng, trên dao nhọn,
như dây bò miệng giếng… có gì bền lâu. Vì sao ? Tâm đạo của các Ngài đã
sáng. Còn tâm chúng ta chưa sáng nên bị che chướng. Nếu nội tai chưa vững
vàng thì làm việc gì cũng gặp trở ngại, cũng bị kẹt vướng. Công đức tu
hành theo đó chùng chình, không tiến được.
Vì vậy trong
lúc lãnh trách nhiệm, chúng ta phải luôn tự lo tự gắng. Sắp xếp trong từng
điều kiện, từng hoàn cảnh để mỗi ngày mình vừa tu vừa làm tròn bổn phận
người trên giao phó. Cổ đức nói: Những cội cổ thụ to lớn, chim chóc các
nơi kéo nhau về ngủ nghỉ trên đó thì nạn gãy cành đổ lá không tránh khỏi.
Nói thế để làm gì ? Để cảnh tỉnh chúng ta. Chúng ta được hiển đạt, mọi
người tìm đến học hỏi là mình phải biết lo sợ. Chỉ người nhìn xa thấy rộng
mới rõ được điều này. Cho nên chúng ta phải thận trọng dè dặt từng chút.
Khi làm gì mà
đạo tâm chưa vững, chúng ta nên kiểm nghiệm lại. Trong tất cả các công
việc, quan trọng nhất là phải gìn giữ tuệ mạng của mình. Chúng ta đều biết
đến phút chót chỉ còn lại phước nghiệp riêng của mình, tất cả đều mất hết.
Một khi mình nín thở rồi thì không còn gì nữa. Thân phận của chúng ta khi
cha mẹ mới sanh ra rất tốt đẹp, nhưng tuổi tác lớn dần, thân này cũng biến
chuyển cho đến khi già suy héo úa rồi tan hoại. Như vậy còn đợi gì mà
không chịu công phu, thắng dừng vọng tưởng để không bị nó kéo lôi. Nó
không kéo lôi được thì mình có tự chủ.
Những vọng
tưởng kế tiếp như thần thông nhập tạng… Đối với người tu, đó là những vọng
tưởng quái lạ. Ta sẽ sống lâu, ta sẽ cải lão hoàn đồng, ta sẽ bay cao, ta
sẽ thành Phật… tất cả đều là những ảo vọng mà thôi. Phật là giác, mình
không giác mà cầu thành Phật thì thật là nghịch lý. Chỉ giác thì mới thành
Phật, không phải cầu.
Các cuồng vọng
như thế làm rối tâm, trái với chân thể thanh tịnh. Vì thế người sơ cơ học
đạo phải biết ngăn dứt nó. Nói tóm lại những niệm những vọng tưởng ở trên
làm cho mình bị tán tâm. Tán tâm thì mất định, mất định thì tuệ không hiện
tiền. Định tuệ không có thì không mong giác ngộ giải thoát.
Có một câu
chuyện về Bồ-tát Văn Thù. Hôm đó, Hòa thượng Trụ trì tổ chức lễ hội trang
nghiêm để cúng kiến, cầu nguyện, thuyết giảng, làm các việc phúc thiện,
chẩn tế. Thời gian kéo dài một hai tháng. Ngài Văn Thù trong hình thức
người đàn bà có mang, dẫn một đứa bé và một con chó. Đàn tràng thanh tịnh
mà người đàn bà này xuất hiện đã là khó chịu rồi. Thế mà bà ta còn đến
thưa với Hòa thượng: “Tôi là người nghèo khổ, rất hoan nghinh việc làm này
của quý Ngài. Tôi không có gì cúng dường chỉ có một mớ tóc xin được cúng
dường”. Một việc cúng dường lạ đời khiến cho từ Hòa thượng trở xuống, mọi
người đều sửng sốt.
Sau khi cúng
dường, bà xin được một bữa ăn, vì khi ấy có lễ chẩn tế. Hòa thượng sai dọn
một phần ăn, trong đó một phần cho bà, một phần cho đứa bé, và một phần
cho con chó. Ai cũng thấy bực mình người đàn bà, thật chướng đời, đi mà
còn dẫn chó dẫn mèo theo. Sau khi ăn xong bà nói với Hòa thượng: “Xin một
phần ăn cho đứa bé trong bụng”. Hòa thượng nổi sân, đuổi đi. Không ngờ Hòa
thượng vừa nổi sân thì người nữ biến mất, con chó biến thành sư tử. Bồ-tát
cỡi sư tử phất phới trong mây. Cả đàn tràng đều quy hướng sám hối.
Cho nên quan
trọng là tâm của chúng ta phải luôn thanh tịnh, đó là gốc.
Chú:
Mê mờ bản lý, nên điên đảo vọng tưởng. Vọng tưởng sinh động, thì bản tâm
bị che chướng. Loanh quanh mãi trong mê mờ cuồng vọng, tức chân thể thanh
tịnh chìm lặn. Khác nào kẻ đi trong đêm đen không đèn đuốc, họa sa hầm sụp
hố chắc chắn trước mắt. Người xưa nói : “Đất tâm nếu không, mặt trời trí
tuệ tự chiếu”.
Nơi đây, chúng ta có thể nói cách khác rằng, “nếu chúng ta chịu dừng thì
chuyện gì điên đảo ?” Vọng tưởng là gì ? Thử nhìn lại xem. Vốn dĩ là ảo
mộng mà ! Lỗi tại chúng ta, cứ cố chấp rồi lao theo. Lao theo nên điên
đảo. Đã điên đảo thì vọng càng thêm vọng. Ngay đây, nếu chúng ta biết
dừng, còn gì lăng xăng nắm bắt nữa. Còn chăng hư không thênh thang rỗng
suốt, cái gì mê mờ chướng ngại cái gì ? Thử nói xem.
Tóm lại, là
chúng ta có chịu dừng hay không ? Dừng thì trời không sáng suốt, đất tâm
yên ổn, tuệ nhật hằng soi, thiếu sót chỗ nào ?
Trái lại,
Rông rêu mải
miết, nên hóa điên cuồng. Khổ thay! Khổ thay! Có thi rằng:
Lớn thay ! Người sức mạnh,
Biết vọng liền không theo.
Quê xưa trăng tỏ rạng,
Tùng xanh tiếng suối reo.
Khoái thay! Người biết vọng,
Miền chân không mở ra.
Đường xưa tự bày hiện,
Quê nhà thật không xa.
Hương quê thoảng trăng sao,
Tình quê miền bất nhị.
Hư
không trải gấm hoa,
Người quê một mình đi!
Gió ngát hương giải thoát,
Hoa đơm đóa từ bi.
Tuyết tuôn thành định lực,
Trăng soi bất tư nghì.
Một tiếng quát!
]
|