|
SỐNG
Hôm nay chúng
tôi sẽ nói về sức sống của người con Phật. Bởi vì chúng ta không thể để
cho đời mình trôi suông vô ích, mà phải gầy dựng cuộc sống hiện tại như
thế nào để khi sống cũng như lúc ra đi, ta được an ổn vui vẻ.
Một chữ
“Sống”, nếu chúng ta sống được, sống đúng với Phật pháp thì chắc chắn hiện
tại được an vui và khi nhắm mắt cũng an vui. Trái lại, nếu chúng ta sống
chưa đúng nghĩa, còn đầy dẫy toan tính, thì chắc chắn những rối rắm không
thể tránh khỏi khi lâm chung. Thế thì bây giờ ta phải “sống” như thế nào ?
Ở đây có mấy điểm cần nêu.
Thứ nhất,
sống phải có mục đích. Con người không ai không có mong muốn. Mong muốn
chính là mục đích. Người tu cũng có những mong muốn của người tu. Như mong
muốn được thành Phật, mong muốn hết khổ… Người đời thì mong muốn mạnh
khỏe, sống lâu, giàu có, gia đình hạnh phúc… những mong muốn ấy tuy khó
nhưng thực hiện không khó lắm. Trái lại, mong muốn của người tu nghe tuy
dễ nhưng thực hiện rất khó.
Người mong
muốn hết khổ, mà trong lòng lúc nào cũng toan tính, sợ hãi, bất an, thì
làm sao hết khổ được. Quý Phật tử lạy Phật, tụng kinh, đều hồi hướng cho
con hết khổ, gia đình con được an vui hạnh phúc. Điều này, nếu bình tâm
xét lại sẽ thấy đó là một mong muốn phi thường. Bởi trên cuộc đời này ai
cũng khổ hết, khổ về tâm, khổ về thân hoặc khổ về cảnh.
Như đức Phật
khi còn là Thái tử, Ngài cũng khổ. Nếu không khổ thì chắc rằng Ngài không
vượt thành đi tu. Nhưng quả thực, đằng sau những cuộc vui ca hát xướng,
Ngài cảm thấy bế tắc trước cái già, cái bệnh, cái chết của con người. Bởi
vì có bao giờ mình muốn mình già, muốn bệnh, muốn chết đâu. Nhất định tôi
không muốn già, tôi phải sống lâu để làm việc hoặc để tu. Nhưng muốn có
được đâu, chết vẫn chết, thành ra khổ.
Đức Phật thị
hiện thân tướng sắc vàng như vậy, nhưng rồi 80 tuổi cũng phải chết, hà
huống thân chúng ta bệnh hoạn yếu đuối, nhiều nghiệp chướng thì làm sao có
thể tồn tại mãi được. Cho nên trên đời này không ai không khổ. Bởi vì
chúng ta luôn đứng trước những điều bất như ý, luôn bất lực với những hoàn
cảnh không giải quyết được. Người con Phật mong muốn hết khổ, nghĩa là
mong muốn thoát ra khỏi sanh, lão, bệnh, tử.
Nói tới
sanh, nhiều người đã than không biết tại sao hồi đó tôi không chọn đường
nào sung sướng, lại sinh trong gia đình làm khổ tôi quá. Ông già tôi,
những người trong gia đình đều làm tôi bất mãn, không chịu đựng nổi. Quả
thực là bất lực, bởi vì cha mẹ sanh ra, nuôi dưỡng mấy mươi năm lớn lên,
mình mới nói câu đó. Phải chi câu này được nói ra hồi ông bà cha mẹ chưa
gặp nhau thì có lý hơn, kịp thời gian hơn. Đằng này đợi đến khi trưởng
thành, thì càng nói càng chứng tỏ sự bất lực, sự tăm tối, sự đau khổ bất
như ý mà thôi.
Con người
thường đương đầu với những nổi khổ gần như phi lý. Bởi bản thân mình, cha
mẹ, tất cả người thân, có ai muốn chúng ta bệnh đâu. Cha mẹ nghe nơi nào
có thuốc bổ, thuốc trường sinh, dù cực khổ tốn hao mấy cũng chạy tìm cho
con. Nhưng bệnh nó vẫn bệnh. Rõ ràng không ai có thể làm chủ được thân
này. Ví dụ tới giờ đi ngủ ta đâu muốn nhức đầu đau bụng để phải mất ngủ,
nhưng nó lại đau đầu đau bụng và mất ngủ thì sao ! Và ta cứ phải chấp nhận
những điều bất như ý như vậy dài dài. Cho nên sống là chịu đựng. Vì vậy
muốn sống phải là người gan dạ, kham nhẫn.
Nếu chúng ta
xét kỹ lại, những sự việc ấy không phải là phi lý đâu, tất cả đều có
nguyên nhân của nó. Chúng ta là người lái con thuyền ấy, chứ không ai vào
đây gây sóng gió cho ta cả. Đạo Phật chỉ cho con người biết rõ điều đó,
rồi hướng dẫn họ tự xoay chiều, tự sắp đặt, tự làm chủ hướng đi của mình
bằng trí tuệ của mỗi người. Như vậy, nói đến “sống” là phải có trí tuệ.
Trí tuệ từ đâu
mà có ? Từ sự tu tập. Tu là sửa. Những gì không hợp, không thích đáng,
chúng ta phải mạnh dạn bỏ nó đi. Những toan tính làm cho mình buồn khổ thì
chứa chất trong lòng làm gì. Bất cứ lúc nào, giữa đêm thức dậy nghe lòng
mình toan tính gì đó liền bỏ đi, đang ăn cơm bất thần nghĩ đến câu nói
trái tai hôm qua liền bỏ đi. Nếu được như vậy thì sống trong cuộc đời này,
tương đối có ý nghĩa. Nếu chúng ta cứ để những toan tính bám víu, làm khổ
mình hoài thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì nữa.
Cuộc đời của
mình tự mình giải quyết, làm chủ được hay không, sắp đặt mọi việc được hay
không, khổ hay không vui, mình đều có thể tự lo liệu được. Nếu muốn hết
khổ thì đừng nuôi dưỡng mầm mống khổ đau. Phật dạy khổ đau từ những vọng
động tăm tối mà ra. Kiểm nghiệm kỹ chúng ta sẽ thấy, nếu làm chủ được mình
ta sẽ làm chủ được tất cả. Làm chủ được tất cả là thoát khỏi sanh, lão,
bệnh, tử khổ.
Người tu
Phật là người sáng suốt, biết rõ nhân duyên quả báo dẫn con người đi trong
các cõi. Cho nên muốn có cuộc sống hiện tại cũng như tương lai tốt thì
đừng bao giờ nhắm mắt làm càn. Chừng ấy thôi cũng đã sung sướng rồi. Sở dĩ
khổ đau bất như ý, là vì mình cứ nhắm mắt làm bừa, rồi sau đó đổ thừa cho
hoàn cảnh, cho người này, người kia. Phải biết với tinh thần nhân quả có
vay thì có trả, mình làm mình chịu, không trốn tránh, không than trách ai
cả. Như vậy, cuộc đời mình may ra có chút tự chủ, có chút hạnh phúc. Cho
nên sống có mục đích chính là tự chọn cho mình con đường đi và hoàn toàn
chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy.
Sang điểm thứ
hai, sống phải siêng năng, tu hành liên tục. Vì nếu không siêng năng liên
tục sẽ dễ bỏ cuộc lắm. Có người làm việc gì cũng rất giỏi, nhưng chỉ được
giai đoạn đầu, sau đó biếng trễ thì coi như sự nghiệp không bao giờ thành
tựu. Ở đây tôi nói siêng năng là tận dụng mọi thời gian, mọi hoàn cảnh,
đừng hẹn đừng đợi gì cả. Giàu tu cũng được, nghèo tu cũng được, bận rộn tu
cũng được, hoàn cảnh nào cũng được. Hòa thượng thường dạy chúng ta tu
trong mọi hoàn cảnh.
Siêng năng
là như vậy, chớ không phải tối nay tụng kinh một tiếng đồng hồ, tối mai
tụng một tiếng rưỡi, rồi tối mốt xem ti vi, bỏ quách hết. Tu kiểu đó gọi
là một nắng mười mưa, không có kết quả gì. Hình thức là nhằm tăng thêm giá
trị cho nội dung, chứ hình thức không phải là điều chính yếu của việc tu.
Nếu không gặp hoàn cảnh thuận tiện, ta có thể bỏ qua hình thức mà giữ nội
dung, chứ không thể bỏ nội dung giữ hình thức. Được vậy, ai cũng có thể
sắp đặt việc tu hành của mình trong mọi sinh hoạt. Với điều kiện người ấy
siêng năng thì chắc chắn việc tu sẽ thành công.
Giá trị của
Phật pháp rất thiết thực trong cuộc sống, nhưng phải siêng năng, tinh tấn
không ngừng nghỉ chúng ta mới hưởng được. Ở đây quan trọng là sự liên tục.
Người tu không phải sửa một ngày hai ngày mà phải sửa mãi, đến bao giờ đạt
được mục đích mới thôi. Phải gan dạ loại bỏ tất cả những gì không xứng
đáng, không hợp pháp, không đúng với đạo lý ra khỏi cuộc sống của mình.
Bởi mục đích của mình là thành Phật, thì trong tâm không thể dung chứa
những thứ đó được.
Như người tu
pháp môn Tịnh độ, niệm Phật đến khi lâm chung, thấy Phật Di Đà đến rước
thì mới theo. Nếu không phải Phật Di Đà thì nhất định không theo mới không
lầm. Chứ còn thấy cảnh giới đẹp hoặc nghe đờn nghe trống gì đó liền nhảy
lên thì ma mị nó rước đi mất. Thất bại là tại không chuyên nhất, lòng còn
tham muốn nông nổi.
Người tu thiền
định thì phải dừng vọng tưởng, vừa có niệm khởi liền buông, gặp cảnh giới
nào cũng đều buông hết. Nói định tức bên trong không động, nói thiền tức
bên ngoài không vướng mắc. Nếu chúng ta không tự tu, tự sửa, tự thực hiện
thiền định cho chính mình thì Phật cũng không làm sao giúp hơn được. Cho
nên đến giai đoạn này cần phải siêng năng liên tục. Đó là chất liệu để
sống vậy.
Nên nhớ sự
tu hành phải được thực hiện từ trong thâm tâm của mình, chứ không phải chỉ
có hình thức bên ngoài. Ví dụ có vị nghèo khổ không đi chùa được, không có
gì để cúng dường thì mình nguyện đem công đức tu hành để cúng dường Tam
bảo. Làm được điều lành, nói lời lành, ý nghĩ lành cũng có thể tạo phước
cúng dường. Đôi khi giàu có lại khó tu hơn nghèo khổ, cốt ở tâm thôi.
Điều thứ ba là
phải khắc ghi. Khắc ghi tức là chuyên chú. Khắc ghi điều gì? Phật dạy: Cõi
này là cõi mộng, cuộc sống này là cuộc sống mộng, con người là vô thường,
hoàn cảnh là đổi thay, tất cả đều đi đến hủy diệt. Khắc ghi như thế, dần
dần công huân tu hành tăng tiến, đạo lực thâm hậu, sức định tĩnh đầy đủ,
chúng ta sẽ thấy giá trị lời Phật dạy và kết quả của việc tu tập.
Có người bảo
cây cảnh tí xíu còn sống mấy chục năm, huống thân này to lớn, tuổi thọ
cũng cả trăm năm, vô thường chỗ nào ? Đó là cái nhìn cạn hẹp của thế gian.
Họ không biết mọi vật luôn sanh diệt trong từng phút giây. Muôn cảnh muôn
vật, ngay cả thân này cũng vậy, dù tuổi thọ có bao nhiêu nó vẫn biến dạng,
đâu thể giữ hoài một trạng thái ban đầu. Nếu không thế thì con người đâu
có già, bệnh và chết.
Với cái nhìn
đạo lý, nếu chúng ta sáng suốt định tĩnh sẽ thấy đời sống này là vô
thường. Cho nên giai đoạn thứ ba là phải khắc ghi, phải nhớ mãi công phu
tu hành của mình. Nếu không thế, chỉ cần lơ là một chút là lệch lạc ngay.
Như Đề Bà Đạt
Đa khi còn ở hoàng cung là em họ của Thái tử. Ông luôn tranh chấp với Thái
tử. Đến lúc được Phật độ cho xuất gia, ông tu hành cũng tinh tấn nhưng bản
chất không thuần thiện vẫn còn. Vì vậy ông luôn mong muốn thay thế địa vị
Giáo chủ của Phật. Ước mơ này lại hợp với A Xà Thế, con của vua Tần Bà Sa
La. A Xà Thế tôn Đề Bà Đạt Đa làm Sư phụ, cả hai thầm hợp tác với nhau,
một bên giết cha, một bên giết Phật để đoạt ngôi Vua, đoạt ngôi Giáo chủ.
Vua Tần Bà Sa
La biết được nên nhường ngôi cho A Xà Thế. Để đền ân cha, A Xà Thế vừa lên
ngôi liền hạ ngục Tần Bà Sa La và bỏ đói cho tới chết. Còn Đề Bà Đạt Đa
được sự ủng hộ và sắp xếp của A Xà Thế, đã thả voi say giết Phật, nhưng sự
việc không hành. Bởi đức Như Lai đã dùng từ bi tâm cảm hóa được voi dữ,
khiến chúng nằm mọp xuống khi vừa thấy Ngài. A Xà Thế sau khi tỉnh tâm đã
đến đảnh lễ sám hối với Phật: Con ngu muội nghe theo lời hướng dẫn của tà
sư nên đã gây tạo tội lỗi tày trời. Hôm nay thức tỉnh ăn năn, cúi xin đức
Phật từ bi cho con được sám hối. Phật rất hoan hỉ xem như không có chuyện
gì xảy ra.
Sau lần đó
rồi, Đề Bà Đạt Đa cũng chưa hài lòng. Mặc dầu biết A Xà Thế đã sám hối
Phật, nhưng Đề Bà Đạt Đa luôn gần gũi nhỏ to, khiến cho A Xà Thế lại tạo
tội. Hai người chuẩn bị năm trăm xạ thủ bắn tên giỏi nhất trong nước, chờ
Phật về thành thọ lễ cúng dường sẽ động thủ. Phật vẫn bình thường nhận lời
thỉnh của A Xà Thế với lòng từ bi bao la, không hề có niệm gì khác.
Sau khi đoàn
của Phật vào thành, năm trăm tay xạ thủ buông tên nhưng không hiểu vì sao
những mũi tên độc được bắn ra đều biến thành hoa sen rơi xuống trước Phật,
trang điểm con đường của Ngài và chư vị Thánh đệ tử rực rỡ sắc hương. Lần
này A Xà Thế không còn gì tin tưởng Đề Bà Đạt Đa nữa, ông ta đã thất bại
hoàn toàn. Đức Phật lại tiếp tục nhận lời thỉnh thụ trai của nhà vua,
thuyết pháp giảng dạy, hướng dẫn A Xà Thế cải tà quy chánh, trở thành một
vị hộ pháp đắc lực nhất thời bấy giờ.
Chúng ta thấy,
ngoài Phật chắc không ai làm nổi chuyện này. Nhưng Phật rất bình thường,
bởi sức đại từ đại bi, đại hùng đại lực của đức Thế Tôn đã chuyên nhất.
Tâm Ngài không còn xen tạp các thứ tật đố, tham sân, phiền não như chúng
ta nữa. Ngài luôn khắc ghi chúng sanh trong lòng, thương tưởng như con đẻ
nên mới có thể sống và hành xử như vậy. Đây chính là những thử nghiệm để
thấy rằng công đức, đạo hạnh, trí tuệ của Phật vô cùng vô tận.
Tôi kể câu
chuyện này để nhắc nhở quý Phật tử lòng còn chao đảo yếu đuối, dễ bị quyến
rũ của những người chung quanh lấy đó làm kinh nghiệm. Người đã trải qua
mười hai mươi năm gầy dựng công đức, mà bị ai đó rù rì rủ rỉ khiến phải bỏ
cuộc thì uổng biết bao nhiêu. Tôi muốn nói, nếu chúng ta không khắc ghi
trong tâm huyết tu hành, thì khi bị những thứ chung quanh ập đến mình
không tự chủ được. Không tự chủ được thì nghe theo, rồi tạo biết bao nhiêu
việc ghê gớm, làm mất hết công phu và công đức tu hành của mình.
Người con Phật
phải luôn luôn khắc ghi, tâm niệm những gì quí báu tốt đẹp, giữ gìn công
đức đạo hạnh. Khắc ghi và áp dụng Phật pháp vào đời sống tu tập của mình.
Nếu không thì bao nhiêu cạm bẫy sẵn sàng một bên để quật chúng ta. Nói
đúng hơn không phải chúng muốn quật mình mà tại chúng ta tự nạp thôi. Như
khi đi ngang cái hố, nó có bao giờ nói đợi ta đến để nhận chân mình đâu,
tại ta nhắm mắt lủi vô thì sụp thôi.
Nên biết những
khổ đau, chua cay trong cuộc đời ta nếm trải, không thể đổ thừa cho hoàn
cảnh hoặc người khác hết được. Nếu người tu hành tâm không vững, còn chao
đảo lăng xăng, toan tính ngược xuôi thì tự mình chuốc khổ, tự mình làm
hỏng cuộc đời tu hành của mình. Cho nên luôn tâm niệm khắc ghi Phật pháp
là vậy.
Thứ tư là định
tĩnh, đây là giai đoạn quyết định cuối cùng. Vì định tĩnh mới hay trừ khử,
khắc phục các loạn động, bất an. Những thứ đó là gì ? Là lợi, suy, hủy
nhục, khen ngợi, vui, buồn v.v… Thiếu định tĩnh chúng ta sẽ không đủ sức
để giải quyết những vấn đề này. Vui quá cũng không được, cứ cười hô hố
hoài, đúng cũng cười, sai cũng cười, gặp ai cũng cười hết thì người ta nói
mình mad. Buồn quá cũng không được, gương mặt tháng bảy hoài thì có nước
ngập lụt mà chết.
Nhà Phật nói
buồn quá thì ma sầu bi nhập, vui quá thì ma hoan hỉ nhập. Người tu không
quá vui, cũng không quá buồn. Muốn vậy phải giữ tâm định tĩnh, nếu không
định tĩnh ta sẽ lao theo những vui buồn của thế gian như con rối. Chúng ta
thấy mấy tay hề, biểu diễn tào lao mà người ta cười thôi là cười, cười
muốn đứt ruột, vỡ bụng. Tại vì không tự chủ, nên ma cười nhập. Muốn làm
chủ mà thiếu định lực thì không có thể được.
Như ngồi
thiền đau quá nhưng mình nhất định tiến không lùi. Nhờ thế tới một hôm ta
ngồi không đau nữa. Vui quá ta phát cười lên ha hả. Ngồi thiền mà như vậy
thì thiên hạ chạy hết. Hoặc ta nghiệm lại từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng
thành, lập gia đình có con cái, đời ta toàn là đau khổ, nước mắt chảy
không biết bao nhiêu mà kể. Nghĩ vậy rồi buồn thôi là buồn. Thế là gặp ai
mình cũng sầu bi khiến cho người chịu không nổi, họ cũng chẳng dám gần
mình.
Người không có
đức tu hành dễ bị các ma sự kia làm não hại. Được người ta công kênh, xưng
tụng, vinh dự quá mình mất định tĩnh. Bị người ta biếm nhẽ, xem thường,
tủi buồn quá mình mất định tĩnh. Ngoài định tĩnh và trí tuệ ra, không có
gì giúp chúng ta thoát ra các thứ phiền não ấy. Trong cuộc đời, không làm
sao ta tránh khỏi những điều bất như ý, nếu không có lực tu thì khó tìm
được sự bình an. Cho nên người tu phải chuẩn bị một tinh thần kiên định,
trầm tĩnh và sáng suốt mới có thể tự chiến thắng được mình.
Phật tử hôm
nay phải hiểu hoàn cảnh nào mình cũng tu. Tu là ngay nơi đường đi lối về
của tâm thức, của ý niệm ngã và ngã sở, ta thấy rõ nó không thật. Thấy rõ
như thế rồi thì vọng tưởng không còn giá trị gì đối với mình nữa. Ta không
loại, tự nó cũng mất, bởi vì vọng chỉ là cái bóng, nó không có thật thì
làm sao còn được. Nhưng đáng tiếc, chúng ta lại bị động bởi những thứ hư
vọng đó, cho nên lúc nào mình cũng rong ruỗi ngược xuôi. Vì vậy Phật nói
chúng sanh sống với con khỉ ý thức, chứ không sống với tâm thể chân thật
của chính mình, do đó nên khổ.
Biết vậy,
bây giờ chúng ta hãy tu sửa lại. Tất cả Phật pháp lâu nay đã được học
hiểu, ta áp dụng vào đời sống tạo điều kiện cho định tuệ phát triển. Đừng
vì một lý do gì mà mình suy suyễn, hễ suy suyễn là vọng động khởi lên
liền. Nên nhớ động thì không định, định thì không động. Sống trong định
thì an ổn, sống trong động thì đau khổ. Chúng ta có quyền chọn lựa con
đường cho mình. Tu là như vậy.
Trong mọi sinh
hoạt, đi đứng nằm ngồi, nói năng, làm việc, tụng kinh, ngồi thiền, ta đều
kiểm soát được tâm vọng động, gan dạ buông nó đi. Như vậy mình mới sống,
và sống với tâm chân thật bất động. Chính cái bất động này mới đủ lực giải
quyết mọi thứ chướng ngại trên. Sức sống của người tu Phật là sức sống
được toát ra từ trí tuệ và định lực.
Sống siêng
năng tu tập, khắc ghi đúng chánh pháp, định tĩnh sáng suốt trong mọi sinh
hoạt. Sống như vậy, cuộc sống mới có giá trị. Vì đó là cuộc sống thiền,
sống đạo. Chúng ta không cần nói tu thiền, tu đạo chi cả, chỉ cần sống như
thế thì quả vị Phật không muốn cũng thành. Ngược lại, chỉ tu tập theo
hình thức bên ngoài mà trong tâm không tỉnh thức, thì cầu xin khấn nguyện
mấy Phật cũng không cho mình quả vị của Ngài được.
Luật nhân quả
là tiêu chuẩn để định lượng cuộc sống của mỗi chúng ta. Đời này ta nợ nần,
nghèo khổ là biết đời trước mình keo xẻn tham lam với người. Đời này ta
giàu sang sung sướng, thông minh đẹp đẽ là biết đời trước mình bố thí
thương người, không sát sanh hại vật. Đời này ta thích đi chùa, nghe pháp
là biết đời trước ta đã có tu. Chắc chắn như vậy, không có gì nghi ngờ,
nên đâu phải cầu xin ai ban phước giáng họa cho mình. Người nắm vững luật
nhân quả sẽ có sức sống rất mãnh liệt, vì họ chịu trách nhiệm hoàn toàn
trước mọi cảnh thuận cũng như nghịch, không trốn tránh, không đổ thừa cho
ai.
Hòa Thượng có
viết bài thơ “Anh nếu biết”, chúng ta thử đọc lại xem Ngài muốn nhắn nhủ
với mình những gì:
Anh nếu biết!
Cuộc đời là thế ấy,
Còn gì đâu vướng bận ở lòng anh.
Ai
cười vui năm trước,
Ai
khổ đau tháng này,
Ai
tiền rừng bạc bể,
Ai
bát cơm khó đầy,
Ai
vinh quang tột đỉnh,
Ai
tủi nhục cùng đồ?
Dòng đời cứ trôi, trôi qua mãi,
Năm tháng mang đi, đi kiếp người.
Đâu tá những ai, ai cố giữ,
Còn chăng chỉ thấy một nấm mồ.
Hồ
thu nước trong vắt,
Vầng trăng hiện sáng ngời,
Trẻ con đua nhau vớt,
Vớt mấy vẫn tay không.
Thôi đừng ngây thơ nữa,
Ngửa mặt nhìn trời trong,
Ôi
kìa, vằng vặc trăng đêm vắng.
Đã
hết khổ công nhọc vớt mò,
Nay được thấy trăng, trăng rạng rỡ.
Còn đâu run rẩy lặn tìm trăng,
Anh nếu biết !
Cuộc đời là thế ấy,
Còn gì đâu vướng bận ở lòng anh.
“Cuộc đời là thế ấy” nghĩa là sao ? Nghĩa là cuộc đời vô thường, mộng ảo,
không thực, luôn đổi thay nên khổ đau. Đã biết như vậy rồi thì còn gì
vướng bận nữa. Mọi vật đều vô thường, ta lo gầy dựng cái trăm năm để làm
gì. Chỉ tùy duyên sống vui vẻ thôi. Các pháp có hợp ắt sẽ tan, còn mất là
việc thường. Ta không bận lòng, không sợ hãi toan tính khi nó đến cũng như
lúc nó đi. Được vậy thì sướng nhất đời rồi.
Phật dạy
thân này do tinh cha huyết mẹ và thức tâm hợp lại mà thành, không có gì
thật hết. Nó có thể hư hoại bất cứ lúc nào. Một cơn gió độc, một viên đạn,
một mũi tên cũng có thể mất đi tất cả. Biết như vậy, ta khấn vái sống một
hai trăm năm làm gì, chỉ vô ích thôi. Cái không an toàn mà mình cầu nguyện
cho nó an toàn sao được ? Bây giờ ta nên nhanh chóng sử dụng thân giả tạm
này để tu, làm sao mau thoát ra khỏi vòng sanh tử khổ đau, để được sống
muôn đời với cái chân thật bất sanh bất diệt của mình.
Ví như ta lên
chiếc xe mục nát, cộng thêm ông tài xế chạy bạt mạng thiên lôi nữa. Vậy mà
cứ ngồi trên đó, rồi đốt nhang cầu nguyện thần linh ủng hộ chiếc xe đừng
hư, luôn được an toàn có phải vớ vẩn không ? Đó là ước mơ không hiện thực,
không bao giờ thành tựu được, nên Hòa thượng nói: Anh nếu biết cuộc đời là
thế ấy, còn gì đâu vướng bận ở lòng anh. Hai câu này nghe nhẹ làm sao.
Biết cuộc đời là giả tạm, mộng huyễn thì còn gì vướng bận trong lòng nữa.
Ai cười vui
năm trước, ai khổ đau tháng này, ai tiền rừng bạc bể, ai bát cơm khó đầy,
ai vinh quang tột đỉnh, ai tủi nhục cùng đồ, thưa quí vị là ai ? Chính
chúng ta là tác nhân vậy. Dòng đời cứ trôi trôi qua mãi, năm tháng mang đi
đi kiếp người, đâu tá những ai ai cố giữ, còn chăng chỉ thấy một nấm mồ.
Cả trường tranh đấu cuối cùng còn lại gì ? Một nấm mồ. Nếu người có chuẩn
bị trước thì may ra phút chót bảo đảm không rơi vào tăm tối. Còn thì tiền
rừng bạc bể cũng bất lực trước tử thần mà thôi. Tất cả những ước mơ, ta cố
giữ để cuối cùng ngay cả đời mình cũng chẳng còn. Chừng ấy không có công
đức, không có định tĩnh, không có trí tuệ thì tránh sao khỏi ma đưa lối
quỷ dẫn đường !
Cho nên tiền
rừng bạc biển chỉ là cái vui tạm thời trong một giai đoạn thôi. Đó là nói
người biết sử dụng, chứ như kẻ nhiều tiền lắm của mà ăn chơi sa đọa thì
tiền của càng làm khổ thêm. Người xưa nói: “Hữu phước bất khả hưởng tận”,
nghĩa là có phước không nên hưởng hết. Dù có tiền của cũng không nên hưởng
hết, mà phải khéo sử dụng nó, ta mới được lợi ích. Nếu không, vật chất như
con dao hai lưỡi, giết người vô số.
Hồ thu nước
trong vắt, vầng trăng hiện sáng ngời, trẻ con đua nhau vớt, vớt mấy vẫn
tay không. Ở đây Hòa thượng có ý nhắc nhở chúng ta. Ví như hồ nước trong
có bóng trăng hiện, trẻ thơ không biết đó là bóng, nên đua nhau vớt. Càng
vớt càng mất bóng trăng. Người lớn hay người có trí tuệ, nhân thấy bóng
trăng mà biết mặt trăng thật ở trên hư không, ngẫng đầu lên nhìn thì tha
hồ mà ngắm, mà thưởng thức vầng trăng sáng ngời.
Người tu hành
cũng vậy. Nhân thấy muôn pháp vô thường, thân tứ đại giả tạm mà biết có
cái chân thật, bất sanh bất diệt ẩn bên trong. Sống với cái bất sinh bất
diệt đó thì còn gì đau khổ nữa. Còn nếu ta cứ mê lầm lăng xăng ngược xuôi
tìm bắt chính mình, thì giống như mấy đứa trẻ muốn vớt trăng, lại mò trong
hồ nước, thử hỏi biết bao giờ mới vớt được ? Cho nên muốn sống lại với cái
chân thật thì phải quay lại ngay nơi mình. Buông hết vọng tưởng, tâm định
tĩnh sáng suốt thì vầng trăng vằng vặc sáng soi.
Thôi đừng ngây
thơ nữa, ngửa mặt nhìn trời trong, Hòa thượng đã chỉ rõ cho chúng ta rồi.
Muốn thấy mặt trăng thật thì phải ngó trên hư không kìa, đừng ngây thơ mò
vớt bóng trăng dưới đáy nước nữa. Muốn nhận ra cái chân thường thì ngay
nơi thân vô thường, ngay nơi sáu căn sanh diệt mà nhận lấy. Ô kìa vằng vặc
trăng đêm vắng, đã hết khổ công nhọc vớt mò. Nay được thấy trăng, trăng
rạng rỡ, còn đâu run rẩy lặn tìm trăng. Nhận và sống được với chính mặt
trăng thật của mình rồi thì tha hồ vui sướng rạng rỡ, không còn nhọc nhằn
run rẩy ngược xuôi trong bể khổ nữa. Xoay lại chính mình thì tất cả ngược
xuôi chấm dứt. Những gì cả đời ta toan tính, bây giờ rõ ràng chúng chỉ là
một mớ vọng tưởng điên đảo, có gì còn gì. Vậy mà ta đã gieo neo với nó
không ít, thật phi lý, thật si mê! Cho nên cuối bài thơ Hòa thượng nhắc
lại Anh nếu biết cuộc đời này là thế ấy, còn gì đâu vướng bận ở lòng anh,
thật ý vị, thật sâu sắc.
Bài thơ trên
là cả một nghệ thuật sống, Hòa thượng đã viết lên bằng chính kinh nghiệm
của đời người. Trong đó có sự hiện diện tất cả chúng ta nữa. Ngài đã khéo
nói lên những cái chung của con người, để từ đó hướng ta đến chỗ chân thật
của cuộc sống. Sống trong sự sáng suốt, sống không bị vọng động kéo lôi,
sống với mặt trăng thật của chính mình là người thật sống. Ngược lại sống
nhọc nhằn, đuổi bắt theo bóng dáng mộng huyễn của thế gian thì sống cũng
như chết mà thôi.
Nếu không thật
tu, chúng ta sẽ không bao giờ thấy được giá trị thật của nó. Người Phật tử
khi đã quyết định tu là phải dứt khoát, sắp đặt mọi việc xong xuôi rồi thì
mạnh dạn buông bỏ tất cả, chỉ một đường thẳng bước. Thật ra việc tu hành
không khó lắm, nhưng khó là do ta cứ lao theo rồi mắc bẫy vọng tưởng. Dừng
lại được dù chỉ trong phút giây, ta cũng có thể thấy được giá trị vô cùng
vô tận của tâm định tĩnh. Phút giây nào tĩnh lặng là phút giây đó ta sống
trong ánh sáng của trí tuệ. Phút giây nào xao lãng, lao theo vọng tưởng là
ta đánh mất sự sống của chính mình.
Nếu không có
cuộc đời, không có sự hiện diện của thân tâm này thì làm sao ta thăng hoa,
làm sao ta thấy được mặt trăng thật. Với người liễu đạt, người thấu hiểu
tánh tướng của các pháp rồi thì cuộc sống thật đáng yêu, thật giá trị. Cho
nên họ nguyện đem cả cuộc đời để cống hiến cho nhân loại mà không cần một
điều kiện nào. Đó là người biết sống. Sống như thế là sống đạo, sống
thiền, sống cho mình và cho người. Sống như vậy mới đáng sống.
Nếu khéo, ai
trong chúng ta cũng có thể hưởng được cuộc sống ấy. Trái lại không khéo,
chúng ta sẽ đánh mất nó trong nháy mắt. Tôi mong sao điều này không quá xa
vời đối với tất cả chúng ta. Chúc quý vị có được cuộc sống đầy đủ ý nghĩa
và giá trị nhất trên đời.
] |