|
BỐN ĐIỀU QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI TU
Trong buổi sinh hoạt đạo lý hôm nay, tôi sẽ nói đến bốn điểm quan trọng
của người tu. Chúng ta phải nắm cho thật vững những điểm này để áp dụng
trong công phu tu hành. Nếu không, chúng ta sẽ đánh mất thời gian mà công
phu tu hành lại không tiến.
Chúng ta thường có bệnh, việc của mình thì không biết, lại lo biết việc
của người. Đây là một điều đáng trách. Vì vậy trước tiên mình phải biết rõ
được chính mình, mặt ưu cũng như mặt khuyết. Trong nhà thiền gọi là “Phản
quan tự kỷ”. Nếu người tu không chịu phản quan tự kỷ, chỉ ngó ra, chỉ lao
theo bên ngoài thì sẽ vướng mắc ngoại cảnh. Tu như thế thì cả đời toàn là
rong rêu, có được lợi ích gì.
Khi “Phản quan tự kỷ”, tức tự nghiệm lại trong lòng, mình sẽ thấy còn rất
nhiều thứ tăm tối, nhiều thứ chưa buông bỏ được. Người biết tu phải khai
thông bằng được những thứ đó. Có khai thông mới tiến, mới yên tu được. Tâm
ta khi tích chứa các thứ cù cặn ấy thì nó là cái kho tạp nhạp. Cho nên
không có thứ gì mà mình không biết, song cũng không có thứ gì mình biết
đến nơi đến chốn, thành ra không thể sử dụng được tâm ấy. Mà phần nhiều
chúng lại là tham, sân, phiền não, tật đố, tị hiềm… khiến cho chúng ta bất
an, khổ đau. Trong khi tâm của Phật và Bồ tát luôn chân thường, an lạc,
bởi không có các thứ cù cặn ấy.
Nên bốn điều tôi sắp nói đây chính là phương tiện giúp cho hành giả được
nhiều tiện lợi trong công phu tu hành của mình.
Điều quan trọng thứ nhất là phải Khẩn. Tại sao phải khẩn ? Vì Khẩn thu
ngắn được giai đoạn dài. Khẩn, khẳng định được quyết tâm tu hành của mình.
Khẩn, khẳng định được mục đích phải đến của mình. Khẩn, làm sáng lên tất
cả tâm nguyện của mình. Có khẩn ta mới không tơ tưởng lăng xăng, mơ hồ.
Không khẩn thì mình cứ lề mề, an lòng với chút ít công phu nhỏ. Chẳng hạn
một tháng ăn chay năm mười ngày là đủ. Hoặc tu là ăn hiền ở lành, không
chọc giận ai là đủ. Hoặc phát tâm làm những việc phúc thiện là đủ. Chỉ
những cái đủ như thế thì không thể tu hành đến viên mãn được.
Người chỉ tu trên hình thức chẳng những không đưa đến kết quả viên mãn, mà
nếu không khéo, càng tu càng nặng thêm ngã chấp. Đây là điều chúng ta phải
tự kiểm để khẩn trương loại nó ra. Cở như tôi chẳng hạn, khoảng hai chục
năm về trước, ai kêu bằng chú bằng thằng cũng được. Nhưng bây giờ người
nào đến mà không cúi đầu, là người đó bị cắm cờ ngã mạn ngay. Vì mình đã
tập quen trong thói được người ta cung kính đảnh lễ như một vị Thượng tọa
rồi. Chỉ một điểm nhỏ trong cuộc sống thôi, nếu không khéo tỉnh chúng ta
sẽ mất mình. Cho nên người tu phải nhìn chừng từng chút như vậy. Thực hành
công phu mà để cho ngã tướng hiện bày thì không đúng. Mình phải làm sao ?
Phải khẩn trương loại bỏ, triệt tiêu, đừng để nó hiện hình.
Thêm một điều khẩn nữa là, ai trong chúng ta cũng biết điểm then chốt chủ
yếu của đạo Phật là giải thoát. Giải là mở ra, thoát là trót lọt, là cắt
đứt tất cả. Muốn giải thoát thì phải thanh tịnh. Không thanh tịnh mà đòi
giải thoát thì không có được. Muốn thanh tịnh phải thanh lọc những cặn bã
trong tâm mình. Người tu là những người sống trong đoàn thể thanh tịnh,
nói thanh tịnh, làm việc thanh tịnh, ý nghĩ thanh tịnh. Có sinh hoạt thanh
tịnh mới đảm bảo được tinh thần giải thoát, giác ngộ.
Giác ngộ là rỗng rang sáng suốt. Bây giờ chúng ta phải làm sao trong các
duyên, mọi sinh hoạt đi, đứng, nằm, ngồi, tiếp khách, làm việc, ăn uống,
ngủ nghỉ, tụng kinh, tọa thiền, đọc sách, dạo chơi... lòng luôn rỗng rang
sáng suốt như vòng tròn của bức tranh thứ tám. Đó là chúng ta đã tháo gỡ
được tất cả những dây mơ rễ má trong lòng mình.
Người như thế là người sống được với tánh giác của mình. Có sống được với
tánh giác thì lòng mới rỗng rang sáng suốt, tương ưng với Phật với Bồ tát.
Muốn vậy chúng ta phải khẩn. Khẩn như thế nào ? Không lề mề, không kéo rề
mà phải có thái độ dứt khoát. Dứt khoát làm chủ đối với tất cả các cảnh
duyên bên ngoài, không để nó dẫn đi. Người không có thái độ dứt khoát thì
không thể thành tựu được bất cứ việc gì.
Thành ra người tu thì phải có ý chí, phải khẳng định và dứt khoát với công
việc của mình. Một Thiền sư đã nói: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ,
việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ”, nghĩa là lúc nào cũng phải phấn phát khẩn
trương, không bao giờ có thái độ trì hoãn. Mọi mờ mịt chúng ta phải dẹp
tan. Muốn dẹp tan thì phải tỉnh, phải giác, phải có trí tuệ, có ý chí vững
mạnh. Chứ không phải dẹp tan là cầm hèo, cầm gậy mà quơ mà hét như khùng
như điên. Chủ yếu làm sao chúng ta bình thản, an nhiên, không vướng bận gì
trong lòng, thì là dẹp tan.
Chuyện này không phải dễ làm. Vì từ lâu mình đã quen cất chứ không quen
dẹp. Người xưa nói “trời trưa nắng gắt, gánh nặng đường xa”, người khôn dù
ngọc ngà châu báu cũng không quải trên vai mà đi, nếu đoạn đường xa. Nhưng
chúng ta thì không. Cái gì cũng muốn quải, kể cả rác rưởi tanh hôi cũng
chẳng chừa. Khó gỡ khó tu là vì vậy.
Tôi còn nhớ có một huynh đệ rất ham tu. Vị này cũng đã từng nếm trải bao
sự suy vong, hưng phế của cuộc đời. Nên bước vào đạo với tinh thần xem như
quyết liệt. Mỗi khi nghe Hòa thượng dạy vị này cảm xúc khóc trước mặt
thầy, thấy như nhân duyên rất sâu dày. Nhưng chỉ năm ba tháng sau, vị ấy
nói với tôi: “Nghe Hòa thượng dạy thì thấy y như rằng mình làm Phật tới
nơi, không có gì khó. Nhưng về nhà gặp cảnh thì xuống tinh thần, làm không
nổi. Thành ra đâu vẫn còn nguyên đó”. Tôi gợi ý vị ấy thưa với Hòa thượng.
Nghe xong, Ngài nói: “Có một điều mà đạo hữu không nhận ra được, là trong
việc tu hành mình cần phải tránh duyên”. Các duyên tuy là hình thức bên
ngoài nhưng rất quan trọng. Bởi nó mang tính quyết định đối với việc tu
hành không phải ít. Đây là điều chúng ta nên lưu ý.
Pháp của Phật không giành riêng cho ai. Tuy nhiên người có công phu khế
hợp mới hưởng được những lợi lạc thiết thực. Hàng xuất gia tu được thì
hàng cư sĩ tu cũng được. Chúng tôi làm chủ được thì quí vị cũng làm chủ
được. Điểm gặp nhau không qua hình thức khu biệt bên ngoài của chúng ta là
chỗ này. Nhưng nhìn chung, hoàn cảnh của người xuất gia dễ tu hơn tại gia,
đó là nhờ tránh bớt các duyên.
Phần hình thức tuy không phải là chủ yếu, nhưng chúng ta cũng không thể bỏ
qua. Chẳng hạn, bây giờ mình đạt được trình độ như thầy mình ngày xưa.
Được thế không có nghĩa là ta bằng thầy. Vì phúc duyên, công đức, trí tuệ
của thầy tích lũy trong thời gian dài nên vượt xa mình. Do đó người xưa
nói: Đệ tử bằng thầy là còn kém thầy nửa đức, đệ tử hơn thầy mới kham gánh
vác sự nghiệp của thầy.
Tôi nêu ra những điều này để thấy, không phải chỉ nội dung bên trong thôi
mà hình thức bên ngoài cũng cần thiết cho việc tu hành. Rõ ràng quy chế,
tổ chức là những điều kiện giúp cho việc tu học của chúng ta trở nên dễ
dàng, tăng tiến hơn. Cho nên muốn thể hiện nội dung bên trong thì bên
ngoài cần phải khẩn thiết.
Cuộc đời vô thường, nếu không khẩn sẽ không còn kịp nữa. Như tôi có người
bạn, trước khi đi xa nắm tay tôi nói: “Mai mốt về gặp nhau mình sẽ nói
chuyện nhiều”. Nhưng mai mốt nào, anh ta chết queo rồi, lấy gì nói chuyện
nữa. Đó, một chuyện nhỏ như vậy còn không thực hiện được, huống là việc tu
hành thoát ly sanh tử, không khẩn sao được ?
Thời gian thuận lợi đâu phải khi nào cũng có, nếu chúng ta không tự lo cho
mình, thì ai lo cho đây. Người tu phải luôn tâm niệm lúc nào cũng khẩn.
Khẩn tỉnh sáng làm chủ và tiêu dung tất cả phiền não, các thứ bu bám chung
quanh mình. Làm sao tháo gỡ các dây mơ rễ má dọn dẹp gọn gàng, như vị
tướng quân trấn giặc giữ thành. Là một vị chủ tướng sáng suốt thì phải đầy
đủ tĩnh lực, luôn có những phương thức để giải quyết công việc một cách
tức thời và dứt khoát. Còn giữ thành mà ngủ gục hoặc mơ mơ màng màng thì
giặc tới, làm sao đối phó?
Nếu không có tĩnh lực, thì vọng tưởng từ nhiều đời nhiều kiếp sẽ quay
mình, khiến cho chúng ta điên đảo từ sáng đến chiều, không lúc nào bình
yên. Vọng tưởng dấy động thì tánh giác lu mờ. Tánh giác lu mờ ta vẫn sống
trong tăm tối, như vậy việc tu có lợi ích gì. Cho nên việc đầu tiên là
phải Khẩn.
Điều quan trọng thứ hai là phải Chánh. Trong cái Khẩn phải có cái Chánh
nữa, nghĩa là công phu khẩn thiết và đúng đắn. Không phải gấp rút trong
lăng xăng lộn xộn, không biết làm gì. Như khi gia đình bất thần có hỏa
hoạn, do quá khẩn nên mình không biết kéo bàn ra hay đem ghế đi. Cứ loay
hoay luýnh quýnh một hồi lửa cháy tới, bản thân mình cũng không biết đường
ra. Việc tu hành cũng vậy, khẩn cao độ nhưng luôn trầm tĩnh, nhận định
đúng và thực hành không sai lạc. Có thế lửa vô thường tới, mình mới không
luống cuống hoảng sợ.
Khẩn mà Chánh, một khi đã chọn được phương thức thích hợp, chúng ta phải
áp dụng một cách khẩn trương, áp dụng tới nơi tới chốn. Kinh điển đại
thừa, tam tạng thánh giáo của chư Phật rất nhiều, nhưng không phải tất cả
đều thích hợp với ta. Cũng như ta nghe giảng, thầy cô nào cũng nói về vô
thường, vô ngã, giải thoát, Niết-bàn v.v... nhưng tìm được vị nói lọt sâu
vào lỗ tai của mình, thì có khi không quá một người. Phải là nhân duyên
nhiều đời mới hợp được. Nếu không chỉ nghe cho vui vậy thôi, chớ tai này
lọt qua tai kia hết.
Chúng ta nghiệm xem bài pháp nào thích hợp với căn cơ, với sinh hoạt, với
nghiệp tập của mình, thì áp dụng triệt để, khẩn thiết, không cho bất cứ
thứ gì làm lung lay. Trường hợp người đang áp dụng pháp tu này, nhưng nghe
ai dạy pháp tu khác ba tháng thành Phật, có thần thông, lập tức bỏ pháp
này theo pháp kia, đó là khẩn mà không chánh. Làm sao ba tháng mà thành
Phật ? Nghiệp tập sâu dày của mình quăng đi đâu ? Pháp ấy, chư Phật chư Tổ
đã thể nghiệm, chúng ta tu cũng từng thể nghiệm thì đã hiểu, không phải
một đời này có thể tẩy trừ tập khí từ bao đời. Nhanh hay chậm là tùy vào
quyết tâm, ý chí buông bỏ của mình, chứ làm gì có một thời hạn định sẵn
cho tất cả mọi người. Hiểu như vậy mới không bị lầm lẫn trên đường tu. Đó
là Chánh.
Tôi còn nhớ, một huynh đệ theo học với Hòa thượng được khoảng ba năm. Một
hôm Hòa thượng đang giảng, vị này nghe xong, liền bạch: “Thưa thầy, pháp
thầy dạy hay quá. Nhưng con áp dụng hoài mà không hết vọng tưởng. Vậy làm
sao tâm được rỗng rang sáng suốt, làm sao giác ngộ giải thoát, làm sao
thành Phật thành Tổ được?
Hòa thượng hỏi:- Ở ngoài đời ông làm gì ?
Vị ấy đáp:- Bạch Hòa thượng, con là thầy thuốc bắc.
Hòa thượng lại hỏi:- Ông phải học mấy năm trước khi thành nghề ?
- Bạch Hòa thượng, con đã học sáu năm nhưng chưa thành nghề, phải mười hai
năm mới làm thầy được. Nhưng bây giờ con bận tu, không có thời gian học
nữa.
Hòa thượng cười, nói:
- Thầy thuốc chưa thành mà ông đã mất sáu năm. Hà huống là muốn thành Phật
thành Tổ, mới vài năm sao đã nản lòng ?
Câu chuyện nghe qua rất bình thường nhưng thật hữu ích đối với chúng ta.
Bởi vì tập khí, tập quán, những thói hư tật xấu của mình nhiều vô kể. Nếu
chúng ta không vững tâm hành trì, lau chùi, gột rửa chúng, thì kiếm một
chút bình yên còn chưa có, nói gì đến chuyện làm Tổ làm Phật. Làm sao vận
dụng được trí Bát-nhã quét sạch tất cả những thứ ấy.
Vận dụng thế nào ? Biết chúng không thật. Không thật thì buông, nắm giữ
làm gì. Đó là cách quét trừ. Nói cách nhưng thật ra không có pháp nào cả.
Những thứ cù cặn trong ta, không có hình tướng để mình dùng dao dùng búa
chặt đứt, quăng đi. Chỉ dùng tuệ giác của chính mình, soi sáng chúng,
không lầm chúng. Đó là vận dụng trí tuệ Bát-nhã. Người còn phân tâm, tuệ
giác chưa sáng thì vẫn còn bị vướng các thứ giả tướng bên ngoài.
Trở lại việc chọn pháp tu. Như chúng ta đã biết, pháp tu rất nhiều, nhưng
không thể áp dụng một lần năm ba pháp được. Nếu tu không chuyên nhất,
chẳng những chúng ta mất thời gian mà kết quả không đạt được bao nhiêu.
Người xưa có câu “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, chỉ cần giỏi một nghề là
đủ cho thân thế sự nghiệp vinh hiển. Chúng ta cũng vậy, phải sử dụng cho
được sở trường của mình.
Người tu thiền chuyên hành thiền, người tu Tịnh độ chuyên niệm Phật, người
tu Mật chuyên trì chú, không nên xen lẫn. Có người nghe nói thiền cũng
ngồi thiền, nghe niệm Phật cũng niệm Phật, nghe trì chú cũng trì chú… thập
bát bang võ nghệ đầy đủ. Tu như vậy chỉ rối thêm, chớ không thể có kết quả
tốt được.
Như ở đây Hòa thượng dạy ngồi thiền, mình tập ngồi thiền cho được an ổn.
Hoặc một tiếng, hai tiếng, ở chùa hay tại nhà, chúng ta cũng chỉ ngồi
Thiền. Ngồi thiền, dùng trí quán chiếu thấy vọng tưởng hiện lên, mình
buông không theo nó. Tất cả các thứ lăng xăng điên đảo đều bỏ hết, vì biết
rõ nó không thật. Chứ không ngồi thiền là tréo chân lên bồ đoàn, ngồi ỳ ra
đó rồi tính sổ với thầy mấy tiếng. Ngồi đó mà không buông vọng, có khi
vọng còn phát triển nhiều hơn nữa là khác. Như thế dù ngồi nhiều bao nhiêu
cũng không có ích lợi gì.
Chủ yếu của việc ngồi Thiền là cốt làm sao ta làm chủ được mình, làm chủ
được vọng tưởng, làm chủ đối với tài sắc, danh vọng, địa vị… Ngồi cũng làm
chủ được, đi cũng làm chủ được, cho đến đứng, ăn, ngủ nghỉ đều làm chủ
được, đó là thiền. Được vậy thì tất cả những hiện tượng, sự kiện chung
quanh đều không làm gì được ta. Trong mọi tương giao, lúc nào mình cũng
tỉnh táo sáng suốt. Đây chính là người “nhất nghệ tinh” vậy.
Tóm lại, niệm Phật, ngồi thiền, tụng kinh… tu pháp nào cũng đều được.
Nhưng chỉ tập trung chuyên nhất vào một pháp thôi, hành trì cho đến nơi
đến chốn, thì công phu mới mỹ mãn. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật dạy: “Chỉ
đây một việc thật, ngoài hai chẳng phải chân”. Nghĩa là chỉ có Phật thừa
là một việc thật. Việc thật ấy chính là tri kiến Phật. Tri kiến Phật là
tánh giác của chúng ta. Ngoài ra các thứ khác chỉ là những thứ phụ thuộc
bên ngoài. Xe hươu, xe dê, xe nai, cuối cùng cũng chẳng còn xe nào, chỉ
thuần một xe trâu trắng mà thôi.
Việc tu học của chúng ta cần phải như vậy. Hiện giờ mình còn thời gian,
còn sức khoẻ, có điều kiện nghe pháp, nên cố gắng tu tập, làm các Phật sự
để tích tạo công đức. Cuộc sống, hoàn cảnh và ngay cả bản thân chúng ta,
mọi thứ đều đổi thay nhanh chóng. Nhìn những gì xảy ra cho người cũng ngẫm
được phận mình. Cho nên đối với việc tu tập, lúc nào cũng phải Khẩn và
Chánh.
Điều quan
trọng thứ ba là Miên mật. Miên mật là liên tục khít khao. Chư Tổ thường
dạy phải làm sao niệm giác ngộ thanh tịnh được sâu và rộng. Muốn vậy công
phu phải liên tục, chặt chẽ. Vả lại có liên tục công phu mới khẩn và chánh
được. Chứ vui thì tụng kinh, buồn thì trì chú, hứng thì ngồi thiền... tu
như vậy làm sao liên tục được. Đó là chưa nói đến những lúc mình buông
thời gian vào những chuyện không đâu, chẳng dính dáng gì đến Phật pháp.
Công phu miên
mật đòi hỏi hành giả phải siêng năng, tinh tấn không lui sụt. Đó không
phải là hình thức nổi bật bên ngoài như lạy Phật tụng kinh, mà nó thầm
thầm liên tục bên trong không dừng. Nghĩa là chúng ta phải tỉnh giác
thường xuyên, trí tuệ hiện diện liên tục trong từng phút từng giây. Tuy
bên ngoài thấy bình thường, nhưng bên trong có một sự chuyển hóa rất lớn.
Chúng ta cứ cố gắng như thế, từ từ công phu được liên tục sẽ đi đến miên
mật. Tu như vậy, mới mong đánh bạt được những tơ tưởng viễn vong, những cố
chấp thâm căn cố đế của mình. Không miên mật thì không thể buông được
những tập khí đã ăn sâu trong tàng thức từ bao đời kiếp.
Có vị đến nói
với tôi:
- Bạch thầy,
từ lâu nay con rất thích nghiên cứu kinh điển và ham tu lắm. Bây giờ con
muốn theo thầy tập sự tu, thầy làm gì con làm nấy giống như thầy.
Tôi trả lời:
- Chuyện này
không đơn giản nghe, phải thử mười ngày xem sao.
Thế là vị ấy
theo tăng chúng đi khiêng đá, quét đường, làm vệ sinh… Ba giờ sáng dậy
ngồi thiền, chiều chiều đứng nhìn thiên hạ, xe cộ qua lại… coi bộ thấm nỗi
vắng lạnh của cảnh chùa rồi. Nên mới chỉ vài hôm, đến nói với tôi:
- Trời ơi, ở
đây buồn quá thầy ơi.
- Ừ ! Buồn thì
về, có sao đâu.
Đó là do không
miên mật, thành ra ma đưa lối quỉ dẫn đường. Khó lắm thưa quí vị !
Một khi ta
chưa khai mở được tâm tư, trí tuệ thì khó nói đến chuyện miên mật. Phải
phát huy tánh giác, có ánh sáng rồi mới thấy đường đi. Nếu điều này không
có thì tất cả những thứ sau coi như tối tăm và sẽ lụi dần. Không tin, quí
vị cứ đến nhà khách Thường Chiếu mà xem, biết bao anh hùng hảo hán đã thử
sức ở đây. Có vị năm mười ngày, có vị chừng một tháng, có vị vừa nghe điện
thoại reo là nôm nốp xem gia đình có nhắn gì không. Làm sao mà miên mật
được. Không miên mật thì ma xen vô.
Ma của người
tu không nanh không vuốt, không trợn mắt, lè lưỡi, xỏa tóc mà chính là
những chướng ngại trong lòng, ta không phấn đấu vượt qua, vươn lên được.
Những thứ ma sự như thế nhiều vô kể. Có những phiền não, một khi nó hiện
hình thì mình vướng mắc ngay đó, không thể nào buông được. Nên mở mắt ra
là phiền não. Trưa dùng cơm nó cũng hiện lên, thành ra ăn không được. Tới
giờ ngủ trưa, ngủ cũng không yên. Thức dậy ngồi thiền lại đối đầu với nó
nữa. Đến tối sám hối, tụng cũng không rồi, nản quá ! Cuối cùng xếp đồ đạc
vào gói, ra cổng đón xe… Ít ai quên đường về nhà lắm. Loại ma này coi bộ
thông minh dữ.
Nên biết công
phu không miên mật, để cho những khoảng hở nhiều quá thì lập tức ma xen
vào. Ma càng vô hình càng chướng, càng mắc mứu nhiều. Những thứ chướng bên
ngoài như khối đá, gốc cây, mình có thể đưa cưa, đưa xe tới bang nó đi dễ
dàng. Nhưng những thứ chướng trong tâm, Phật bảo là giả đấy, nhưng ta thử
xé đi, bang ra xem sao. Thật gian nan cay đắng vô cùng. Đó là chưa kể khi
chúng được tiếp sức bởi những kiến thức bên ngoài, lại càng khó phá hơn
nữa. Vì loại kiến thức ấy sẽ làm khoẻ mạnh thêm cho cái ngã của mình.
Như hồi nhỏ ta
chưa biết làm thơ, thì thơ của mình ai khen ai chê cũng được. Nhưng đến
khi xuất bản được vài tập thơ nổi tiếng rồi, bấy giờ một lời chê nhẹ cũng
có vấn đề. Có vấn đề tức có vướng mắc. Như thế là đã đi ngược chiều hướng
ban đầu của mình rồi. Vì tu là phải buông bỏ tất cả, đâu thể vướng mắc
được.
Cho nên người
tu phải làm sao bình thường trước mọi sự biến động bên ngoài. Được vậy mới
là người có công phu miên mật. Ngài Triệu Châu trong ba mươi năm, chỉ trừ
hai thời cơm cháo hướng tâm hồi hướng cho đàn na thí chủ, ngoài ra không
để cho một tạp niệm dấy khởi. Còn chúng ta bây giờ thế nào ? Câu hỏi này,
mỗi vị tự trả lời với mình mới chính xác được.
Chúng ta nên
nhớ việc chính yếu của người tu không luận mau hay chậm, lớn tuổi hay nhỏ
tuổi, trí thức hay quê mùa, nam hay nữ… mà là sự tỉnh giác. Không bị kéo
lôi bởi những vọng duyên bên ngoài, làm chủ được những dấy niệm bên trong.
Đó là tu. Như vậy đâu phải chỉ người xuất gia mới tu được. Chỉ cần người
nắm vững pháp tu, biết chánh, biết khẩn và cố gắng miên mật thì sẽ tu
được. Người thực hành đúng theo đó là người có ánh mắt tuệ giác trong công
phu tu hành. Người này dần dần sẽ đủ sức làm chủ vòng luân hồi, cắt đứt
được nó nếu muốn. Cho nên đâu phải đợi đến khi chết, nhờ Tăng Ni hộ niệm
đưa mình về cõi Phật A Di Đà mới an vui. Mà ngay đây, bây giờ, một khi ta
làm chủ được các vọng niệm của mình là đã được an vui tự tại rồi.
Điều quan
trọng thứ tư là Bao dung, Rỗng rang, Sáng suốt. Đây là chỗ sau cùng mà hầu
hết người tu chúng ta rất dễ bị vướng. Bởi thường chúng ta làm được việc
gì, chúng ta rất tự hào về việc đó, trong công phu tu hành cũng vậy. Tôi
thấy một số Tăng Ni sinh khi mới đi học, chưa đỗ đạt, chưa có bằng cấp, họ
rất bình thường. Nhưng khi đã đỗ đạt thì mọi thứ đều thay đổi, từ cung
cách, ngôn ngữ, cho đến tâm tư tình cảm đều khác biệt lúc trước.
Đây là điều
chúng ta cần phải xét lại. Xét lại để đừng vướng vào những cạm bẫy chót.
Tâm càng rỗng rang thì công phu càng nhẹ nhàng. Thực hành công phu tu
thiền đến đây mà còn vướng mắc dù một chút thôi, cũng thật đáng tiếc.
Niết-bàn là chỗ an lạc, mà muốn an lạc thì đừng để mắc mứu ngược xuôi.
Ngược xuôi thì không an lạc được.
Niết-bàn không
phải là nơi có ao sen hay lầu các hoặc khung cảnh thần tiên nào để ta
hưởng lạc. Niết-bàn chỉ là tên gọi để diễn tả tâm rỗng rang sáng suốt,
không còn ngược xuôi tăm tối nữa. Cho nên người tu tâm chỉ cần rỗng rang
thì ở đâu cũng là Niết-bàn. Như trong kinh Duy Ma Cật đã diễn tả, chợ búa
đối với ngài Tịnh Danh cũng là đạo tràng thanh tịnh. Chúng ta nếu thật tâm
tu học phải sống nghiêm túc và đến được chỗ đó. Làm sao tới chỗ làm việc
cũng là đạo tràng, về nhà cũng là đạo tràng, gặp nhau giữa đường cũng là
đạo tràng. Đạo tràng dung quát, bao la, rộng rãi.
Trên đây tôi
đã nêu ra bốn điều quan trọng mà người tu cần phải biết. Đó là Khẩn,
Chánh, Miên mật, Bao dung rỗng rang. Khẩn không có nghĩa là hấp tấp quên
trước quên sau, mà Khẩn là không lơ là. Chánh là vững vàng với pháp môn
mình đã chọn. Có Miên mật, ma sự mới không xen vào. Và cuối cùng là Bao la
rỗng rang không vướng mắc. Qua hết các giai đoạn như vậy chúng ta sẽ tự
tại, không còn vướng mắc nữa gọi là vào Niết-bàn.
Song trong
việc tu hành, chúng ta hay gặp trở ngại. Giai đoạn đầu mới tu thì thấy
dường như mau tiến bộ. Nhưng tới năm ba năm, bỗng dưng sinh chuyện, tự
nhiên mình cứ dẫm tới dẫm lui một chỗ hoài. Thời gian cứ trôi mà vướng cứ
vướng, không qua được. Đây là chỗ khó của người tu.
Thật ra
không có gì không vượt qua được, nếu chúng ta bền chí phấn đấu. Nghĩa là
người tu không thể yếu đuối. Tu Phật phải là người gan dạ, quyết sống
quyết chết mới chiến thắng được chúng ma. Quan trọng là làm sao chúng ta
nhận ra và sử dụng được tánh giác của mình. Có thế mới giữ vững công phu
trước sau như một, dù gặp phải nhiều thử thách khó khăn.
Trong kinh
ghi lại, có một kiếp đức Phật làm thợ săn, khi chết bị đọa địa ngục. Ngài
phải kéo một chiếc xe rất nặng, mà còn chịu đựng bao nhiêu gươm giáo đâm
chém vào mình. Đau đớn vô cùng nhưng Ngài vẫn phải bước. Khi kéo xe ngang
qua một cửa ngục khác, nhìn thấy chúng sanh rên la đau đớn vì bị trói vào
cột đồng cháy đỏ, Ngài cảm thương đau xót nên thốt lên lời nguyện: “Tôi
xin gánh hết những cảnh khổ này, nguyện cho tất cả chúng sinh được an lạc
và đừng mê muội điên đảo gây tạo nghiệp nhân bất hảo, để bị trôi dạt vào
đây”. Vừa phát nguyện xong, tự nhiên lòng Ngài mát mẻ rỗng rang, những đau
đớn khổ nạn đều biến mất.
Rõ ràng
thiên đàng hay địa ngục chẳng qua chỉ là sự chuyển hóa từ mê sang ngộ.
Nghiệm lại trong chính đời sống của chúng ta, những bức xúc làm mình đau
nhức, ăn không yên ngủ không ngon, nếu buông hết thì tâm ta sẽ yên ngay.
Còn dù có tụng bao nhiêu quyển kinh, ngồi bao nhiêu thời thiền mà không
buông bỏ được, chúng ta vẫn đau khổ như thường.
Tinh thần
của đạo Phật là vô ngã vị tha. Khi chúng ta phát nguyện độ tất cả chúng
sanh, cũng có nghĩa là mình đang phát huy được tánh giác, phát huy được từ
bi và trí tuệ nên không còn sống trong mê lầm nữa. Mà không mê thì hết
khổ. Tinh thần giác ngộ giải thoát chân chính cao siêu của đạo Phật không
có hình thức, đó chính là tâm sáng suốt rỗng rang của chúng ta.
Tất cả huynh
đệ chúng ta có thể phát triển công phu theo chiều hướng này. Nếu vì nghiệp
báo cũ, mình gặp nhiều khổ đau thì hãy dũng mãnh phát nguyện gánh chịu tất
cả. Phát nguyện như vậy sẽ thấy các khổ đau đều chấm dứt, ngay đó an lạc
hiện tiền. Vì bản ngã đã được phá vỡ mới có hùng lực như vậy.
Cuối cùng,
tôi xin chúc tất cả thành công trong công phu tu hành của mình, khi thực
hiện được trọn vẹn bốn điều quan trọng trên.
] |