|
TRANG NGHIÊM TU HỌC
Trong thời
gian sinh hoạt gần đây tôi nói nhiều về đời sống tu hành của người con
Phật. Đa số chúng ta đã được học pháp nơi Hòa thượng, đường lối chủ trương
và việc áp dụng Phật pháp hàng ngày chúng ta đã nắm vững phần nào. Chỉ cần
mỗi vị đều tự trang nghiêm, tự sẵn sàng việc tu tập của mình. Việc làm đó
có kết quả nhiều ít, tùy thuộc vào công phu hành trì của từng người, không
ai giống ai. Cho nên hôm nay tôi xin bổ sung thêm những gì cần thiết cho
việc tu học này.
Trang nghiêm
là một danh từ dùng để diễn tả sự trang hoàng trong sáng, đẹp đẽ. Trang
nghiêm tu học nghĩa là chúng ta làm cho việc tu học của mình thêm phần
khởi sắc, thêm thăng tiến, thêm phần tốt đẹp hơn.
Là Phật tử,
mọi sinh hoạt tu học chúng ta đều vâng theo lời Phật dạy mà thực hành.
Muốn được an lạc giải thoát phải tu những pháp như Phật đã tu. Thiền hay
Tịnh v.v… đều là việc công phu của mình. Chính yếu là làm sao chúng ta có
được những kết quả lợi lạc thiết thực.
Trong lúc tu,
đối với tất cả công việc sinh hoạt hằng ngày, chúng ta làm với tinh thần
như thế nào? Chúng ta phải làm với tinh thần tùy duyên, hiểu rõ các pháp
không có gì thật cả. Nhờ thế chúng ta trôi tròn công việc bằng tấm lòng
chân thật, vì lợi ích của người khác, chứ không phải vì mình. Đó là lý
tưởng vô ngã vị tha, dẹp tan cái ngã nhỏ hẹp của riêng mình. Đây là nền
tảng của người tu theo hạnh Bồ tát.
Điều quan
trọng các Thiền sư thường nhắc khuyên chúng ta là, đối diện với tất cả
những sự kiện đừng để vướng mắc. Được vậy thì làm bất cứ việc gì cũng an
lạc. Còn lựa chọn thì còn trói buộc, rốt cuộc chuốc lấy phiền não mà không
làm gì được cả. Như câu chuyện vị thiền tăng nuôi mẹ sau đây.
Có một thiền
tăng vì còn mẹ già nên không thể ở trong thiền viện được. Thầy về cất cốc
phụng dưỡng mẹ già, sống bằng nghề viết kinh sách. Nhờ có thủ bút rất
tuyệt, nên các nơi đem kinh sách nhờ thầy viết khá nhiều. Do đó thầy cũng
tạm đủ để lo cho mẹ già. Nhưng có một điều là mẹ của thầy không ăn chay
được, nên thầy phải vào chợ mua cá thịt cho mẹ dùng. Từ đó mà sanh ra tai
tiếng. Tuy bị người ta gièm pha nhưng thầy vẫn tự nhiên như thường, không
hề có niệm gì khác. Thấy con vì mình mà bị người ta chê cười, bà mẹ không
ăn mặn nữa. Thế là với tâm chân thật hiếu đễ phụng dưỡng mẹ già, Ngài đã
làm tròn bổn phận và độ được mẹ tu hành. Đây quả là tấm gương sáng cho
chúng ta noi theo.
Người tu theo
đạo Phật, nhất là tu thiền thì tâm đừng vướng mắc. Hễ còn vướng mắc là
chúng ta còn lụy còn khổ. Dù làm bất cứ việc lớn nhỏ nào cũng làm với tâm
vô sự, tâm tỉnh sáng. Được như vậy là chúng ta biết tu, trôi tròn công
việc mà lúc nào lòng cũng thảnh thơi nhẹ nhàng. Đó là trang nghiêm tu học.
Một điều cần
nhớ nữa đối với người con Phật là, chúng ta phải học theo hạnh vô ngã vị
tha của đức Thế Tôn. Tất cả mọi công việc đều vì lợi ích chung, đều vì mọi
người. Chúng ta không nên đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể. Ta
càng tu càng làm việc thì càng xả ngã. Quên mình thì việc gì cũng thành
công. Ngược lại, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình thì công việc không được
như ý chúng ta sẽ phiền não. Như vậy càng làm càng khổ, chớ chẳng được lợi
ích gì. Cho nên trong cuộc sống, có những việc chúng ta không muốn làm,
song vì bổn phận bất đắc dĩ chúng ta phải làm. Gặp trường hợp này, thì cứ
tấm lòng trong sáng của mình mà làm. Được vậy là chúng ta biết tu. Đó là
điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai,
đối với những nghiệp nhân chúng ta đã gây tạo, bây giờ quả đến, chúng ta
phải đền trả. Đây là điều mà người Phật tử phải biết. Biết để làm gì? Biết
để đừng chạy trốn. Chúng ta không thể trốn bỏ cuộc sống này, mà phải tích
cực đương đầu, bởi vì đó là kết quả của mình gây tạo. Trong mọi sinh hoạt,
thường chúng ta gặp nhiều điều bất như ý hơn là như ý. Nếu căn cứ trên
hiện tại mà nói, đa số người ta cứ than thân trách phận. Nhưng nếu chúng
ta lặng tâm suy nghĩ, không có kết quả nào mà không từ nhân do chính mình
gây tạo, có ai chen vào đó đâu.
Nhận ra chỗ
này, người con Phật không bi quan, không sợ sệt, không chạy trốn. Thấy rõ
cuộc sống, sinh hoạt, tư tưởng của mình như vậy, đều do mình sáng tác ra
thôi. Không có một đấng nào, không có một thế lực nào an bày cho mình. Do
chúng ta bất giác, điên đảo, tham sân mà ra. Đã gây tạo thì phải đền trả,
đó là quy luật.
Vì vậy người
con Phật khi nhìn cuộc sống phải có nhận định rõ ràng về luật nhân quả. Có
thế ta mới yên lòng chấp nhận trả nghiệp và tiến lên chuyển nghiệp. Không
có niệm thứ hai, cũng không sanh tâm gì khác trong sinh hoạt đời thường,
đó là chúng ta trang nghiêm tu học.
Chúng ta có
thể tụng một lần năm bảy lượt Bát-nhã Tâm kinh, có thể ngồi thiền năm bảy
tiếng đồng hồ, nhưng đối với một việc làm nhỏ mà chưa vô tâm thì vẫn chưa
gọi là tu. Hoặc quý vị có thể đi đây đi đó, thuyết pháp giảng kinh, nhưng
chưa điều phục được tâm mình thì vẫn vướng mắc như thường. Thế có nghĩa là
chúng ta chưa định, chưa yên lắng, chưa tập trung, chưa sống với tính giác
của mình thì cuộc sống chưa đảm bảo. Cuộc sống chưa đảm bảo thì nghiệp lực
kéo lôi mình như không.
Trong cảnh
thuận ta thấy tu dễ dàng, nhưng cảnh thuận đâu có hoài, lâu lâu mới được
một chút. Duyên thuận không bao nhiêu mà việc bất như ý quá nhiều. Nếu cứ
chạy trốn thì chúng ta không còn con đường nào để sống, không còn chỗ dung
thân. Thành ra chúng ta không chấp nhận cuộc sống, sợ sệt cuộc sống cũng
không thể được. Cho nên cách tốt nhất là phải chuyển hóa tự thân, để có
thể thích ứng với mọi hoàn cảnh.
Chẳng hạn bây
giờ bác sĩ nói với chúng ta, thầy hay cô bị một cơn bệnh ngặt nghèo, nguy
hiểm cần phải điều trị ngay. Dĩ nhiên chúng ta điều trị, nhưng không thể
chấm dứt căn bệnh đó liền được. Bấy giờ tâm trạng của chúng ta như thế
nào? Lo sợ, hoảng hốt phải không? Thưa quí vị, dù mỗi ngày mình tụng
Bát-nhã, lạy sám hối sáu căn, học pháp Hòa thượng… mà còn vướng mắc như
vậy, thì quả thật chưa thể gọi là tu thiền. Lòng mình điên đảo lăng xăng
với những bóng dáng do chính mình tô vẽ ra, đã chẳng làm cho chúng ta hết
bệnh mà còn làm khổ thêm.
Tôi nói điều
này để làm gì? Để chúng ta kiểm nghiệm lại, lắng lòng lại mà nhận ra những
khuyết điểm của mình. Bởi vì tu là sửa. Chúng ta sửa nghiệp xấu thành
nghiệp tốt, sửa loạn động thành thanh tịnh. Sửa như vậy để chi? Để cho
mình bớt khổ, hết khổ, để có thể vui sống trong bất cứ cảnh thuận hay cảnh
nghịch. Vì đó là mục đích chính của chúng ta khi xuất gia tu học vậy. Được
thế mình mới có thể gọi là thiền sinh trong các thiền viện, trong đạo
tràng, đầy đủ đạo hạnh và trí tuệ tăng tiến trong từng phút giây.
Điểm thứ ba
tôi muốn nói là vấn đề sanh tử. Đây là một vấn đề trọng đại. Chư Tổ, các
vị Thiền sư đều lấy vấn đề này làm việc chính trong sự nghiệp tu hành của
mình. Nhưng đôi khi chúng ta lại bỏ quên. Hằng ngày, chúng ta mở mắt nhưng
thật ra mình lại như chết trong sự hít thở, trong mọi sinh hoạt của cuộc
sống. Còn ban đêm, mình nhắm mắt chẳng biết gì từ đầu đêm đến cuối đêm. Có
lần, vừa đặt lưng nằm xuống, tôi chợt nghĩ nếu như trong giấc ngủ say,
mình chết luôn thì ai sẽ nhắc nhở cho mình biết tỉnh giác đây? Hay lúc đó
ta vùi sâu trong sự si mê tối tăm, không biết gì. Nghĩ thế tôi hơi sợ. Cho
nên có thể nói chúng ta chưa lo gì được cho việc sanh tử của mình.
Mở mắt ra là
lăng xăng từ sáng cho đến trưa, trưa đến chiều, chiều đến tối. Giật mình
thì bóng đêm phủ xuống, mặt trời đi ngủ, mình cũng nhắm mắt đến sao mai
mọc mà vẫn chưa muốn dậy. Tu như vậy thì làm sao an lạc, làm sao giải
thoát. Nhưng mình đâu có sợ, mình coi đó là chuyện thường tình, không ngán
gì hết. Hễ thiếu ngủ một chút liền kiếm thuốc uống cho ngủ, thiếu ăn một
chút là kiếm thứ gì ăn vô. Như vậy hóa ra cuộc sống chỉ có ăn và ngủ ! Đó
là chưa kể những phiền não rắc rối do chính mình quấy động nữa.
Cứ như vậy mà
tính năm tính tuổi cho đến già đến chết, chớ ta không hề biết tới tánh
giác là gì? Cái không già không chết thì bỏ đi, cái bất sanh bất diệt thì
không cần đến, cứ lu bu với ăn ngủ, bệnh tật, thương ghét… cả đời! Thưa
quí vị, thế thì ta tu học cái gì? Trong khi Phật dạy người tu phải sống
lại với tánh giác của mình. Sống được với tánh giác thì hết lo, hết khổ.
Khổ não làm cho chúng ta điên đảo, tại sao mình lại đeo mang nó! Đó là tự
mình cô phụ lấy mình thôi. Đã thế thì phải trầm luân trong sanh tử. Than
trách ai?
Nhận hiểu như
vậy, chúng ta phải cố gắng khôi phục lại nếp sống thật của mình. Buổi sáng
vui tươi, buổi chiều cũng bình thường. Phút giây nào ta chạy ra ngoài là
đêm đen điên đảo. Còn từng tâm niệm từng tâm niệm sáng suốt không bị ngoại
cảnh kéo lôi, đó là buổi sáng bình minh, là mùa xuân vui tươi. Cho nên
những thứ tăm tối, chúng ta không khắc phục được đó là sống với bóng đêm.
Lúc nào cũng tỉnh giác, trong sáng không bị vọng động kéo lôi, đó là sống
với mùa xuân, với bình minh.
Người tu thiền
nếu không làm chủ được tâm loạn động của mình, thì khi sắp chết huynh đệ
có hộ trì cách mấy cũng chẳng có gì dính dáng. Cho nên chúng ta tu hành là
phải tỉnh sáng, mới có thể lo cho mình lúc lâm chung. Muốn tỉnh sáng thì
bắt buộc phải có công phu huân tập hằng ngày. Trong mọi lúc mọi thời
thường xét nét lại mình, điểm nào dở ta sửa lại, điểm nào yếu ta vun bồi
thêm. Được vậy, mới hy vọng đủ năng lực đối đầu với sanh tử.
Nếu chúng ta
có được sự định tỉnh thì trongï sinh hoạt sẽ nhẹ nhàng. Làm tất cả việc mà
không lo sợ, lăng xăng. Như vậy là tự tại giải thoát an vui, đâu cần tìm ở
đâu xa. Cho nên không đợi đến mùa xuân ta mới nghe chim hoàng oanh hót,
mới thấy hoa đua nở, ngay trong tâm ta đã có đủ.
Ta có mặt ở
đây là do năng lực của nghiệp. Mà nghiệp từ đâu? Nghiệp chính là những
thói quen từ ngôn ngữ, suy nghĩ, hành động của mình. Tựu trung từ thân
khẩu ý mà ta tạo nghiệp. Cho nên tu là chuyển nghiệp. Chúng ta có bệnh hay
hẹn. Thí dụ, chiều nay tính ba giờ ngồi thiền, nhưng tới giờ đó nghe hơi
nóng nực, mình tự nói “thôi tối ngồi cho mát, bây giờ nóng quá ngồi không
tốt”. Thành ra mất đi một buổi ngồi thiền. Cứ thế mà suốt đời hẹn lần hẹn
lựa. Rồi thì tật nào vẫn nguyên tật ấy, làm sao chuyển nghiệp được !
Nghiệp còn thì phiền não còn, đau khổ còn.
Nếu chúng ta
không chuyển, không hóa giải được nghiệp, chúng tồn đọng trong tâm là ung
thư thời kỳ thứ nhất. Tồn đọng lâu ngày chúng phát tiết ra ngoài khiến cho
thân khẩu tạo nghiệp là ung thư thời kỳ thứ hai. Vì thân miệng nói bậy làm
bậy khiến cho ta khổ đau bứt rứt trong tâm là ung thư thời kỳ thứ ba.
Ngoài pháp Phật ra không có thuốc gì trị được bệnh này. Chúng ta không
nghe không làm theo lời Phật dạy, thì đành chịu chết với chứng bệnh ung
thư này thôi. Ung thư bên ngoài của thân tứ đại chỉ làm khổ ta trong một
đời thôi, còn ung thư của tham, sân, si mới làm khổ chúng ta trong nhiều
đời. Nó lại rất khó trị nên chúng ta chớ có xem thường.
Tâm luôn tỉnh
sáng, khi tham biết tham, sân biết sân, đối với tất cả các dấy niệm đều
biết, cái sáng này quả thật phi thường. Người tu cần tỉnh sáng như vậy.
Làm sao trong mọi sinh hoạt, từng bước đi, từng ý niệm, từng việc làm,
từng ngôn ngữ, nếp ăn, nếp nghĩ, chúng ta luôn tỉnh sáng. Đó là quý nhất.
Được vậy thì trong lúc ngủ, mình vẫn sáng nên không sợ cái chết đến bất cứ
lúc nào. Cho nên tâm tỉnh sáng đó mới là thực dụng đối với người tu. Còn
tâm phân biệt hơn thua, giận dỗi... chỉ chồng chất thêm những tối tăm, si
mê, không có lợi ích gì cả.
Tóm lại, trong
mọi quan hệ chúng ta cố gắng làm chủ, sống được với tánh giác của mình.
Người tu làm tất cả Phật sự, tu tất cả công đức trí tuệ, mà không để tâm
mong cầu, dĩ nhiên cũng sẽ được đền trả xứng đáng. Ngược lại, nếu chúng ta
cứ tính toán mong cầu, rốt cuộc chẳng được gì cả. Dần dần những việc đó
trở thành các pháp tướng đa sự, kếát thêm bực bội, phiền não cho thân tâm.
Người tu phải
dè dặt đừng để bất giác. Bất giác là gì? Là không tỉnh sáng. Người đời dù
thông minh cách mấy, nhưng nếu phiền não hoài, vẫn gọi là bất giác. Bất
giác thì làm khổ mình, khổ người. Có những việc do thói quen nên ta cứ
làm, không cần biết nó dẫn tới hậu quả tốt hay xấu. Đây là bất giác, trong
kinh gọi là tập khí. Chúng ta cố gắng làm chủ thân tâm tức là làm chủ thói
quen này. Chư Phật, chư Tổ đã dùng nhiều phương pháp nhắc nhở chỉ dạy
chúng ta, cũng chỉ vì việc đó thôi. Cho nên chúng ta tu là phải đoạn trừ
phiền não.
Thử nghiệm lại
xem từ người già tám chín mươi tuổi cho đến đứa bé con, ai không có phiền
não. Vậy phiền não là gì? Theo Hán ngữ, chữ Ðiền một bên là bộ hỏa tức
lửa, một bên là bộ hiệt tức cái đầu. Nghĩa là cái đầu bị lửa đốt. Chữ não
một bên là bộ tâm, một bên có bộ xuyên, tức những tư tưởng dấy khởi lăng
xăng như sóng trào, mình không làm chủ được. Tóm lại, đối với tất cả các
cảnh, trong lòng không yên, bực bội, nhức nhối… đều gọi là phiền não. Con
người đầy dẫy phiền não. Phải tu như thế nào cho hết phiền não, đó là vấn
đề của chúng ta.
Duy thức học
gọi phiền não là thùy miên, tức một loại ngủ ngầm. Tham, sân, tật đố, bực
bội, giận hờn… ở đâu không biết, nhưng cảnh gì vừa trái tai gai mắt thì có
phiền não liền. Cho nên biết phiền não tràn đầy trong chúng ta. Nếu biết
tu, chúng ta phải làm sao? Không nên để phiền não chi phối. Khi nào nghe
trên đầu bưng bức khó chịu, trong lòng ray rứt, buồn phiền là biết phiền
não tới rồi đó. Dùng trí tuệ, từ bi của Phật mà rưới nó đi.
Chúng ta thấy
Phật, Bồ tát lúc nào mặt mày cũng tươi tắn, cũng cười. Dù trên lưng sư tử
hay trên mỏm đá, các Ngài đều tự tại giải thoát. Các bậc tu hành ngày xưa,
ở nơi đầy đủ tiện nghi hay dưới đất gốc cây, các vị cũng tươi tắn hồn
nhiên. Vì các ngài đã trị được phiền não. Nếu không trị được phiền não thì
chưa thể gọi là tu. Chúng ta thử kiểm nghiệm lại xem mình đã trị được
phiền não chưa? Hay đụng tới là buồn, rớ tới là la. Buồn giận rồi than
trách “Ở đây phiền não quá, phải đi thôi!”. Rõ là lửa phiền đốt tâm, đốt
thân. Thành ra chúng ta phải trị cho hết lửa phiền não. Có người bảo phiền
não không thật, trị là trị cái gì ?
Thưa quí vị,
nó không thật nhưng lúc nào nó cũng nằm sẵn đó, có dịp là nó ra tay liền.
Một con vật nhỏ xíu cũng có phiền não thùy miên. Trong thất tôi có con chó
Bi và con mèo, chúng chơi thân với nhau lắm. Nhưng chó Bi lớn nên hay ăn
hiếp con mèo. Chú cắn cổ con mèo rồi giũ qua giũ lại, lôi đi… thấy mà
thương cho con mèo. Con mèo la chú cũng không thả, có khi tôi phải la phụ
với con mèo, chú mới chịu thả ra. Nhưng thả ra, chạy một vòng rồi chú cũng
trở lại quặp cổ con mèo, rồi giũ rồi lôi. Tuy nhiên, không phải lúc nào
con mèo cũng dễ thương để chú muốn làm gì thì làm. Khi phiền não thùy miên
nổi lên, nó giơ vuốt ra, cái tay nhỏ xíu mà móng nhọn hoắt, vả vào chó Bi
một cái… rồi chạy đi. Vừa chạy vừa la. Một anh thì giỡn ngây, một anh thì
phiền não ngủ ngầm trong lòng.
Chúng ta cũng
vậy, nhiều khi tôi thấy mình vô lý, làm thầy rồi mà cũng la cũng rầy. Bởi
vì phiền não ngủ ở đâu đó, khi nó tác động thì đôi mắt mình thấy, bộ não
mình suy nghĩ, miệng mình nói, thế là nghiệp dẫn đi trong sanh tử. Nếu
chúng ta buông tất cả những dấy niệm, đừng nói, đừng nghĩ, đừng làm khi
gặp những gì trái ý, thử xem lúc đó thế nào? Thưa quí vị, thật là khiêm
tốn, thật là dễ thương! Nhưng họa hoằn lắm mới có được một lần như vậy.
Buông! Là chủ
trương của nhà thiền. Nhưng ít khi chúng ta chịu buông. Có những thứ phiền
não làm mình điêu đứng, làm mình mất hết thời gian, thế mà chúng ta vẫn
chưa buông được. Phiền não từ thân, phiền não từ tâm... là những loại khí
độc, những loại ô nhiễm làm ung thư tạng phủ chúng ta. Bỏ nó là giải
thoát, là thênh thang không có giới hạn. Thế tại sao chúng ta chưa chịu bỏ
?
Chư Phật và
Bồ tát đối với chúng sinh, luôn sử dụng từ ngữ, ái ngữ, khiêm hạ ngữ, chân
thật ngữ. Các Ngài không hề dùng những thứ độc hại ngữ, thô bạo ngữ hay
sân hận ngữ. Chúng ta là con của Phật, nguyện tu theo hạnh Phật thì phải
bỏ những gì xấu dữ. Lời nói có khi tác động, kết thành nhân gây ra muôn
vàn tội lỗi. Tuy tội lỗi không thật, nhưng vô cớ nói nặng người ta thì sẽ
nhận hậu quả ngay. Tóm lại, theo tinh thần đạo Phật, tu phải trải qua công
phu sâu dày mới trị hết những thứ tật, những thói quen, những nghiệp tập
của mình.
Trong giới của
Phật, riêng về miệng có bốn lỗi.
1. Nói dối:
Việc có nói không, việc không nói có.
2. Nói thêu
dệt: Nói phịa, có ít xít ra nhiều khiến cho người ta hoang mang lo sợ…
3. Nói ác: Nói
lời hung dữ khiến người nghe đau khổ, tức giận.
4. Nói hai
chiều: Đến đây nói xấu kia, đến kia nói xấu đây, khiến cho người thù ghét
nhau, hại nhau. Thế gian gọi là nói đâm thọc, tức đâm bị thóc thọc bị gạo.
Lỗi này trong đạo có khi tạo tội bất hòa hợp chúng tăng, tội này rất
nặng.
Đối với một sự
kiện, mình không làm chủ được để cho miệng phát ra những lời nói như thế
thì thật là nguy hại. Người tu Bồ tát đạo thì không thể nào thiếu ái ngữ,
từ ngữ, chân thật ngữ được. Những thứ này luôn luôn phải dành dụm, sẵn
sàng để trang nghiêm cuộc sống, trang nghiêm tư cách của mình. Chúng ta
thử tưởng tượng, một người tu mà chống tay nói những lời thô tục thì thế
nào ? Thấy là đã phát khiếp rồi, huống là phải nghe. Cho nên cần phải
trang nghiêm tu sửa lấy mình. Trong mọi hoàn cảnh, nếu phải nói thì nói
lời từ bi, lời chân thật. Nói làm sao cho người ta nghe được, thì người ta
mới có thể làm theo ý mình chứ. Đó là tu trong lời nói, trong khẩu nghiệp
vậy.
Trong việc
trang nghiêm tu học, tôi đề nghị chúng ta phải có tâm buông xả. Thật ra,
thứ gì mình thích rồi thì khó buông xả lắm. Chúng ta biết, học thuộc lòng
thân này không thật, tâm này là bóng dáng của sáu trần, là vọng tưởng.
Nhưng thứ gì mình thích thì nó là thật, nên bỏ không đành. Ngày nay mình
biết tu rồi, vậy thì chẳng may thứ gì mình lỡ yêu thích mà người khác
muốn, chúng ta phát tâm mở rộng cửa lòng bố thí hết. Một khi làm được việc
đó, quí vị sẽ thấy nhẹ nhõm giống như người bệnh trầm kha uống được một
thang thuốc quí vậy. Chúng ta dám bỏ được một thứ thì lần lần tất cả các
thứ còn lại cũng sẽ bỏ được. Có thế, mới mong tới bến bờ giác ngộ.
Tóm lại, nếu
chúng ta chịu khó quán sát lại mình, kiểm nghiệm lại mình, từng bước buông
bỏ phiền não, buông bỏ những gì ta nâng niu quý trọng, thì chúng ta sẽ
được tâm sáng suốt. Có vậy trí tuệ đạo đức của mình mới phát huy được. Từ
đó chúng ta có cơ hội sống được với tánh giác của mình, hoàn thành được
con đường Phật đạo, xứng đáng là đệ tử của Phật. Đó chính là từng bước
trang nghiêm tu học vậy.
] |