|
SỰ THẬT LÀ VẬY
Tựa đề bài
giảng hôm nay Sự thật là vậy, để nói lên những lợi lạc của người tu. Một
khi chúng ta có công phu, khắc phục được những khuyết dở của mình thì sẽ
chuyển xấu thành tốt. Đó là một sự thật không thể nghi ngờ.
Thường trong
vấn đề tu hành chúng ta hay lo ngại, không biết mình nỗ lực như vậy có
đúng không. Thật ra vấn đề này cũng không khó lắm, bởi chỉ cần nhìn thấy
những thay đổi nơi mình, chúng ta có thể biết được việc tu tập đúng sai.
Sự thật là vậy.
Trước nhất
tôi nói đến vấn đề buông xả. Người hành thiền mà quá bận rộn, quá nhiều
công việc thì làm sao tâm định tỉnh được. Cho nên trước nhất đừng để bị
căng thẳng bởi công việc. Muốn vậy ta phải buông xả. Người căng thẳng
nhiều sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Ngay cả đối với công phu tu hành,
nếu căng thẳng quá cũng thành nguy hại, chứ không được lợi ích gì. Có kẻ
bảo tu thiền điên, đó là vì người tu quá căng, tu sai, chứ không phải tu
thiền điên. Nếu tu thiền điên thì Phật Tổ không thể nào giác ngộ giải
thoát được.
Vì vậy chúng
ta phải biết buông xả để giảm thiểu sự căng thẳng. Vừa thấy công phu căng
thì phải buông ngay, xả liền. Một khi buông được sự căng thẳng, chúng ta
sẽ thấy an lạc tức thì. Người Phật tử càng đi chùa, càng tu học, càng có
công phu thì phải càng thoải mái, tươi tắn, vui vẻ mới đúng. Chớ tu càng
lâu mà càng nhăn nhó, càng khó chịu thì ai mà dám đi chùa nữa. Tu như vậy
chẳng những bản thân mình không được lợi lạc mà còn làm hại cho Phật pháp
nữa. Người không tu nhìn vào sẽ mất niềm tin với những người tu Phật. Đó
là một lỗi lớn.
Trong hoàn
cảnh hôm nay, có rất nhiều việc phải đối đầu, nên dù muốn hay không chúng
ta vẫn ít nhiều vướng kẹt trong đó. Với những duyên ấy, nếu không khéo thì
việc tu của chúng ta chẳng đi tới đâu. Bởi ít khi nào mình chịu đặt vấn đề
cụ thể. Nghĩa là xem xét những gì không cần thiết trong sinh hoạt, trong
việc tu tập thì loại ra, bỏ đi. Đằng này thứ gì mình cũng muốn ôm giữ,
không chịu buông, nên rồi tụng kinh, ngồi thiền, trì chú, làm các việc
công đức v.v... nhưng chẳng có thứ nào giải quyết đem lại kết quả an lạc
cho chúng ta.
Tu hành
không có sự an lạc thì dễ thoái thất, dễ căng thẳng, trí lực không thể
phát sinh. Trí lực không có thì không thể đả thông được những nghiệp tập
phiền não tồn đọng trong tâm. Cho nên chúng sẽ tiếp tục sai sử, khiến cho
chúng ta càng rối rắm hơn, càng căng thẳng hơn. Vì thế nhà Phật chủ trương
phải phát huy và gìn giữ cho được trí lực của mình. Một khi trí lực vững
vàng thì chúng ta sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề.
Điểm thứ
hai, là trong cuộc sống chúng ta thường đối đầu với sự nghịch lý. Nó làm
cho mình khổ sở, điêu đứng không ít. Có câu: “Trăm điều mình muốn, chưa
được một đôi điều như ý”. Nghĩa là, một trăm điều chúng ta tính toán sắp
đặt, muốn được thành tựu tốt đẹp, thì họa hoằn lắm được năm ba điều tương
đối mà thôi. Luôn luôn xảy ra những nghịch lý không tính trước được. Thế
thì người hành thiền phải làm sao ? Chúng ta phải đủ nghị lực, phải định
tỉnh để giải quyết những chướng duyên này. Chỉ có định tỉnh và nghị lực
mới vượt qua được tất cả.
Người làm
chủ được mình, sống thanh thản, không thấy gì quan trọng, không rối trí
hay động lòng trước mọi việc thì quả là phi thường. Chúng ta cứ nghiệm
xem, có khi những chuyện bình thường mà mình phải mất thì giờ, đau đầu, tu
không được. Mở mắt ra là thấy ngổn ngang trăm thứ. Càng lớn càng có nhiều
liên hệ va chạm trong cuộc sống, nên càng gặp nhiều nghịch lý xảy ra. Chỉ
cần một lời nói sơ suất, một ý nghĩ, một quan niệm không thông suốt của
mình, là đã sanh sự đụng chạm rồi. Người có học đạo gặp những trường hợp
ấy biết cách hóa giải thì đỡ phiền não, còn người không hiểu đạo nhất định
là phải nhức đầu thôi. Vì vậy chúng ta phải biết buông xả để giảm thiểu sự
căng thẳng. Vừa thấy công phu căng thì phải buông ngay, xả liền. Một khi
buông được sự căng thẳng, chúng ta sẽ thấy an lạc tức thì.
Thế gian có
câu “Vạn sự khởi đầu nan”. Người tu hành cũng vậy. Khó khăn thử thách là
những yếu tố tất nhiên trong giai đoạn đầu. Quan trọng là làm sao mình đủ
năng lực, đủ sức để hóa giải chúng. Ta muốn vui nhưng lòng vẫn cứ buồn,
muốn sướng nhưng vẫn cứ khổ, muốn bình an nhưng vẫn bất an bất ổn… đó là
những nghịch lý. Bức xúc, phiền não, lo âu là hệ quả của những nghịch lý
ấy. Chiến thắng nghịch lý là chiến thắng được mình.
Ai cũng muốn
được thong thả, thoải mái, vui vẻ. Nhất là người tu luôn thích sự thanh
thản, yên tịnh, giải thoát, chứ có người tu nào muốn càng ngày càng phiền
não, càng bị trói buộc đâu ? Cho nên muốn giải tỏa được những thứ đó chúng
ta phải đủ niềm tin, đủ trí lực. Phương pháp hay nhất là hành thiền. Hành
thiền trong từng phút giây, luôn kiểm nghiệm lại mình, giải trừ nghiệp tập
cũ, không tạo thêm nghiệp tập mới. Một khi nghiệp tập của mình mòn mỏng,
tức ta làm chủ được, thì không có thứ gì bên ngoài tác động được mình nữa.
Điểm thứ ba,
người tu thiền phải gầy dựng cho được niềm tin đối với chính mình. Niềm
tin chính đáng nhất là tin mình có thể thành Phật. Thường người ta không
dám tin như thế. Họ chỉ nghĩ làm những việc ích lợi cho đời, đem niềm vui
đến cho mọi người, chứ không nghĩ có thể tu thành Phật. Chúng ta tu Phật
phải có niềm tin vững chắc rằng mình sẽ thành Phật. Nghĩa là, tất cả điên
đảo vọng tưởng dù khó trừ khó bỏ đến đâu, nhưng chắc chắn có ngày mình sẽ
khắc phục được, nhất định sẽ vượt qua bờ mê, đến bến giác được an nhiên,
tự tại giải thoát, tức là thành Phật.
Muốn vậy,
không thể tin suông được mà phải có công phu. Nhờ vào công phu tu học ta
càng vững niềm tin hơn. Điều này cũng giống như người lâu nay lầm vàng giả
là thật, sau nhờ tiếp cận nhiều, hiểu biết sâu nên nhận diện được vàng giả
vàng thật một cách chắc chắn, không còn nghi ngờ nữa. Tin chắc thật nghĩa
là không còn bị những thứ mơ màng che đậy, hoàn toàn làm chủ được trước
mọi thứ. Có được niềm tin như vậy rồi, thì trời lay đất chuyển gì cũng
không thay đổi được ta. Chỗ này người xưa nói: “Dù Phật có ra đời cũng
không làm gì được mình”. Mình chính là cái bản hữu, là tánh giác sẵn có
nơi mỗi người chúng ta.
Sáng được
việc mình rồi chúng ta càng có niềm tin vững chắc, càng phấn chấn trong
công phu tu hành. Dù cho gặp bao nhiêu trở ngại, khó khăn mình cũng tháo
gỡ bình ổn hết, không còn vấn đề gì có thể bức xúc được chúng ta. Chẳng
hạn, nghe nói thân này không thật, nhưng ai cũng sợ chết. Bởi niềm tin
chưa vững, chưa nhận chân được cái thật cái giả cho nên vẫn còn bị thân
này trói buộc. Nếu người niềm tin đã sâu, biết chắc thân này là đồ bỏ,
không ra gì, còn mất chẳng quan tâm thì sống chết là chuyện thường.
Người sống
được như vậy là đã bình an tự tại giải thoát rồi, còn bị thứ gì trói buộc
vây hãm nổi. Đó là nói về thân, tâm cũng vậy. Biết những vọng tưởng lăng
xăng không thật, không phải là tâm mình mà vẫn nuôi dưỡng nó hoài, thì có
khác gì nuôi giặc trong nhà. Đã nuôi giặc trong nhà thì quyết có ngày sẽ
tán gia bại sản thôi. Ngược lại, người tin chắc chắn những thứ nghĩ tưởng
lăng xăng kia là hư giả, không phải tâm mình, nhất định không theo không
nghe nó. Thử hỏi ai có thể nhiễu loạn được tâm ta ? Đó là mình đã làm chủ
được, đã khắc phục các thứ chướng ngại bên trong tâm cũng như bên ngoài
thân. Như vậy không phải Phật là gì?
Tóm lại
người tu phải vững niềm tin. Có niềm tin vững chắc thì công phu tu hành
mới tăng tiến. Hai điều này tương tác qua lại với nhau. Một khi công phu
tăng tiến rồi thì mình sẽ được an lạc. Người an lạc là người không bi
quan, luôn luôn hài lòng với thực tại. Nhờ thế mà cuộc sống hài hòa, bình
thản an nhiên với tất cả sự việc, tất cả mọi người. Niềm an lạc này mới
thật sự có giá trị. Còn các thứ vui bắt nguồn từ ăn ngon, mặc đẹp, chỉ là
sự an lạc bên ngoài, không phải phát xuất từ tâm thanh tịnh trong sáng của
mình thì không chắc thật.
Có được
nguồn an lạc rồi tức là thấy được lẽ thật của các pháp. Vạn pháp vô thường
và vô ngã. Vô thường vì nó thay đổi liên tục không dừng nghỉ. Tháng trước
hai hàm răng còn nguyên, nhưng tháng này thì rụng mất mấy cái rồi. Tóc
mình ngày xưa xanh mượt nhưng ngày nay đã lấm tấm muối tiêu. Các pháp là
như vậy. Người có công phu hành thiền rất bình thản với những sự thay đổi
biến dạng đó. Không có gì làm động tâm kẻ ấy, bởi tâm chính là cái bất
động thường hằng luôn sẵn có nơi họ rồi. Tin như vậy mới gọi là tin vững
vàng. Còn như chúng ta, một lời nói, một sự mất mát đã làm mình bức xúc,
đau khổ, chưa làm chủ được thì chưa gọi là có niềm tin. Thực sự một khi đã
thể nhận được các pháp không thực thì chúng ta sẽ được an toàn đối với các
pháp, không còn bị chúng lay chuyển nữa. Đó chính là sự lợi lạc thiết thực
nhất của việc nhận ra “sự thật là vậy”.
Thiền sư Vạn
Hạnh nói: “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, thịnh suy như thảo lộ đầu phô”.
Nghĩa là mặc cho thịnh suy mình không sợ hãi, vì những thịnh suy ấy chỉ là
những hạt sương vươn trên đầu ngọn cỏ, một khi mặt trời lên thì mọi thứ sẽ
tiêu đi. Các Thiền sư thấy sự đổi thay trong cuộc đời này nhanh chóng như
những hạt sương, khi ánh sáng mặt trời xuất hiện, chúng liền tan mất. Đó
là thấy được tận cùng thực thể của các pháp. Thành ra chúng ta cũng phải
nỗ lực thấy được như các Ngài, có thế việc làm chủ được mình không khó.
Làm chủ được
mình rồi, chúng ta sẽ có năng lực sử dụng được thân tâm và các pháp một
cách tự tại. Nhà Phật gọi là thần thông diệu dụng, dùng tất cả mà chẳng
kẹt tất cả. Có thể nói hành giả đến đây, tâm địa hoàn toàn bình ổn, không
còn gì phải lo lắng nữa. Vừa gặp việc liền buông, tâm luôn rỗng rang thì
làm gì sinh chuyện được.
Những bậc đã
có nội lực tu hành thâm hậu, công đức tu hành sâu dày thì chỉ cần hai chữ
“Thế à” như Thiền sư Hakuin là xong. Ngài vốn là một bậc Thầy nổi tiếng
đương thời. Nhưng không hiểu vì sao cô gái bên cạnh lại vu họa cho Ngài là
tác giả thai nhi trong bụng nàng. Cha mẹ cô ta đến sỉ vã Thiền sư hết lời
và sau khi đứa bé chào đời, họ đã đem đến quẳng vào tay Ngài. Thiền sư đỡ
lấy đứa bé với hai tiếng “Thế à”. Thời gian sau, cha mẹ cô gái đến xin lỗi
và xin nhận lại đứa bé vì đã tìm ra được cha nó. Ngài vui vẻ trao đứa bé
lại cũng với hai tiếng “Thế à”. Câu chuyện này nổi tiếng trong lịch sử
thiền gia Nhật Bản từ xưa đến nay vì hai chữ “Thế à” siêu thoát tự tại ấy.
Người hành thiền phải có tinh thần của bậc thượng sĩ liễu đạt như vậy mới
mong lướt trên sanh tử mà đi.
Một khi
chúng ta hóa giải được những cù cặn ẩn tàng trong tâm thức rồi thì sẽ phát
huy được cái năng lựïc vô song của mình. Trong đời sống hằng ngày, trong
mọi tiếp xúc tương giao nếu chúng ta hài hòa an lạc với mọi người là ta
đang hành thiền đúng. Như vậy chắc chắn trí lực của mình sẽ ngày càng
sáng. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Như gặp trường hợp lũ lụt, nước mỗi
ngày mỗi dâng, đói lạnh khổ sở không cơm không gạo ăn, mà nói đến việc bất
động thì quả là khó đó. Làm sao hòa vui, yên ổn được? Cho nên vấn đề này
đòi hỏi ta phải có công phu hành thiền lâu dài lắm mới được. Chính sự hành
thâm tạo nên nội lực giúp hành giả ứng xử trước mọi hoàn cảnh hợp tình hợp
lý và luôn bình thản với những sự kiện biến động chung quanh.
Chúng ta cần
biết rõ, người an ổn bất động với tất cả phải là người biết được mình.
Biết được mình như thế nào? Thứ nhất biết thân này như giẻ rách, thứ hai
biết mình có ông Phật bên trong tấm thân giẻ rách. Nếu thân này đã là
miếng giẻ rách thì người ta chưởi hay làm gì mình cũng mặc kệ, ta vẫn thản
nhiên. Còn ông Phật bên trong thì không lý gì đi gây gỗ oán hận với người
khác, không lý gì bị lụy, bị chết với những thứ giả dối tạm bợ. Biết rõ
được như vậy chắc chắn chúng ta sẽ hài hòa mà vẫn bất động với cuộc đời.
Mọi cái chung quanh không còn vấn đề gì nữa. Từ đó ta vững niềm tin giải
trừ tất cả những nghiệp tập cũ của mình, chóng thành tựu quả vị của bậc
giác ngộ.
Nên biết
niềm tin rất quan trọng đối với việc tu hành. Người vững niềm tin là người
đã nhận ra bản hữu của mình, chắc chắn ta sẽ thành Phật, chứ không thành
cái gì khác. Giả như có ai rủ rê tu trong vài tháng sẽ thành Phật, người
ấy không theo đã đành, mà ngay cả ý niệm về sự việc đó cũng không hề dính
dáng đến họ, vì họ thật sự đã vững niềm tin.
Người tu là
người có trí tuệ. Có trí tuệ mới không bị mê lầm các cảnh duyên bên ngoài.
Cho nên trí tuệ không thể thiếu đối với chúng ta. Người có công phu sâu
dày thì trí tuệ trùm khắp. Trí tuệ trùm khắp tức là tâm khai sáng, tâm đã
sáng thì có gì không biết, có gì lầm lẫn nữa.
Thiền sư Huệ
Tịch hỏi Sư phụ Qui Sơn: “Khi trăm ngàn muôn cảnh đồng thời đến thì sao ?”
Nghĩa là, khi trăm ngàn cảnh duyên đến, chúng ta phải làm sao để tự an ?
Câu hỏi này liên quan rất mật thiết với chúng ta. Tổ Qui Sơn trả lời:
“Xanh chẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn. Các pháp mỗi pháp ở địa
vị của nó, chẳng can hệ gì đến việc của ta”.
Xanh chẳng
phải là vàng, nghĩa là thứ nào ra thứ đó. Các giác quan của mình nhận biết
rõ ràng, không thể màu vàng mà thấy thành màu xanh hay cái ngắn mà thấy
thành cái dài. Pháp nào ở địa vị của pháp đó, phải nhìn đúng như thế. Nhìn
đúng mà không để nó làm rộn tâm mình, không để nó liên lụy đến công phu tu
hành của mình, không để nó ảnh hưởng đến niềm tin của mình. Ai giải quyết
được mọi sự việc như vậy, người này là người đã tự an được mình. Tuy khó,
nhưng đó mới là người hành thiền đúng đắn. Hành thiền như vậy thì con
đường Phật mới mong rộng mở. Sự đổi thay trong cuộc đời rất nhanh chóng,
cái già cái chết cứ xòng xộc trên đầu. Nếu chúng ta cứ buông lơi thì quả
là phiêu lưu trong dòng sanh tử, đau khổ không biết bao giờ ra khỏi.
Tóm lại,
trong công phu tu hành, chúng ta phải có an lạc và niềm tin vững mạnh thì
mới có thể thành tựu viên mãn mục đích giác ngộ giải thoát. Làm sao mỗi
phút giây đi qua là một sự chuyển đổi lớn trong cuộc đời của mình. Đó
chính là lợi lạc thiết thực nhất mà chỉ có kinh nghiệm tu tập mới đem đến
cho chúng ta. Sự thật là vậy. Chúc tất cả quý vị có được những bước tiến
trên đường đi tới giác ngộ giải thoát.
] |