|
KỶ NIỆM PHẬT ĐẢN
(2541- 1997)
Hôm nay là
ngày kỷ niệm đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lần thứ 2541. Nhân quý Phật
tử về chùa mừng ngày lễ trọng đại này, chúng tôi có một vài điều trình bày
qua.
1. Cuộc đời
đức Giáo chủ.
2. Giáo lý đức
Phật đã chứng nghiệm.
3. Tinh thần
tu hành của người Phật tử chúng ta qua đạo lý Phật dạy.
Tôi sẽ đi tuần
tự theo nội dung như đã nêu trên.
1. Cuộc đời của đức Giáo chủ.
Giáo chủ của
chúng ta ai cũng biết là đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài xuất thân
từ dòng dõi Sát-đế-lợi, là một vị Đông cung Thái tử. Sống trong nhung lụa
với tất cả tiện nghi của một vị Hoàng đế, nhưng Ngài đã từ bỏ tất cả. Bởi
vì đức Phật không an ổn khi chứng kiến cảnh sanh, già, bệnh, chết của con
người. Ngài không thể làm ngơ trước thân phận đau khổ của đồng loại, trong
đó có Ngài và thân quyến. Vì vậy sự thụ hưởng trong cung vàng điện ngọc
đối với Ngài thật chẳng có gì vui.
Theo lịch sử
thì vào ngày trăng tròn tháng tư, tính theo âm lịch của chúng ta, nhưng
theo Ấn Độ thì là ngày trăng tròn tháng năm vào năm 543 trước Công nguyên,
tại thành Ca Tỳ La Vệ, bên biên giới Ấn Độ, trong vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử
Tất Đạt Đa ra đời, chính là vị Phật tương lai, là vị Giáo chủ của chúng
ta.
Cha Ngài là
vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, mẹ là Hoàng hậu Ma Da. Sau khi
sanh Ngài được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời. Người em của bà là Ma
Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng Ngài. Sau khi Ngài xuất gia tu hành thành Phật
thì bà cũng được độ làm Tỳ-kheo Ni, đứng đầu trong Ni giới, hiệu là Kiều
Đàm Di, tức Tổ của Ni giới.
Lúc còn là
Thái tử, nhân ngày triều đình làm lễ hạ điền. Vua quan đến những đồng
ruộng ở vùng quê cùng với nông dân làm lễ. Trong lễ này, nhà vua sẽ cày
những luống cày đầu tiên với tâm nguyện cầu trúng vụ mùa, đem lại no ấm
cho toàn dân. Thái tử Tất Đạt Đa cũng được theo vua cha đến dự lễ hạ điền.
Lễ rất vui, mọi người ăn mặc đẹp đẽ. Các vị nông dân theo nghi thức của
nhà nước đến đó dâng lễ đối các bậc thần thánh tổ quốc và sau đó chuẩn bị
để được cày những luống cày đầu tiên dưới sự chứng kiến của vua, các vị
đại thần. Đây là ngày lễ hội rất lớn của toàn dân.
Trong khi mọi
người đang nô đùa mừng lễ, Thái tử nhìn thấy những hình ảnh diễn ra trước
mắt khiến lòng Ngài thay đổi hẳn. Khi từng luống cày, từng thớ đất được
lật lên thì có những con trùng, con dế v.v… bị đứt làm hai, làm ba. Ngay
khi đó các loài chim ở khu rừng bên cạnh bay đến, giành nhau nuốt những
con vật nhỏ kia. Rồi người thợ săn lắp cung tên rình sẵn để bắn bầy chim.
Kế đến là mãnh hổ chực chờ, vồ lấy tên thợ săn. Ngài thấy cả một chuỗi
tranh giành, cấu xé nhau của chúng sanh.
Thấy những
cảnh như vậy, Thái tử không chịu nổi. Vì vậy thay vì dự lễ vui tươi thì
Ngài lại tìm một nơi yên lắng. Trong sử nói rằng Ngài ngồi yên tọa thiền
dưới một bóng cây. Đó là một đánh dấu đầu tiên cho thấy ngay từ thời bé
thơ, Ngài đã có những biểu hiện mới lạ cho tương lai. Mọi người mừng lễ,
quên bẵng đi Thái tử. Lễ xong, vua Tịnh Phạn nhìn thấy con trai yêu quí
đang ngồi yên với khuôn mặt trầm tư sâu lắng, thì trong lòng rất đỗi ngạc
nhiên.
Năm 16 tuổi,
Ngài vâng lệnh Phụ hoàng kết hôn với Công chúa Da Du Đà La, con gái vua
Thiện Giác. Sau đó sanh được La Hầu La. Tuy sống bên cạnh vợ đẹp con
ngoan, nhưng nỗi trăn trở trong lòng ngày một thôi thúc Ngài. Thế là cuối
cùng Thái tử từ bỏ tất cả để vượt thành xuất gia, tìm đường cứu khổ cho
mình và cho nhân loại.
Theo sử của
Đại thừa Phật giáo, Ngài vượt thành xuất gia năm 19 tuổi, đến 30 tuổi thì
thành đạo. Theo sử của Phật giáo Nguyên thủy thì 29 tuổi Ngài mới đi xuất
gia. Điều này chúng ta chỉ ghi nhận như vậy thôi, còn việc đúng sai xin
dành cho các nhà giám sử định liệu. Chúng ta nhớ sự từ bỏ của Ngài, không
phải là sự từ bỏ của một cụ già, đã trải qua hầu hết các cuộc chìm nổi
thống khổ trong một đời người. Mà đây là sự từ khước của một ông Hoàng,
đang tuổi thanh xuân trong cảnh lầu son điện ngọc. Tại sao tôi nêu lên
điều này? Vì có nhiều người cho rằng những người đi tu là những người chán
thế gian. Đó là những người già nua không còn làm gì được ở ngoài đời hay
họ bị thua thiệt, thiếu thốn, nghèo khó. Ở vị Giáo chủ của chúng ta thì
ngược lại. Ngài đi tu vào thời thanh xuân với tất cả những quyền uy, địa
vị, lợi dưỡng, tiện nghi tột bực trong thiên hạ, chớ không phải thường.
Là một ông
Hoàng ngay từ thuở bé thơ, Ngài đã có một cái nhìn rất thiết thực về cuộc
đời. Mặc dù vâng lệnh Phụ hoàng kế thừa các nghi thức truyền thống của thế
gian, nhưng trong lòng Ngài lúc nào cũng canh cánh những sự kiện trước mắt
mà Ngài chưa hài lòng. Ngài vẫn nhớ và thấy một cách tường tận những sự
kiện, những hiện thực ấy trong cuộc đời. Cho nên đến tuổi trưởng thành,
Ngài đã rất chín chắn khi quyết định tìm một lối thoát cho mình và người.
Do đó cuối cùng Ngài cắt đứt tất cả, từ giã Phụ hoàng và những gì thân
thương nhất để đi xuất gia. Chỉ một vấn đề này thôi chúng ta học và làm
theo cũng đã khó lắm rồi. Cho nên chúng tôi xem đây như là điểm xuất chúng
của vị Giáo chủ chúng ta.
Ngài cùng vị
hầu cận là Xa Nặc vượt thành. Đến nơi bìa rừng Ngài cắt tóc, cởi tất cả
ngọc ngà giao lại cho Xa Nặc mang về. Ngài căn dặn: “Bao giờ ta tìm được
đạo và chứng đạo ta mới trở lại. Ngươi hãy đem những vật này về trình với
Phụ hoàng và tất cả người thân của ta”. Dứt khoát rồi, Ngài bắt đầu cuộc
đời của nhà hành khất, trong tay không có vật gì, sống khổ hạnh trong
rừng. Trải qua năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh, Ngài tinh tấn siêng năng
tột bực cho đến khi giác ngộ hoàn toàn mới thôi.
Chúng ta thấy
Ngài cũng là con người, cũng có những ưu tư khắc khoải, những nghi ngờ và
cuối cùng Ngài đã dứt khoát tìm lối thoát. Như vậy trong đạo Phật không có
sự thần khải nào cả, mà tất cả đều phải được thể nghiệm từ thực tế, từ ý
chí mãnh liệt, mới đi đến thành công.
2. Giáo lý đức Phật đã chứng nghiệm.
Nói về đạo lý
hay chỗ đạt được của đức Phật thì rất nhiều. Song điều chúng tôi muốn đề
cập ở đây là Tam minh.
a. Túc mạng
minh.
b. Thiên nhãn
minh.
c. Lậu tận
minh.
Người Phật tử
muốn tìm hiểu Phật pháp thì nhất định phải tìm hiểu vấn đề này. Nếu không,
quý vị sẽ có một thiếu sót lớn. Như chúng ta đã biết, trải qua một thời
gian tu khổ hạnh, cuối cùng dưới cội Bồ đề, Ngài đã thiền định trong bốn
mươi chín ngày đêm với lời tuyên thệ: “Nếu không đạt được đạo Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác thì ta quyết không rời khỏi chỗ ngồi này, dù cho có
thịt nát xương tan”. Với ý chí, với quyết tâm sắt đá đó, cuối cùng đức
Phật đã chiến thắng được chính mình, thành tựu được đạo quả Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành bậc Thiên nhân sư, có đầy đủ Tam minh và
Lục thông v.v… Vậy Tam minh là gì ?
a. Túc mạng
minh.
Trong kinh nói
rằng “Tư tưởng của Ngài trở nên lắng diệu, tinh khiết, trong sạch, không
còn tham ái và ô nhiễm, dễ điều phục, không lay chuyển và luôn tỉnh giác”.
Những điều này không lạ nếu chúng ta có nghiên cứu đạo lý, có công phu tu
hành. Việc điều phục vọng tưởng của mình, ai cũng có thể làm được nếu chịu
làm. Làm chủ được những niệm lăng xăng thì chúng ta sẽ yên lắng dần dần.
Điều này hiện thực chúng ta làm được. Đạo lý của Phật, của Bồ-tát dạy là
những điều hiện thực như vậy.
Trải qua được
kinh nghiệm thiền định sâu lắng rồi, Ngài hướng tâm tuệ giác, nhớ lại
những kiếp quá khứ. Ngài đã tỉnh, thuần thục cho nên khi Ngài hướng tâm
tuệ về quá khứ, liền nhớ lại một kiếp, hai kiếp cho đến trăm ngàn kiếp.
Trong số kiếp vô lượng đó Ngài tên gì, sinh trưởng trong gia đình nào,
giai cấp nào, vui thích và khổ đau như thế nào, chết tái sinh ở đâu v.v..
Ngài nhớ lại tất cả. Trí tuệ của Ngài hoàn toàn viên mãn nên vừa xoay
hướng trí tuệ đó về quá khứ thì nhớ lại rõ ràng như vậy. Đó là chứng Túc
mạng minh.
Khi tư tưởng
yên lắng, tinh khiết thì những dấy niệm, những bợn nhơ ô nhiễm sẽ yếu thế,
sẽ lặn xuống. Nó không còn đủ sức hấp dẫn để kéo lôi người có sự tỉnh
thức, làm chủ được mình. Chúng ta hành trì theo lời Phật dạy, thì từ từ
trong tâm lắng yên những tư tưởng, những niệm khởi. Khi lòng chúng ta đã
yên rồi, thì trí tuệ ngày càng phát sáng, lớn mạnh trùm khắp. Bấy giờ các
thứ ngũ dục, các trần cảnh không làm gì nổi chúng ta. Ngược lại nếu chúng
ta không tỉnh, sơ hở từng phút giây thì sẽ bị chúng kéo lôi.
Bây giờ chúng
ta tu hành, ngồi yên, dứt tất cả những nghĩ tưởng lăng xăng, tỉnh và tuệ
cụ thể, sáng suốt trùm khắp, hướng tâm tuệ này về những gì đã qua thì nhất
định là sẽ biết. Hàng ngoại đạo đồng thời với đức Phật khi tu tích cực,
còn có thể nhớ lại được mười kiếp hay hai mươi kiếp của bản thân và những
chúng sanh có liên quan với họ. Ngoại đạo mà họ có những năng lực như vậy,
hà huống chúng ta áp dụng đúng như những kinh nghiệm, thể nghiệm thực mà
đức Phật dạy thì nhất định chúng ta sẽ thành công.
b. Thiên
nhãn minh.
Khi Ngài hướng
tâm thanh tịnh về hiện tượng sinh và diệt của muôn loài. Chính ngay nơi
đây Ngài chứng được Thiên nhãn minh. Đây là trí tuệ siêu phàm, thấy được
tất cả chúng sinh chết đi từ nơi đây và tái sinh vào một kiếp sống khác
với bao nhiêu những cảnh tượng sang hèn, đẹp xấu, khổ vui… Tùy thuộc vào
hành vi tạo tác của mỗi người, nếu tư tưởng hành động xấu ác, không chân
chánh, thì sau khi chết sẽ tái sinh vào những trạng thái khổ não v.v… Đây
gọi là chứng Thiên nhãn minh.
Trong đời sống
nếu chúng ta hướng được những hành vi, những tạo tác hằng ngày theo hướng
tốt thì chúng ta sẽ sống trong niệm chân chánh. Được như vậy, khi chết
chúng ta sẽ được tái sinh vào những thế giới an lạc. Chúng ta thấy rõ ràng
khổ hay vui được hình thành từ nhân quả. Muốn được vui, muốn tương lai
không khổ thì bây giờ ta hướng tâm, dùng năng lực của mình chỉ huy giải
quyết tất cả những hiện tượng, những dấy niệm bằng cách hướng niệm của
mình đến đạo lý hay con đường chân chính, không xấu ác.
Hành trì được
như vậy thì bảo đảm tương lai sau khi chết chúng ta sẽ được tái sinh vào
những thế giới không khổ đau hay giảm thiểu những khổ đau. Như vậy chúng
ta được an vui. Quả thực vui hay khổ là tự nơi hành động của chúng ta.
Biết rõ như vậy, chúng ta vững lòng mà tu. Làm việc công đức gì thì chúng
ta vững lòng làm, vì biết chắc rằng sự hình thành tất cả những công đức
này là từ chúng ta, từ năng lực, hành động, việc làm của chúng ta.
Nếu muốn tương
lai tốt đẹp thì phải phấn đấu ngay trong chánh niệm, trong tinh thần tốt
đẹp thì được quả báo ngay bây giờ và trong tương lai không khổ. Ngay bây
giờ mà không làm chủ, để hướng niệm, hành động chúng ta theo con đường xấu
ác, tạo nghiệp nhân không tốt thì dù có cầu nguyện bao nhiêu đi nữa quả
báo cũng sẽ đến, chắc chắn là khổ.
c. Lậu tận
minh.
Với tuệ nhãn
thuần tịnh như vậy, Ngài tiếp tục hướng tâm về trực giác chấm dứt các pháp
trầm luân, biết được nguyên nhân nào dẫn chúng sanh đi trong luân hồi sanh
tử và phương pháp nào để thoát ra khỏi, chấm dứt hẳn mầm sanh tử. Trong
kinh có ghi: “Đây là phiền não, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con
đường dẫn đến sự chấm dứt phiền não”, Ngài thấy rõ ràng. Giai đoạn này là
Ngài chứng được Lậu tận minh. Từ đây Ngài thấu suốt tột cội nguồn các
pháp, phá sạch tất cả vô minh tăm tối, hoàn toàn giác ngộ giải thoát.
Lịch sử nói
rằng vào đêm thứ bốn mươi chín, vào lúc canh ba, Bồ tát Sĩ Đạt Đa hoàn
toàn giải quyết được việc sinh tử, việc lớn của chính mình và của chúng
sinh. Bằng Túc mạng minh, Ngài thấy rõ tiền kiếp của mình và của tất cả
chúng sinh. Bằng Thiên nhãn minh, Ngài thấy rõ sự chết đi và tái sinh của
mình và của tất cả chúng sinh trong các cõi. Bằng Lậu tận minh, Ngài thấy
rõ nguyên nhân dẫn chúng sanh đi trong sanh tử và phương pháp diệt tận
nguyên nhân ấy. Cho nên Ngài được gọi là Phật, là bậc trí giác đã hoàn
toàn viên mãn.
Người tu Phật
mục đích cứu cánh là phải làm chủ được mình, nên giải quyết vấn đề sanh tử
là việc trọng yếu của chính mình. Sở dĩ sinh làm khổ mình, tử làm khổ
mình, cuộc sống này làm khổ mình vì mình chưa đầy đủ trí tuệ, chưa làm chủ
được mình. Nên tâm nguyện duy nhất của người tu là giải quyết vấn đề sanh
tử của chính mình. Nếu chúng ta tu đạt được kết quả này, thì chẳng những
chúng ta có thể giải quyết việc sanh tử của mình mà còn có thể giúp cho vô
lượng chúng sanh giải quyết việc sanh tử của họ nữa.
Là người tu
chúng ta thấy rõ như lời mà chúng tôi vừa nói: “Đây là phiền não trong
tôi, đây là sự chấm dứt phiền não trong tôi” hay “Đây là sự bất ổn trong
tôi, đây là sự chấm dứt những bất ổn trong tôi. Đây là con đường dẫn đến
sự chấm dứt những bất ổn trong tôi”. Bao giờ mình quay lại, thấy được
những gì của mình, những phiền não… phiền não tức là những bứt rứt trong
lòng của mình, chúng ta phải loại sạch nó thì mới an vui được.
3. Tinh thần tu hành của người Phật tử chúng ta qua đạo lý Phật dạy.
Đối với lời
Phật dạy, nếu chúng ta biết áp dụng cụ thể, không phải thông hết Tam tạng
giáo điển, mà chỉ cần thấu hiểu tường tận một pháp nào đó, cũng có thể tu
tập đạt được kết quả viên mãn. Như Phật dạy đếm hơi thở thì sẽ cắt đứt
được những niệm tưởng lăng xăng. Chỉ bảo đếm hơi thở chớ không phải tu
pháp gì cả. Nếu áp dụng phương pháp đếm hơi thở với một tuệ giác thấy rõ
“những lăng xăng loạn tưởng trong tôi, sự chấm dứt những lăng xăng loạn
tưởng trong tôi…”, thấy rõ ràng như vậy. Đã thấy rõ ràng như vậy thì không
còn lăng xăng loạn tưởng nữa. Ngay đó chính là sự tỉnh sáng của mình.
Hướng tu hành là như vậy.
“Đây là ô
nhiễm, đây là sự chấm dứt ô nhiễm, đây là con đường chấm dứt ô nhiễm”. Tôi
dẫn lời này để thấy một việc làm bình thường, một cái thấy bình thường
ngay trong nếp sống đạo của người biết tu tập. Có khi chúng ta học đạo lý,
giải thích đạo lý để cuối cùng chúng ta thấy tuệ giác đó, đạo lý, quả
chứng đó là của Phật, Bồ tát chứ mình không có phần. Không phải như vậy !
Tinh thần của
Phật là dạy cho chúng ta tiếp thu và thể nghiệm, ngay nơi bản thân mình,
đạt được kết quả của pháp. Lời Phật thường rất giản dị, có khi Ngài dùng
hình ảnh biểu trưng thôi, nhưng khiến người đương thời nhận hiểu rất dễ.
Như thế pháp Phật dạy, biểu trưng của Phật thể hiện ra có giá trị, có tác
dụng nâng đỡ, giúp con người được hết khổ.
Tâm Ngài đã
giải thoát khỏi những dục lậu tức là hết những nhiễm ô dục vọng, sự luyến
ái đời sống. Ngài đã dứt hết vô minh lậu, là những ô nhiễm của vô minh.
Màn vô minh giải tỏa, trí tuệ phát sinh, đêm tối đã tan, ánh sáng lại đến,
Ngài thành đạo. Cho nên những kinh nghiệm, những đạo lý mà chúng ta học và
hành trì, sẽ là chìa khóa hé mở cánh cửa giải quyết vấn đề sanh tử cho
chúng ta. Nếu công phu mãnh liệt, chúng ta có thể phá vỡ những thành trì
vô minh để giải quyết những vấn đề lớn lao của con người.
Nhưng thường
chúng ta dễ bị mắc mứu, dễ chạy theo cái giả mà bỏ quên cái thật. Người
biết tu, ngay nơi những sự kiện này, những lối mòn này mà tìm lối thoát.
Vị Giáo chủ của chúng ta đã thoát ra từ con đường này. Ngài cũng là một
con người, có nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ như tất cả chúng sinh. Ngài
cũng ưu tư, nghi ngờ, khắc khoải, phấn đấu nhưng có điều là Ngài phấn đấu
đến cùng. Ngài đã siêng năng liên tục cho đến khi đạt đạo mới thôi. Chúng
ta có phấn đấu, có siêng năng nhưng sáng siêng thì trưa lại biếng. Sáng
mạnh mẽ trưa lại yếu xìu, tối thì ngủ quên. Cho nên phiêu lãng cả một đời.
Muốn điều phục
được những lăng xăng, những điên loạn thì chúng ta phải tỉnh. Có tỉnh rồi
thì có tuệ, tỉnh tuệ không rời nhau. Nếu không có tỉnh thì không làm sao
có được tuệ sáng suốt. Việc tu tập thông qua con đường thiền định, người
xưa làm được thì chúng ta cũng làm được. Người xưa phấn đấu thành công thì
bây giờ nếu chúng ta phấn đấu tích cực và phấn đấu cho đến cùng thì nhất
định chúng ta cũng sẽ được tỉnh tuệ đầy đủ.
Trên đời này,
ở đâu con người không tin nhân quả nữa thì sự khổ đau sẽ dẫy đầy. Sở dĩ
khổ đau giảm bớt, con người có thăng hoa được, xã hội tốt đẹp là nhờ con
người tin vào khả năng của chính mình. Dù hiện tại như thế nào nhưng với
trí tuệ, năng lực và kinh nghiệm sẵn có, chúng ta sẽ gầy dựng được tương
lai tốt đẹp. Mặc dù hiện tại khổ đau nhưng tin chắc tu hành như vậy, chúng
ta sẽ được an lạc.
Tư tưởng, hành
động tốt đẹp, chân chính là sống trong chánh kiến. Người sống được trong
chánh kiến thì sẽ được hạnh phúc. Còn như nếu chúng ta không hướng thiện,
không sống trong chánh kiến, khi bị va chạm nhiều sẽ dễ quên mình. Đây là
điều mà chúng ta phải sợ. Sợ đây không phải là sợ ma sợ quỷ, sợ hết cơm,
hết gạo, sợ mất người thương… những tâm trạng hãi sợ như người thế gian.
Sợ đây là sợ ta không đủ tỉnh lực, ta không quyết tâm, không tin vào hành
động của chúng ta có thể chuyển hóa được các thứ khổ. Càng sợ thì càng
kiên tâm, quả quyết thực hiện theo tinh thần của vị Giáo chủ chúng ta, để
khắc phục những gì chúng ta sợ, khắc phục được những gì hiện tại chúng ta
chưa vừa lòng. Công đức đó, thành tựu đó là do từ chúng ta mà thành, chứ
không nhờ vả ở đâu.
Như chúng ta
đã biết, đức Phật ra đời đã phá tan màn vô minh, vén lên chân trời tỏ rạng
để chỉ cho tất cả chúng sinh thấy rằng tâm thức si mê đó có phương thức
giải trừ. Đạo lý giải thoát mà Ngài dạy chúng ta có thể thực hiện được.
Vững niềm tin, phấn đấu để đạt được sở nguyện là chúng ta hết khổ. Nếu
chúng ta không tỉnh, không sáng thì không cách gì chấm dứt được nỗi khổ
sanh tử.
Tôi xin dẫn
câu chuyện trong kinh A Hàm. Có một vị Bà La Môn tên là Dona. Nhân đi trên
đường, thấy dấu chân của đức Phật ngang qua có những nét rất đặc biệt. Ông
tìm đến hỏi Phật:
- Thưa Ngài,
phải chăng Ngài là một vị trời?
Phật trả lời:
- Không, tôi
không phải là một vị trời.
- Vậy phải
chăng Ngài là một nhạc công ở cõi trời?
Phật trả lời:
- Tôi cũng
không phải là nhạc công ở cõi trời.
- Vậy Ngài là
quỷ Saka (một loại quỷ có thần lực lớn) chăng?
Phật nói:
- Không, tôi
cũng không phải là quỷ Saka.
- Như vậy Ngài
là người chăng?
Phật trả lời:
- Không, quả
thật tôi cũng không phải là người.
- Vậy xin cho
biết Ngài là ai?
Phật trả lời:
- Tôi là người
đã tận diệt hết những pháp trầm luân, những nguyên nhân để tái sinh vào
các cõi.
Nói gọn lại,
Phật là người đã tận diệt hết những nguyên nhân để đi vào trầm luân,
nguyên nhân để được sinh lên cõi trời, làm thần trỗi nhạc cõi trời, hoặc
nguyên nhân đưa đến làm các vị đại quỷ, làm người. Vì thế nên hỏi làm
trời, làm người… Ngài đều phủ nhận. Bởi vì Ngài đã giải thoát ra ngoài
những hình thức đó.
Qua đạo lý này
chúng ta mới thấy điểm siêu việt của đạo Phật. Giáo lý đạo Phật chỉ rõ
nguyên nhân hình thành các pháp và đưa ra con đường giải thoát khỏi những
sự ràng buộc vào các pháp ấy. Bởi thế cho nên Phật nói ta là người đã giải
thoát, đã vượt ra ngoài tam giới. Trong kinh Pháp Cú có bài kệ:
Như hoa sen đẹp và dễ thương,
Không ô nhiễm bùn nhơ nước đục,
Giữa đám bụi trần ta không vướng chút bợn nhơ,
Như vậy ta là Phật.
Đức Phật là
bậc giác ngộ toàn triệt và giải thoát tất cả. Như đóa sen đang nở và ngát
hương thơm, đoá sen không bị nhiễm ô bởi nước đục bùn nhơ. Giữa đám bụi
trần ta không vướng chút bợn nhơ, nghĩa là sống giữa bụi trần mà Ngài
không vướng chút bợn nhơ nào hết. Như vậy ta là Phật, giác ngộ toàn triệt,
gỡ tung những mắc mứu lâu nay, giải thoát hoàn toàn. Vì thế điều quan
trọng đối với người tu học trong đạo Phật, là phải có thực hành.
Ở đây, tôi xin
nói về việc tu Phật qua pháp tu thiền. Người tu thiền cũng giống như người
học bơi lội. Người học bơi lội được huấn luyện viên chỉ cho về phương pháp
và kỹ thuật căn bản, sau đó hoàn toàn tùy thuộc vào bản thân. Nếu như
người ấy không chịu nhảy xuống nước tập bơi thì không bao giờ bơi được.
Cách học duy nhất là phải nhảy xuống nước và bắt đầu thực hành theo lời
huấn luyện viên đã dạy. Nếu chăm chỉ thực hành thì người ấy có thể trở
thành tay bơi cừ khôi. Nếu chỉ học hiểu mà không tập luyện thì làm sao trở
thành tay bơi cừ khôi được ?
Lời dạy này
bình thường mà rất hiện thực. Chúng ta muốn được giác ngộ, muốn được thành
Phật hay được hết khổ thì phải tu, phải thực hành. Học hiểu là một giai
đoạn không thể thiếu, nhưng hành trì là một giai đoạn quyết định sự học
hiểu của chúng ta. Đường lối trong Thiền tông cũng vậy, nếu chúng ta muốn
được giác ngộ thì phải tìm đến ông thầy để lãnh hội lời chỉ giáo. Sau khi
nhận được sự chỉ giáo rồi thì quan trọng nhất là phải thực hành. Cho nên
thực hành là việc chính của bản thân chúng ta.
Chúng ta có
duyên gặp được thầy, có kinh điển, có tất cả điều kiện cần thiết để thực
tập sự hiểu biết của chúng ta. Pháp tu thiền đòi hỏi chúng ta phải có cái
nhìn thấu suốt và thể nghiệm thật. Nếu muốn hết khổ, được giải thoát, có
trí tuệ thì phải thực hành. Chúng ta có tin rằng mình có khả năng thành
Phật không ? Điều này Hòa thượng cũng như chư Tăng thường dạy, là tất cả
chúng ta đều có khả năng thành Phật. Chúng tôi nêu lên điều này để khẳng
định cho pháp tu, sự hành trì và công phu của mình.
Trước khi
thành Phật, đức Phật cũng là một con người có gia đình với bao nhiêu những
ưu tư khắc khoải, những nghi ngờ… Cuối cùng Ngài đã mở sáng được trí tuệ
của mình, giác ngộ thành Phật. Tất cả chúng ta có khả năng, có chất liệu
đó nhưng liệu chúng ta có quyết tâm phấn đấu hay không ? Cho nên ý chí và
sự quyết tâm tu tập rất quan trọng. Là người con Phật, ngày kỷ niệm này
tuy cách chúng ta hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng lời dạy và sự thể nghiệm
của đức Phật vẫn còn đó. Nếu chúng ta chịu làm, chịu thể nghiệm thì kết
quả y nhiên như vậy. Chúng ta chịu mở cửa phát huy hướng đến tâm tuệ, nhận
khả năng đó một cách cụ thể chính xác để thực hiện sẽ được giác ngộ.
Được sống
trong hoàn cảnh thuận duyên, chúng ta cố gắng tu. Tu nghĩa là sửa. Những
gì xấu dở chúng ta loại bỏ, buông đi. Nếu chúng ta chưa chịu bỏ cái dở của
mình là chưa chịu tu. Dù có làm bao nhiêu việc phước thiện, cũng chỉ là
hình thức bên ngoài thôi, chớ không phải tu. Chữ tu trong đạo Phật là phải
sửa. Giản dị như thế thôi. Cho nên trong nhà thiền chủ trương phải tỉnh
giác, biết rõ cái gì thật, cái gì giả, để không lầm. Người áp dụng được
như vậy là người có định, có tuệ, không bị ngoại cảnh chi phối. Từ đó
chuyển nghiệp và trở về lần lần với chính mình, cho đến thành tựu giác ngộ
giải thoát như Phật mới thôi.
Tất cả chúng
ta là con của Phật. Trong ngày kỷ niệm trọng đại này, để tỏ lòng quí kính
Phật, chúng ta cùng nhau dâng hết tâm thành của mình cúng dường Ngài, với
tâm nguyện kiên quyết làm theo lời dạy của Phật. Nỗ lực phát huy định tỉnh
để mình được sáng suốt, thấy rõ phiền não, sự chấm dứt của phiền não. Sáng
suốt thấy rõ những hiện tượng chung quanh, những gì không thật đeo bám
quanh ta mà loại bỏ nó đi. Đó là những điều thiết yếu mà chúng ta cần hiểu
để tu.
Chúng tôi mong
rằng tất cả chúng ta đều nhận hiểu thấu đáo lời dạy của đức Phật, áp dụng
tu cho đạt được kết quả cụ thể. Đó là pháp duy nhất để cúng dường Phật.
Chúng ta thực hiện giác ngộ như Ngài dạy ngay trong hiện đời, chính là
cách báo đền ân đức cao lớn nhất của người con Phật.
] |