|
LÀM THẾ NÀO ĐỂ HOÀN THIỆN CHO CHÍNH MÌNH
Buổi sinh hoạt
hôm nay chúng tôi sẽ nói về những điều kiện cần thiết để hoàn thiện cho
chính mình. Từ đó chúng ta phấn chấn phát huy công phu tu hành, nhất là
hoàn thiện tư cách của một Phật tử, đã có duyên học hiểu và áp dụng Phật
pháp ngay trong đời sống của mình.
Trong việc học
hiểu và tu hành, có rất nhiều phương pháp mà chúng ta có thể học hiểu, ghi
nhận qua lời dạy của thầy. Tuy nhiên khi áp dụng hành trì lại là một vấn
đề khác. Vì chưa phải là một con người hoàn thiện, nên trong việc hành
trì, có pháp chúng ta áp dụng được, có pháp chúng ta chưa áp dụng được.
Nhưng hành trì để làm gì? Chính là để phá trừ những cái riêng, những thứ
cù cặn của chúng ta. Như chúng ta đã biết, mỗi người có những nghiệp tập,
căn khí, chủng tử... riêng, không ai giống ai. Họa hoằn mới có vài thứ
giống nhau. Nhưng nhìn chung thì vẫn là khác biệt. Những “cái riêng” này
lớn lao và nhiều vô số kể. Nó phát sinh chính từ chúng ta mà thôi.
Từ lâu, do vô
minh mà chúng ta tăm tối, lầm lũi rồi tạo nghiệp từ đời này qua đời khác
chồng chất. Trong kinh Lăng Già đức Phật dụ việc ấy như “tằm làm kén, tự
nhả tự trói”, không có ngày thoát khỏi. Vì vậy để phá trừ cho được những
thứ này, đòi hỏi năng lực dụng công của chúng ta phải to lớn, dũng mãnh và
kiên trì. Một đức không thể thiếu để giúp chúng ta trong việc hành trì phá
trừ những “cái riêng” đó, là đức “nhẫn”.
Giai đoạn 1: Thực hành đức nhẫn.
Nhẫn là gì?
Nhẫn thế nào?
Trong đời
thường, khi nói đến nhẫn là ta đã hình dung ra những gì liên quan đến các
vấn đề không “xuôi chèo mát mái”, không thuận theo lòng mình. Vì vậy đòi
hỏi chúng ta phải nhẫn hay nhẫn chịu. Việc tu hành là một việc làm tự
nguyện, cao cả của người con Phật, tại sao phải dùng đến chữ nhẫn? Thưa
quí vị, vì dù là ta tự nguyện, nhưng đó không phải là việc thường. Vì thế
trên đường tu không phải chỉ có xuôi chèo mát mái mà có trăm ngàn thứ
chông gai không lường trước được.
Thứ hai là ta
quen sống với vô minh như bà con ruột thịt. Nghĩa là, đối với cái giả thì
thuận mà trở về cái thật, thời gian đầu là nghịch. Muốn đi trên con đường
nghịch cũng như lội ngược dòng một con thác, đòi hỏi sức nhẫn của ta phải
lớn, phải phi thường để giữ sự kiên trì, vượt khó. Thiếu nó chúng ta sẽ dễ
dàng bỏ cuộc giữa đường. Chỉ một việc từ đây quyết không để bị lầm mê, bị
đẩy xô, bị cuốn hút bởi dòng vô minh cũng đã đòi hỏi một chữ nhẫn rồi. Nếu
thực hành được là ta đã có một đức nhẫn.
Trong các việc
bình thường hằng ngày như ăn, uống, ngủ, nghỉ, tiếp xúc, đi lại, làm
việc... đều đòi hỏi ta phải có đức nhẫn. Chẳng hạn, trong việc ăn uống,
trước các thức ăn, chúng ta không để bị lôi kéo. Chúng ta phải nhẫn chịu,
khắc phục và làm chủ được đối với thức ăn. Nghĩa là, nhẫn chịu với những
thứ không thích, không hợp khẩu vị. Khắc phục đối với những thứ xa hoa
không cần thiết cho người tu, với những thứ gây bệnh hoạn cho cơ thể dù là
thứ hợp khẩu vị. Ăn vừa phải để không ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến công phu
tu hành. Ăn đúng giờ, đúng bữa. Và nếu chúng ta thực hành như thế, tức
chúng ta đã làm chủ được đối với các thức ăn. Cũng có nghĩa là chúng ta
hình thành được đức nhẫn.
Đối với các
việc khác cũng vậy. Chúng ta phải cố gắng bình thường hóa với mọi loại âm
thanh, dù đó là âm thanh gây sự thích thú hay bực bội. Ngủ vừa đủ để còn
tỉnh sáng mà làm việc, mà tu. Đức Phật nói ngủ nhiều thì vô minh. Vô minh
tức không sáng, rồi lại lầm lũi tạo nghiệp. Trong việc đi lại tiếp xúc,
chúng ta cũng cần phải nhẫn. Đi nhiều quá, tiếp xúc nhiều quá thì thân
động tâm động. Động nghĩa là không định, làm sao có tuệ?
Chắc quí vị sẽ
nói “đi cũng thiền, ngủ cũng thiền... có gì phải bận lòng”. Phải rồi,
người xưa thì “đi cũng thiền, ngủ cũng thiền”, nhưng ngày nay chúng ta
không như người xưa. Ta không đi trong tinh thần đạo lý chánh niệm, mà đi
để nói chuyện tào lao, làm việc tào lao. Chúng ta đi vì chúng ta không
ngồi yên được một chỗ. Thành ra lúc rảnh, thay vì để nghỉ để tu, chúng ta
đi còn nhiều hơn lúc bận. Nếu không được như người xưa, thì chúng ta phải
biết nhẫn với đi, với tiếp xúc để mà tu. Đến khi nào đi và tiếp xúc được
trong chánh niệm, được tự tại an nhiên, lúc ấy muốn làm gì thì làm.
Trong công phu
tu hành, chúng ta cũng phải có đức nhẫn, công việc mới trôi chảy thường
hằng. Giữ đúng giờ giấc thời khóa ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh là hoàn
thành đức nhẫn. Ngồi đủ giờ công phu đã định là có nhẫn. Chịu đựng được
với cơn buồn ngủ, mệt mỏi, đau nhức, muỗi mòng khi công phu là nhẫn. Giữ
cho công phu được thường hằng cũng đòi hỏi nhẫn v.v... Không có nhẫn
chúng ta khó làm được các điều trên.
Chúng ta có
thói quen rất dễ quên, rất dễ nguôi. Làm gì hơi lâu mà chưa thấy có kết
quả là muốn bỏ cuộc, muốn thối chí. Làm gì hơi mệt, hơi đau cũng muốn
nghỉ. Và do thuận với vô minh quá lâu, thành những việc như nghỉ, bỏ cuộc,
làm biếng thì lại làm dễ dàng và thường hằng hơn điều ngược lại. Nên nhớ
trong việc hành trì Phật pháp đòi hỏi sức nhẫn của chúng ta rất lớn.
Đó là những
hiện tướng ở bên ngoài, danh từ trong nhà Phật hay gọi các thứ này là thô.
Giờ chúng ta đề cập đến cái tế hơn. Tuy là tế nhưng nó chủ đạo hết mọi cái
thô bên ngoài. Nếu người biết tu thì cứ ngay đây mà tu. Nhẫn được với các
thứ thô trên thì cũng có nghĩa là nhẫn từ thứ tế này. Tôi muốn nói về ý
nghiệp, là các thứ vọng tưởng của mình.
Công vi thủ,
tội vi khôi
Ý nghiệp rất
quan trọng. “Công vi thủ, tội vi khôi”. Nghĩa là, công cũng nó đứng đầu mà
tội cũng nó đứng đầu. Ý chủ đạo trong ba nghiệp thân, khẩu, ý. Ý không làm
chủ thì miệng nói bậy, thân làm bậy. Từ đó gây tạo tội lỗi vô vàn, tồn
đọng lại thành những “cái riêng” mà trong đạo pháp hay dùng danh từ
“nghiệp tập và hoặc” để chỉ cho chúng. Nếu hành đức nhẫn thì phải sửa ngay
từ tên “ý” này. Người có sức chịu đựng thì họ trầm tĩnh, bình thản, an
nhiên, rất đằm thắm tự tại. Đó cũng là sự thể hiện của người có công phu,
có đức nhẫn.
Tu ở ý có
nhiều giai đoạn. Đây tôi nói về giai đoạn đầu. Giai đoạn đầu là giảm thiểu
những ý niệm ác, mà người đời hay nói là “tâm ác”. Niệm ác là niệm phá
hoại những gì giúp chúng ta hành trì thực hành đạo pháp, là những suy nghĩ
trái lại với điều Phật dạy. Khởi niệm xấu ác, thì cố gắng buông bỏ, đừng
để chúng hoành hành sai sử, rồi chạy theo mà tạo thành lời nói hay hành
động không tốt.
Người xưa nói
“gắng bỏ các điều ác, hay làm các điều lành”. Muốn vậy ta phải buông bỏ
cho được các niệm ác, tăng trưởng các niệm lành, từ đó mới làm lành lánh
ác được. Trong sinh hoạt đời thường, dù là tại gia hay xuất gia, các niệm
ác giảm thiểu hoặc mất hẳn, các niệm lăng xăng điên đảo bị hạn chế, là
người có đức nhẫn.
Giai đoạn 2: Phát huy thiện lực.
Người phát huy
được đức nhẫn là người phát huy được thiện lực. Thiện lực là sức mạnh của
điều tốt. Khắc phục và làm chủ cái xấu thì cái tốt tự nhiên có năng lực.
Khi năng lực thiện đã phát huy thì tăm tối vô minh điên đảo không làm gì
được ta. Giống như bật đèn sáng thì bóng tối bị xua tan. Tu như vậy mới
gọi là tu! Không phải một tháng đi chùa mấy lần, ăn chay mấy ngày hoặc một
ngày ngồi năm ba thời thiền gọi là tu. Xét ra những vị ấy cũng có một chút
công phu hơn người, nhưng điều quan trọng là đi chùa thế nào, ngồi thiền
ăn chay ra sao để niệm ác giảm thiểu, thiện lực tăng trưởng.
Trong mọi tiếp
xúc tương giao sinh hoạt phải làm chủ được các vọng tưởng lăng xăng điên
đảo của mình. Trước mọi cảnh duyên nhẫn chịu được, bình ổn được thì mới
gọi là có tu, có công phu. Đối với người như vậy, chúng ta sẽ cảm nhận
được thiện lực tỏa ra khi gần gũi họ. Đó là điều tất yếu của việc làm chủ
các dây mơ rễ má của những ác niệm.
Nhu hay cương
đối với vọng tưởng.
Tôi nói đến
một mặt khác của đức nhẫn. Người xưa thường nói: “Nhu thắng cương, nhược
thắng cường”. Vậy người tu chúng ta nên nhu hay nên cương, nên nhược hay
nên cường? Không nhất thiết phải nhu hay nhược. Cương hay nhu còn phải tùy
thời, tùy lúc, và tùy ở đối phương. Điều quan trọng là những biểu hiện đó
phải xuất phát từ một nội tại vững chắc, với một đức nhẫn toàn bị.
Những thứ
cương không có gốc như la hét giận dữ thì quả là không hay. Quí vị cứ thử
suy nghĩ xem, có phải người hay la hét giận dữ là người không làm chủ được
mình, không có đức nhẫn bền bỉ? Họ chỉ là người yếu đuối, không đương đầu
nổi với những bức xúc hiện tại của chính mình và của hoàn cảnh. Người có
công phu tu hành sẽ dễ dàng nhận rõ các điều tôi vừa nói.
Giờ đối với
vọng tưởng chúng ta nhu, cương thế nào?
Vọng tưởng là
cái không thật. Nếu thật, chúng ta lấy nó ra thử xem? Đúng như đức Phật
nói, nó chỉ là… vọng tưởng! Vì vậy ta trừng trợn, bặm môi hay loi đấm nó
là vô ích. Không ai đi đánh hư không! Điều quan trọng là “không lầm” nó.
Hai chữ “không lầm” này xem thì bình thường, nhưng là cả cuộc đời của ta.
Quí vị suy
nghĩ xem, tại sao chúng ta lại làm bao nhiêu chuyện tai quái để giành giựt
cho được những lá vàng giả? Tại vì chúng ta lầm nó là thật. Có ai biết là
giả mà giành giựt để mang họa vào thân không? Chắc chắn là không. Vậy tại
sao ta lại theo vọng tưởng để trôi lăn trong đau khổ triền miên của tam
giới? Tại vì ta lầm nó! Muốn đừng theo nó để tạo nghiệp thì chỉ cần biết
nó không thật, nó là đồ giả, thì buông và yên. Vì vậy đối với vọng tưởng,
ta cứ an nhiên, bình thản, nhu hòa miễn đừng để vọng tưởng dẫn lôi. Chỉ
cần biết nó giả, không theo là được.
Ở đây đòi hỏi
người tu phải có trí tuệ, có đức nhẫn mới làm được. Những lúc thế này, quí
vị sẽ thấy đức nhẫn quan trọng thế nào! Quí vị cũng biết, ta quen sống với
vọng tưởng lâu rồi, thành ra ta rất dễ quên nó là giả. Một ý niệm khởi
lên, lập tức nó là ta, rồi mải miết theo đó mà ngược xuôi xuôi ngược, cho
đến khi tỉnh cũng hết cả giờ. Nếu khi nó khởi, ta biết được đó là vọng thì
“nó” yên.
Lại nữa, với
những loại vọng tưởng cay cú đau khổ, với những cảnh duyên bên ngoài thật
khó khăn gian nan, có lúc ta vượt qua, nhẫn chịu, buông bỏ dễ dàng. Nhưng
với loại vọng tưởng mềm mại, thân thương, dễ mến thì... thua! Xem ra nhẫn
chịu được với các thứ này còn khó hơn vượt núi trèo non, và ta dễ dàng đầu
hàng vô điều kiện! Cái khó của ta là ta không muốn buông, không chịu
buông, chúng ta tiếc... Vì vậy khi cần cương là phải quyết tâm buông bỏ,
không đầu hàng, không lùi bước trước vọng tưởng. Đó là cương mà nhu, nhu
mà cương.
Những tùy pháp
hỗ trợ cho sự tu hành.
Là một người
tu, ai cũng phải cần có đức nhẫn mới có thể từ từ hoàn thiện cho chính
mình. Ngoài ra, chúng ta còn có thêm những “tùy pháp”, có thể giúp và hỗ
trợ cho công phu tu hành của chúng ta không bị lui sụt. Vì thật ra mà nói
thì, đường tu nhiều lúc gian nan lắm! Nếu không có những thứ này thì ta
khó vượt qua, khó tiếp tục cho đến khi thành công.
Tùy pháp thứ
nhất là niềm tin. Niềm tin một khi đã đủ, ta sẽ có một sức mạnh to lớn hỗ
trợ cho việc tu hành của mình. Nhưng tin gì? Tin vào chánh pháp và tin vào
chính mình.
Tin chánh pháp
tức là tin vào lời Phật, lời Tổ và lời Thầy. Đức Phật nói: “Nếu người có
tin, người ấy có thể vào trong biển pháp rộng lớn của ta, có thể chứng
được bốn quả sa môn, không uổng công mặc áo ca sa. Nếu không tin thì người
ấy không thể vào trong biển pháp của ta… Tuy mặc áo ca sa, tụng nhiều thứ
kinh, giỏi vấn nạn, khéo giải đáp đi nữa, thì ở trong Phật pháp chỉ uổng
công chẳng được gì”.
Tổ Long Thọ
nói: “Phật pháp sâu xa, chỉ có Phật mới biết được. Phật pháp như biển cả,
có tin mới vào được, có trí mới qua được”. Vì vậy lòng tin là cửa để vào
đạo. Có niềm tin ta mới tiến đến hành trì. Niềm tin khi đã kiểm nghiệm
được bằng thực tế, thì niềm tin ấy thật sự vững mạnh. Muốn vậy, trong việc
tu hành chúng ta phải hành trì. Trong quá trình hành trì, chúng ta sẽ thể
nghiệm được những gì chúng ta đã tin vào sự học hỏi. Niềm tin và sự hành
trì là hai thứ hỗ tương tác động cho nhau. Không có niềm tin, ta không thể
hành trì. Không có hành trì, ta không thể giữ vững mãi lòng tin.
Lòng tin sẽ
được nhận thấy quan trọng như thế nào, khi chúng ta gặp trở ngại, khó
khăn. Chẳng hạn do vô minh ta quen sống nương nhờ vào thần linh, cầu xin
các đấng ơn trên phù hộ, ban phước. Nghĩa là vận mệnh của ta nằm trong tay
một số ngài, mà ta cũng không biết các ngài gốc tích từ đâu. Vì vậy chung
quanh đức Phật, chúng ta có vô vàn các hình tượng đủ cỡ đủ loại.
Trong Phật
pháp, mọi thứ chẳng qua đều do nghiệp lực và nhân quả mà ra. Nếu không có
niềm tin với đức Phật, không có niềm tin với chánh pháp, liệu chúng ta có
dám “phạm thượng” mời các ngài đi chỗ khác chơi không? Nếu không, thì có
nghĩa là chúng ta chưa dám tin pháp của Phật, tin lời của Phật.
Chưa tin nhân
quả liệu chúng ta có thể tin những pháp sâu xa hơn không? Nếu chưa tin làm
sao hành trì? Không hành trì làm sao phá trừ nghiệp tập ? Càng công phu
thấy niệm khởi càng nhiều, ta đâm hoảng sợ. Vậy là bỏ cuộc. Đó là do niềm
tin không đủ!
Phật nói “Thân
này là giả, ba cõi không thật”. Nhưng vì niềm tin không đủ, nên trong việc
hành trì, có gì đụng đến thân lập tức ta thối lui, có gì đụng đến tâm, lập
tức ta tránh né, bỏ cuộc. Thành ra tu hoài mà ba nghiệp còn nguyên, ngã
cũng chẳng phá nổi, lời Phật Tổ cũng chẳng kiểm nghiệm được gì. Xìu xìu dở
dở cho qua một kiếp người.
Tin chính mình
tức là tin mình có Phật tánh bất sanh bất diệt. Tin những gì mình gặp đây
là do mình đã gây tạo, nhờ thế ta dám đương đầu chớ không tránh né. Tin
mình có đủ khả năng phá bỏ cái giả trở về với cái thật. Có niềm tin với
chánh pháp, với bản thân, chúng ta mới có thể đương đầu với những khó khăn
và tiếp tục gan lỳ đi trên con đường chúng ta đã chọn. Không có nó chúng
ta như người bệnh sợ gió, sợ mưa, xìu xìu ễn ễn, không biết bao giờ mới
hoàn thành con đường Phật đạo của mình.
Bệnh của người
thời nay là an phận quá đỗi. Chúng ta thường tự cho mình là những chúng
sanh trong thời mạt pháp, không thể thực hành các pháp sâu mầu của Phật,
Tổ để lại. Tu cho lắm cũng không tới đâu. Thành ra chúng ta hiểu thì có
hiểu, học thì có học mà tu thì để dành cho Phật Tổ, cho các bậc thượng cơ
thượng căn. Chúng ta không tin chính mình, nên chúng ta không dám đương
đầu với những khó khăn xuất phát từ chính mình.
Tôi sẽ kể một
câu chuyện để quí vị thấy niềm tin quan trọng như thế nào. Có một vị thiền
sư, sau khi tìm được chỗ để hành trì đạo pháp, căn bệnh cuối cùng Ngài mắc
phải là bệnh kiết lỵ trầm trọng. Lúc ấy, xuất phát từ niềm tin thâm sâu và
vững chắc vào Tam bảo, chánh pháp và chính bản thân, Ngài dũng mãnh phát
nguyện: “Nếu đại hạn đến, con phải chết và bị sa vào ba đường ác vì những
ác nghiệp gây tạo đời quá khứ, con xin chấp nhận rơi cho đến cùng, trả cho
đến hết. Sau khi trả hết nợ, từ lực Tam bảo và lực Bát-nhã của mười phương
các bậc hiền thánh và của chính con, mở mắt quay lại con gặp Phật pháp
tiếp tục tu hành.” Bằng ý chí, quyết tâm và niềm tin, Ngài bắt đầu gầy
dựng lại công phu. Sức khỏe dần hồi phục, tu hành và đắc đạo.
Vì vậy, niềm
tin là điều tối cần yếu của người con Phật, nó là con thuyền đưa ta đến
cửa hành trì, giúp ta vượt khó khăn, giúp ta kiên trì và hoàn thành con
đường mình đã chọn. Một khi chúng ta ứng dụng niềm tin vào công phu thực
hành, thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ nhận được niềm tin ấy bằng hiện thực.
Từ đó làm hành trang tiếp tục cho hành trình của mình. Không có niềm tin,
chúng ta khó trở thành một con người hoàn thiện.
Tùy pháp thứ
hai là lòng tin hướng thượng. Hướng thượng nghĩa là hướng lên trên, hướng
về những pháp không ô nhiễm bụi trần. Ở đây chúng ta không nói đến
Niết-bàn, giải thoát, thanh tịnh, chân như mà chỉ nói đến cái gần gũi với
chúng ta là hướng đến một con đường, một hành trình. Trong đó chúng ta
vững vàng, hiên ngang, không bị quật ngã bởi những sự kiện chung quanh và
tiến thẳng về phía trước.
Sang giai đoạn
này nếu chúng ta chưa gầy dựng đầy đủ cho mình, thì chúng ta sẽ bị thối
chuyển. Nếu không có tinh thần hướng thượng, nhiều khi ta vấp ngã hoặc bỏ
cuộc giữa đường. Chuyện này đâu phải không có trong hiện tại? Rất nhiều kẻ
đầu hàng và bỏ cuộc. Thật đáng tiếc!
Tùy pháp thứ
ba là sự dũng mãnh, không thối chuyển thì càng dũng mãnh. Dũng nghĩa là
mạnh. Mãnh tức là mãnh liệt. Chúng ta không nên hài lòng với những gì mình
hiện có. Dù cho là người đã đạt được chỗ rỗng rang, ai chửi cũng mặc kệ,
bỏ đói cũng chẳng sao, cũng chưa phải là đã xong chuyện. Phải gắng tiến
lên không dừng nghỉ.
Đường tu lắm
chông gai, “Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng” là những câu cảnh cáo
người tu chúng ta không nên xem thường ngoại cảnh. Chỉ cần sơ ý là vấp ngã
ngay. Đạo hạnh càng cao, thử thách càng nhiều. Chớ có xem thường! Dù nó
chỉ là vọng giả không thật.
Giai đoạn 3: Con người hoàn thiện.
Các phần trên,
tôi đã nói về đức nhẫn, lòng tin… các phương tiện cần thiết cho việc hành
trì tu tập. Đến đây tôi nói về con người hoàn thiện. Con người hoàn thiện
quả là một con người khó kiếm, nhưng không phải là không đạt đến được. Con
người hoàn thiện là con người đã được toàn bị về đức nhẫn. Là một con
người có sức mạnh lớn, không còn nghĩ đến lợi ích của mình hay của một số
người, mà là của tất cả. Đây là con người có tư cách sáng chói đặc biệt.
Đứng trước những người này, ta cảm thấy quí trọng, vui tươi và yên ổn.
Trong kinh A
Hàm kể câu chuyện như sau: Có một con chim nhỏ gặp nạn, đang bay tìm chỗ
trú ẩn. Lúc ấy đức Phật và Tôn giả Xá Lợi Phất đang trên đường qua đó.
Chim bay ngang Tôn giả Xá Lợi Phất nó vẫn còn run rẩy. Nhưng đến đức Phật
thì chim an ổn không sợ hãi. Mọi người thắc mắc về điều này, đức Phật bảo
vì Xá Lợi Phất còn chủng tập. Điều này có nghĩa là, công huân và sự toàn
thiện bên trong một khi chưa được hoàn chỉnh thì lực cảm bên ngoài vẫn còn
yếu kém.
Từ những sự
kiện như vậy, ta rút được một bài học về sự hoàn thiện. Hoàn thiện không
phải là một con người có ba đầu sáu tay hoặc biết về quá khứ hay vị lai,
mà chỉ là một con người bình thường. Nhưng với con người này, mọi cảnh
duyên, mọi hiện tượng bên ngoài không làm gì được họ. Bởi vì họ đã gột
sạch những cù cặn, những “cái riêng” của mình.
Qua những việc
hằng ngày, chúng ta có thể kiểm nghiệm được công phu của mình thế nào.
Quan trọng là trong từng giai đoạn phải thấy được, biết được từng tâm
niệm, tiến thoái của mình như thế nào. Dù một tháng làm chủ được chỉ có
hai ba ngày, cũng phấn chấn tiếp tục, không nên nản mà bỏ cuộc. Vì sao? Vì
có thấy, có biết “chỉ làm chủ được hai ba ngày”, tức biết những ngày còn
lại ta chưa hoàn thiện. Biết ta phiền não, biết ta bị buộc ràng, dính mắc,
thối chuyển, biết được như vậy đều là cái biết chánh pháp.
Người đời vì
không biết dính mắc, buộc ràng nên cứ mãi ngập chìm trong ấy. Ta có biết
nghĩa là ta đã nhận ra được ít nhiều. Biết thì không lầm. Công phu hằng
ngày cũng chẳng qua khỏi một “cái biết” này. Nếu cái biết này được nuôi
dưỡng, được phát huy, ta sẽ trở thành chúa tể sơn lâm, không gì có thể làm
ta gục ngã. Các công đức từ đây mà phát sinh. Cho nên “cái biết” này chính
là gốc của sự tu hành.
Người xưa nói
“Cố gắng! Cố gắng! Nỗ lực tu hành, đừng để ngày qua tháng lại bỏ phí một
đời”. Cục diện này bao thứ thịnh suy hợp tan vần xoay trong đời như khói
như mây. Chẳng có gì đáng quan tâm ngoài công phu, tinh thần mãnh liệt và
sự sáng suốt của chính mình. Để từ đó ta có thể làm chủ hoàn toàn những
lăng xăng điên đảo vọng tưởng từ bao đời.
Để thay lời
kết, tôi xin chúc tất cả thành công bằng bài kệ sau đây:
Ta
hăng hái tu tập
Luôn nỗ lực hành trì
Trong tinh thần tỉnh sáng
Tiến trọn một con đường
Tâm dũng mãnh đã quyết
Khó khăn ngần ngại gì,
Đời thường tâm rỗng lặng
Khói mây tan, hề chi!
] |