|
HỌC ĐẠO
Trong đạo giáo
của chúng ta, kinh điển được ghi lại từ lời Phật dạy, suốt bốn mươi mấy
năm, thường gọi là tam tạng kinh điển. Trong đó gồm tạng kinh, tạng luật
và tạng luận, cùng rất nhiều bản văn sớ giải và các bộ kinh luận lớn của
chư Tổ.
Do có quá
nhiều như vậy, nên chúng ta không thể đọc, học hết. Vì vậy ta thấy ở Việt
Nam, đạo Phật được truyền bá rộng rãi, nhưng nhìn kỹ lại thì đa số vẫn còn
bị xen tạp, sự hiểu biết không đúng với tinh thần của đạo Phật. Người
ngoài phê phán lối áp dụng đạo Phật của Phật tử Việt Nam có chiều hướng mê
tín... Lời phê bình ấy chẳng sai. Bởi chúng ta có tín ngưỡng rất lớn đối
với đạo giáo và chúng ta cũng dễ dàng chấp nhận những gì na ná như đạo
Phật. Chẳng hạn, bất cứ hình tượng gì chúng ta cũng có thể mời lên ngự
chung với đức Phật. Đây là những việc không đúng với chánh pháp. Như vậy
có nên chăng, khi chúng ta làm một việc mà mình chưa hiểu, còn mờ mịt lai
lịch đường lối của việc đó?
Không khi nào
chúng ta làm một nơi, tu một nơi mà có kết quả tốt được! Là một người Phật
tử, chúng ta không cho phép mình làm như vậy. Tu thì phải có hành, hành
thì phải có hiểu. Mà muốn hiểu thì phải có học cho đúng, cho tới nơi. Có
thế mới không bị lầm.
Tinh thần chủ
yếu của đạo Phật là giải thoát, sự thể hiện của đạo Phật là từ bi và trí
tuệ. Do đó, đời sống của người con Phật phải thanh tịnh. Thanh tịnh thì
mới giải thoát. Vì vậy đối với người học đạo ở giai đoạn đầu là phải phấn
đấu, khắc phục cho được những ham muốn của chính bản thân mình. Nếu người
học đạo chúng ta điều phục được phần này, thì chúng ta mới có điều kiện
cũng như đủ sự tỉnh sáng để học hỏi và hành trì đạo pháp.
Người xưa nói
“Người học đạo thì không bị tình dục mê hoặc, không bị tà ác xoay chiều,
khi nào cũng tinh tiến trên con đường đạo. Ta bảo rằng người ấy sẽ chứng
quả viên mãn, không bỏ cuộc giữa đường”. Nghĩa là, trước nhất người học
đạo phải làm chủ được các dục. Chữ dục có rất nhiều nghĩa: tham dục, dục
tình, dục ý... Trong mọi sinh hoạt chúng ta cố gắng làm chủ, không để các
thứ này chi phối, tác động, gây xáo trộn, tạo sự bất an bất ổn thì chúng
ta mới không bị các thứ tà ác xoay chiều lôi cuốn. Nếu không, có khi ta tu
Phật mà chẳng hành trì đúng theo lời Phật dạy. Cho nên đã học theo Phật,
thì cố gắng khắc phục, điều chế, bằng không chúng ta chỉ có hình thức mà
rỗng về nội dung. Không những chỉ có hàng Phật tử xuất gia phải quan tâm
học đạo và hành đạo như vậy, mà ngay cả hàng Phật tử tại gia, nếu đã có ý
tu hành thì cũng nên như thế. Có vậy, mới gặt hái được lợi ích thiết thực
trong việc tu học của mình.
Kế là, đừng
bao giờ để “xoay chiều theo tà ác”. Tà ác là những gì trái lại với lời
Phật dạy, với đạo lý. Muốn vậy mình phải hiểu đạo chân chính. Nếu chưa
hiểu chân chính thì mình rất dễ bị “xoay chiều”. Như khi phải ngồi nghe
pháp, ta cảm thấy mệt mỏi chán nản vì chưa nhận ra tầm lợi ích trước mắt.
Nhưng có khi chỉ cần ba nén nhang, khấn vái sơ sơ với một ít chè xôi ở
dưới gốc đa, ta lại thấy có kết quả hiệu nghiệm. Vậy là ta dễ dàng chấp
nhận việc làm đó. Thành ra đối với vấn đề này, nói nghe thì dễ, nhưng sống
đúng với tinh thần của đạo Phật thì quả thật rất khó. Nhất là đối với
những tập tục lâu đời như thờ ông này bà nọ, đốt giấy tiền vàng bạc để cầu
việc này việc kia... Những thứ này có cơ hội phát triển là do lòng cầu
mong, ham muốn của chúng ta. Nó là một biểu hiện của dục. Cho nên học Phật
và hành được những điều đã học thì quả không phải dễ. Tuy không dễ nhưng
không có nghĩa là không làm được!
Phật dạy “Này
các thầy Tỷ Kheo, nếu siêng năng thì không có việc gì khó. Vì thế các thầy
phải siêng năng. Giọt nước chảy mãi sẽ có ngày xuyên thủng đá. Người hành
đạo không siêng năng, biếng lười, thì cũng như cọ gỗ lấy lửa, chưa nóng đã
vội dừng. Như thế có muốn lấy lửa, không làm sao được lửa”. Ở đây tôi muốn
nói đến công phu liên tục của người tu. Vì sau khi hiểu, ta phải hành trì.
Có hành trì thì mới có lợi lạc. Hành trì ở đây là siêng năng liên tục,
không thể một nắng mười mưa, nửa vời mà có kết quả. Ngày xưa các Tổ đã
phải ở trong muôn vàn khó khăn mà vượt khỏi khó khăn để đạt đạo và truyền
đạo. Lục Tổ Huệ Năng, dù đã được truyền thừa tâm ấn, cũng phải ẩn dật sống
cực khổ với các thợ săn mười mấy năm trời. Tổ Qui Sơn, lên núi Qui để mở
mang Phật sự, rừng núi um tùm rất nhiều thú độc. Sau sáu năm Ngài vẫn bình
yên. Ngài đã từng thệ nguyện “Ta đã ở đây sáu năm, nếu có duyên với Phật
đạo thì xin các thú ẩn đi để ta hóa đạo. Còn nếu không thì xin hiến thân
này”. Phấn đấu được như vậy, chắc hẳn bên trong các Ngài phải có nội lực
thâm hậu mới có thể đảm đương việc lớn. Muốn mở mang được đạo không phải
là chuyện thường. Những chướng ngại bình thường mà ta không đủ sáng suốt
để vượt qua, rồi công phu thì cứ như lục bình trôi sông, biết bao giờ mới
đắc đạo.
Người thành
Phật thành Tổ càng nhiều thì Phật pháp càng tăng thạnh. Bản thân mình lợi
lạc thì cũng muốn những người chung quanh được lợi lạc. Đối với hàng Phật
tử tại gia, sau khi học và hành, cũng nên chỉ dẫn lại cho họ hàng, bà con
láng giềng của mình hiểu biết về đạo pháp. Đây là tinh thần từ bi của đạo
Phật. Muốn vậy chúng ta phải hiểu đạo ra sao, hành trì thế nào? Chính bản
thân mình phải là người thể hiện được đức tính và sự lợi lạc của người đã
học hiểu và hành trì Phật pháp. Từ đó mới có đủ năng lực và uy tín để gầy
dựng cho những người chung quanh. Tu sơ sơ, học sơ sơ thì khó mà hành đạo
và đạt đạo.
Sau đây là
những điều cần thiết để chúng ta đạt được đời sống thanh tịnh, giải thoát.
a. Phải khống chế và khắc phục cho được các dục của mình.
Trước hết tôi
nói về nghĩa của chữ dục. Phải biết rõ dục là gì, ở đâu, thì ta mới có thể
khống chế và khắc phục được nó. Đánh giặc mà không biết giặc là ai, ở chỗ
nào thì quả là si mê. Nghĩa chữ dục tôi đề cập ở đây là những thứ dục phá
hoại công phu tu hành của người con Phật. Tôi cũng chỉ nhắc đến những thứ
dục trong phạm vi mà chúng ta có thể thấy, có thể khắc chế được. Còn các
thứ dục vi tế và những dục thuộc về đại nguyện của Bồ tát thì tôi sẽ đề
cập trong các phần khác.
Dục có nhiều
nghĩa, nhưng chung qui cũng không ra ngoài thân, khẩu và ý. Các ý niệm
mong muốn, ham muốn là thuộc về ý. Những ham muốn ưa thích trong phạm vi
của miệng là dục thuộc miệng. Những ham muốn ở thân là dục thuộc thân. Tuy
chia ba, nhưng dục từ thân và miệng đều có sự chi phối của ý. Dù ngăn ngừa
dục ở miệng và thân, mà không chuyển ngay từ ý, cứ buông lung cho nó mặc
tình rong ruổi, thì quả thật chẳng phải là người khôn ngoan. Giống như
ngăn nước trong hồ không cho chạy ra ngoài bằng cách bít lỗ, nhưng lại
không khóa nguồn nước. Làm vậy có khác gì tăng thêm áp lực nước trong hồ,
có ngày cũng mang họa.
Ở đây, Hòa
thượng dạy chúng ta “biết vọng không theo”, nghĩa là tu thẳng từ cửa ý
này. Vừa có một ý niệm ham muốn dấy lên, ta biết nó không thật, buông! Thì
mọi thứ được yên ổn bình an. Trên thực tế có loại vọng niệm mình buông
được liền. Nhưng cũng có thứ ăn sâu trong xương trong tủy của ta, không
phải nói buông mà buông liền được. Vì vậy đức Phật dạy rất nhiều phép
quán, chẳng hạn như quán bất tịnh, quán vô thường v.v… Nói chung, tùy
phương tiện đối trị mà chúng ta khắc chế và làm chủ được dục của mình ngay
từ trong ý niệm. Đã nói là phương tiện thì phải nhớ rằng, nó chỉ được dùng
trong một giai đoạn nào cần thiết thôi.
Ai cũng biết,
nghiệp dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử khổ đau. Nhưng nghiệp là gì
mà năng lực của nó lớn như vậy? Chẳng qua nó chỉ là những hành động của
thân khẩu ý được lặp đi lặp lại thành thói quen mà thôi. Dục cũng vậy,
đừng cho rằng đây chỉ là một hành động nhỏ, một ham muốn nhỏ mà buông
lung. Những thứ dục mà chúng ta phải cần đến các phép quán như quán bất
tịnh, quán vô ngã... chẳng qua cũng chính là do huân tập quá sâu quá dày
từ nhiều kiếp trước. Vì vậy chớ khinh thường đối với các dục nhỏ.
Tại sao chúng
ta phải khắc chế và làm chủ cho được dục. Đơn giản là vì nó làm ta không
yên, chưa kể những hậu quả được hình thành từ nó. Đối với người tu, nó phá
đời sống thanh tịnh phạm hạnh. Đối với người đời, nó đưa người ta đến chỗ
tội lỗi, hư hoại. Chúng ta thấy cuộc sống ngoài đời với những việc cướp
bóc, giết người chẳng qua cũng chỉ từ một chữ dục mà ra. Quí vị thấy, có
những kẻ giết người hàng loạt không phải vì tiền bạc hay là vì gì cả, mà
chỉ đơn giản là vì thích giết vậy thôi. Nghiệp có một năng lực ghê ghớm
được hình thành từ đời kiếp nào ta không hiểu, nhưng rõ ràng chữ “thích”
đó là bà con gần của chữ dục. Rồi những việc rất đơn giản như muốn nghe,
muốn đi, muốn nói… làm ta khó yên để mà định tỉnh.
Quí vị cứ
nghiệm mà xem, chỉ với ý niệm nhỏ là muốn ăn cái gì cho ngon thôi, chúng
ta đã không yên rồi, lăng xăng lộn xộn suy nghĩ cho ra món ăn, rồi còn
thực hành, ra chợ này không có, chạy sang chợ khác. Đối với người đời đó
là chuyện thường. Nhưng với nguời tu chúng ta nếu như vậy thì giờ đâu để
tu? Nói gì đến các việc khác lớn hơn, quan trọng hơn. Không yên làm sao có
định, không định thì tuệ ở chỗ nào? Cho nên diệt được những dấy niệm ham
muốn, ta mới định tỉnh an ổn. Người nói thiền nói đạo mà không làm chủ
được dục thì chỉ là nói cho vui. Đó là những bất an bất ổn hiện tại trước
mắt, chưa kể đến hậu quả của nó để lại về lâu về dài. Từ những hậu quả này
tạo nên một năng lực cột chặt, nghiền nát con người chúng ta không ngày
thoát khỏi. Cứ vậy mà trôi dạt.
Tóm lại chúng
ta làm tất cả mọi thứ như tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền… cũng chỉ là
nhằm tiêu diệt lòng ham muốn của mình, để được bình tĩnh an lạc. Niệm
Phật, tụng kinh để cầu vãng sanh thì được nhưng niệm Phật tụng kinh để cầu
phú quí, tăng thêm lợi lộc thì thưa quí vị, xin suy nghĩ lại. Điều này đã
đi ngược với lời răn dạy của đức Phật rồi. Phải nhớ những phương tiện chư
Phật chư Tổ đặt ra chẳng qua là diệt cho được lòng dục của ta, không phải
bày thêm tai họa cho ta. Diệt được dục nghĩa là giữ giới tu hành.
b. Diệt tật sân hận.
Sân hận là
những biểu hiện như bực tức, nổi sùng, la hét… cho đến những thứ như uẩn
ức buồn phiền đều là những biểu hiện của sân hận ở mặt vi tế.
Tại sao sân
hận xuất hiện? Vì gặp những điều trái ý của mình. Nói chung là đi ngược
với lòng dục, với vọng tưởng của chúng ta. Dấy niệm bực bội sân hận là do
cố chấp, do chưa hiểu tới nơi, không quán thông nhân quả nghiệp báo. Vì
không phải là kẻ sáng suốt, ta mới bực bội với những cảnh chung quanh. Bực
bội, giận dữ, hầm hét là hiện tướng của quỉ thần, không phải là tướng từ
bi. Hiện ra tướng như vậy thì phải biết đó là tập nhân không tốt của mình.
Mình đã gây ra “chủng tử” như vậy, mà lạy Phật để cho con được vui vẻ thì
không xong. Đã gây nhân đó mà sợ quả đó thì vô lý. Vì vậy, ai mong muốn
vui vẻ an lạc thì phải tiêu diệt mầm sân hận, lửa ngầm ở trong lòng.
Do si mê, tham
dục ta sân hận. Nhưng cũng từ sân hận ta trở thành si mê. Quí vị vẫn
thường nghe người đời nói “giận mất khôn”. Sân cũng như tham, chúng làm
tâm ta chao đảo rối loạn, không có định tỉnh. Nhưng cũng từ thiếu định
tỉnh ta mới bị sân hận dẫn đường. Sân và tham tai hại như vậy, nên cần
phải diệt tận. Muốn diệt trừ sân hận thì cũng có nghĩa là chúng ta phải
làm chủ cho được các dục.
c. Làm chủ si mê.
Si là ngu. Mê
là lầm, là không tỉnh. Vì bỏ quên cái “sáng suốt thường hằng” mà ta lầm
lạc, ngu muội. Do bất giác mà ta gây tạo biết bao nghiệp nhân. Rồi từ
những nghiệp nhân này ta càng trở nên tăm tối. Mặt khác, si mê là do lòng
cố chấp mà ra. Nó là căn bệnh nguy hiểm cần loại bỏ. Muốn loại bỏ lòng si
mê, chúng ta phải học hỏi Phật pháp cho tới nơi tới chốn, kế đến phải hành
trì tu tập. Từ việc tu tập hành trì, chúng ta có định tỉnh, từ định tỉnh
ta có trí tuệ. Trí tuệ xuất hiện, thì si mê đương nhiên không còn.
d. Chủ yếu của người tu là phải “minh tâm kiến tánh”.
Người minh
tâm kiến tánh, nói gần chính là người khắc phục được tham sân si, buông
được vọng tưởng. Buông vọng tưởng là một việc làm không phải dễ. Nếu không
minh tâm kiến tánh thì khó thực hiện được.
Minh tâm kiến
tánh là gì? Chính là người đã nhận được tâm chân thật của mình.
Minh là sáng,
Kiến là thấy. Minh tâm là nhận được tâm thể. Kiến tánh là thấy được bản
thể của các pháp. Cái chính là chúng ta phải tự nhận được tâm mình. Bao
giờ chúng ta nhận lại được hạt châu trong túi áo, thì chúng ta mới thật sự
hết nghèo, hết khổ. Người muốn vào được cửa Thiền là người phải minh tâm
kiến tánh. Đây tôi chỉ mới nói đến việc “nhận ra”, chưa phải là “công phu
hay quá trình” gạn lọc trải dài, không tính kiếp số thời gian, đòi hỏi sự
kiên trì và bền vững ở chúng ta. Minh tâm là người luôn luôn sống được với
tánh sáng suốt của chính mình. Kiến tánh là thấy đước tánh thật của mình.
Bởi từ lâu mình lầm nhận đồ giả cho là thật nên chạy theo bám víu, khổ đau
dài dài. Giờ nhận ra nó không thật, thì chạy theo làm gì nữa! Khi nhận ra
được cái thật, ta yên lòng dù đang sống trong cái không thật. Đó là kiến
tánh.
Phật nói giáo
pháp của Ngài không dành riêng cho ai. Bất cứ ai nếu áp dụng đúng thì cũng
đều hưởng được kết quả và giá trị thiết thực của nó. Vì vậy, người học đạo
chẳng do trí thông minh hay tài biện luận mà chính là do nơi lòng thành
thật của chính mình. Đó là điểm chính yếu trong việc tu hành. Thành thật
là sao? Là biết các nghiệp tập, các xấu dở của mình để khắc phục và trị
liệu. Là người tu thì phải quay lại chiếu kỹ vào mình, không nên soi rọi
ra ngoài thấy khuyết tật của người. Biết dở liền bỏ, đó gọi là tu. Trong
các việc hàng ngày như ăn, uống, ngủ, nghỉ, tiếp xúc, nếu cái dở lòi ra
thì lập tức đánh dấu mà trị. Ngược lại, chúng ta cất kỹ nó thì khác gì
nuôi rắn độc trong nhà.
Niết-bàn trong
đạo Phật không thể tìm ở đâu, mà chính là phải đào xới ngay nơi mình, bằng
cách loại những cái không thật ra. Lòng thanh thản thoải mái, đó chính là
Niết-bàn. Nên nói “người tu phải thầm xét lòng mình, chớ bày lỗi người, ở
tất cả chỗ thảy không ngăn ngại, tức lòng thong thả”. Vọng cảnh dứt rồi
thì thật cảnh mới hiện ra. Cho nên người tu phải là người dám nhìn lại
mình mới được.
Một điểm tôi
muốn nói đến nữa là, LỐI RA KHỎI SANH TỬ. Muốn vậy, phải quán sát thật kỹ
cuộc đời, hoàn cảnh và thân này. Như trong kinh nói “Thế gian là vô
thường, đất nước là tạm bợ, bốn đại là không thật”. Nói đến quán sát, quán
chiếu là phải nói đến tinh thần thọ trì tu học chính đáng, không phải đọc
học suông. Thế giới mong manh, hoàn cảnh bất như ý, thân này là nhà lửa,
có gì an ổn bền lâu mà nuôi dưỡng các niệm đảo điên trong lòng. Muốn nhận
định chính xác như vậy, chúng ta phải có sự quán xét. Tức dùng trí tuệ mà
thấy xác thật được vấn đề. Tuy nhiên muốn quán xét thường xuyên và có hiệu
quả thì phải thông qua thiền định. Có thiền định mới dừng được tất cả
những niệm tưởng lăng xăng, thấy được tột nguồn của chúng. Người tu mà
không định tỉnh thì chưa thể yên, chưa có quán xét sâu sắc, chưa có trí
tuệ.
Tóm lại người
tu đúng chánh pháp là người minh tâm kiến tánh, định tỉnh, thấy đúng như
thật các pháp.
Xưa có một vị
tên là Ngũ Liễu, bình nhật Ngài ít nói, không ham danh lợi, thường viết
văn để tự tiêu khiển, không bị rượu chè làm chìm đắm, không bị các thú vui
làm mất thời giờ. Đó là con người không bị dục lạc, danh lợi kéo lôi.
Người tu thiền mà bị các pháp kéo lôi thì thật là dở. Nhưng thật tình thứ
gì cũng có thể kéo lôi mình, từ tiếng động, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn,
có vạn thứ mình vướng mắc quay cuồng trong đó. Những thứ rất bình thường
trong cuộc đời kéo lôi làm mất đi thì giờ của chúng ta, làm mất đi nhân
cách của chúng ta. Nhưng chúng ta thì cứ cho là tự nhiên, sống mất mình
trong đó. Muốn không như thế thì đòi hỏi phải có công phu.
Tóm lại, người
con Phật phải làm sao để sống tỉnh thức, nhàn nhã bất động. Còn động là
còn bị thế gian lôi kéo. Người tu thiền là người phải bất động với danh
lợi, tiền tài, sắc dục thế gian. Chỗ hướng tới của chúng ta chính là “bất
động đối với các pháp”. Muốn vậy phải học cho đúng, hành cho đúng. Trong
đó điều chủ yếu vẫn là phải áp dụng những gì đã học được một cách bền bỉ
lâu dài.
] |