|
NIỀM TIN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
Tinh thần của
đạo Phật là tinh thần tôn trọng sự giác ngộ của mỗi con người. Một Thiền
sư đã nói “Người nào phủ nhận sự giác ngộ nơi mỗi cá nhân, người ấy đã
giết chết một vị Phật tương lai”. Thế nên ai cản trở hay phá vỡ sự giác
ngộ ấy, xem như có tội “giết chết một vị Phật tương lai”.
Nếu chúng ta
không khéo điều hòa để việc tu học tăng tiến, hỗ trợ cho trí tuệ phát
triển, có thể ta sẽ vi phạm vào lỗi này. Đây là điều mà giới Phật tử nên
suy nghĩ. Suy nghĩ để làm gì? Để đừng phạm lỗi này. Muốn vậy người Phật tử
phải tu tập như thế nào, để không làm chết đi một vị Phật tương lai?
Câu nói trên
của Thiền sư nhằm gieo rắc một niềm tin cho người Phật tử. Niềm tin ấy là
mỗi người đều có trí tuệ, có khả năng thành Phật, đúng như lời Phật nói
“Tất cả chúng sinh sẽ thành Phật”. Tin như thế rồi, chúng ta mới cố gắng
tu tập, phát triển tánh Phật của mình, mới có thể thành Phật được. Phật
đây là Phật của chính mình, chứ không phải Phật nào khác. Qua câu nói này,
Phật tử chúng ta có đường hướng tu hành như thế nào để xứng đáng là một
người Phật tử, đừng phạm lỗi với Phật tổ và nhất là với ông Phật của mình.
Phật dạy tất
cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Câu nói này nghe thường, nhưng
nghiệm lại mấy người dám tin? Nói anh là Phật chị là Phật, không ai dám
nhận hết. Nếu không tin vào khả năng ấy thì việc tu hành, làm phước thành
ra vớ vẩn, không có tương lai. Chẳng lẽ chúng ta lại làm cái việc không có
tương lai, mất thì giờ vô ích như thế, phải không? Do đó trước nhất mỗi
người con Phật phải vững niềm tin rằng mình có khả năng thành Phật. Khả
năng ấy chính là sự sáng suốt, là trí tuệ sẵn có không bao giờ vắng thiếu
của mình. Tuy nhiên, những lúc ta chạy theo bà con lối xóm ở ngoài thì khả
năng ấy mất dạng. Cho nên quan trọng là mình phải biết cách nuôi dưỡng,
phát huy khả năng ấy.
Cách đó không
có gì lạ, chúng ta bớt đi những lăng xăng, đừng ngược xuôi theo dòng đời,
đừng chạy theo vọng tưởng điên đảo từ nhiều đời, thì sẽ sống thực với
chính mình thôi. Điều này chúng ta có thể làm được ngay trong đời này,
không quá khó khăn đâu. Mục đích giảng dạy, hướng dẫn của hầu hết chư vị
tiền bối, đều nhằm vào việc này, không có gì khác.
Trong kinh
Pháp Hoa có nhắc đến một vị Bồ-tát tên là Thường Bất Khinh. Ngài đi đâu,
gặp ai cũng kính lễ và nói: “Tôi không dám khinh các Ngài, vì các Ngài đều
sẽ thành Phật”, gieo rắc vào lòng mọi người một niềm tin rằng, mình có khả
năng thành Phật. Thế nhưng ngay thuở xa xưa đó cũng có người không dám
tin. Chẳng những không dám tin mà lại còn hủy báng, khinh khi Bồ tát nữa.
Do đó Ngài thường bị đánh mắng, đuổi đi, khinh thường. Song Bồ-tát vẫn một
mực hoan hỷ nói với mọi người điều ấy.
Chúng ta hiện
nay cũng biết mình có khả năng thành Phật, nhưng tin tưởng trọn vẹn thì
chưa dám. Đó là việc làm cho bản thân, gầy dựng lại sự nghiệp của mình,
tại sao ta lại không dám? Vốn liếng đã sẵn có nhưng lâu nay bỏ quên, bây
giờ chỉ nhận lại thôi. Cách nhận lại cũng dễ dàng, chỉ cần dừng lặng tất
cả những lăng xăng vọng động trong tâm, tự nhiên trí tuệ chân thật hiện
bày. Cho nên khi Bồ-tát Thường Bất Khinh Bồ tát nói câu đó rồi, những ai
nhận lại được đều cảm nhận và có niềm tin thật vững vàng.
Từ đó chúng ta
nghiệm trở lại cách thức tu hành của mình, tự đánh giá sự học hiểu và áp
dụng lời Phật tổ dạy ra sao, kết quả như thế nào, thì biết ta sống được
với chính mình được bao nhiêu. Từ trước đến giờ, không có cách nào giản
dị, ngắn gọn hơn cách tu trên, mà cổ đức thường gọi tu thiền là đi đường
chim. Nói đến thiền tức là chỉ thẳng cái đó, anh có cái đó, chị có cái đó,
mọi người đều có cái đó. Nhưng từ lâu bỏ quên, bây giờ nhận lại thôi, song
dám nhận hay không lại là một vấn đề. Chúng ta học Phật, là con Phật thì
phải dám nhận chứ, đừng nói là không dám nhận.
Nhận rồi mới
nói đến chuyện tu hành để phát huy cái đó. Quí vị tụng kinh cũng được,
niệm Phật cũng được, trì chú cũng được, làm tất cả việc lành đều để gầy
dựng tinh thần ấy, nghĩa là tin rằng mình sẽ thành Phật. Như vậy cũng
không khác gì tu thiền. Gương xưa, chư vị Bồ-tát, các vị tiền bối đã làm
như vậy, bây giờ chúng ta cũng sẽ như vậy. Các vị ngày xưa làm thành công
thì bây giờ nhất định chúng ta cũng thành công. Không lý gì ngày xưa làm
được, bây giờ ta làm y như vậy lại không thành công. Có thể nói sự hiểu
biết, khôn ngoan, kiến giải rộng rãi của người nay hơn người xưa, hiểu
biết tận cung trăng, khám phá mộc tinh, hỏa tinh, rồi dĩa bay… đủ thứ
chuyện hết. Như vậy chẳng lẽ không phát huy được khả năng mẫn tuệ hiểu
biết bên trong của mình.
Hướng tu hành
Phật dạy là chuyển nghiệp, dứt nghiệp, hoàn toàn sống với trí tuệ của
chính mình. Điều này mình còn yếu, biết như vậy để ta cố gắng phát huy,
làm sao đừng yếu nữa. Tinh thần gốc của đạo Phật là tự giác, sau đó mới
giác tha. Nói “tự” để tin rằng mình có khả năng phát huy được việc của
mình. Như đức Phật nếu không phát huy được trí tuệ này, nhất định Ngài
chẳng thành tựu được gì hết. Sau khi thu thập tất cả kiến thức trên đời,
Ngài buông hết để trở về phát huy cái của mình, thành tựu được sự giác ngộ
độc đáo nhất, hoàn bị nhất gọi là tự giác.
Chúng ta cứ
nấn ná, bám víu, dựa nương vào những cái bên ngoài, nên không phát huy
được cái của mình. Các thiền sư nói “của báu từ ngoài đem vào không phải
là của mình”. Tất cả cái bên ngoài nếu có giá trị thì cũng trong phạm vi
nào thôi, nó không có giá trị vĩnh cửu. Tốt nhất là ta nên phát huy cái
của mình, sử dụng đời đời không bao giờ hết.
Chư Phật, chư
Bồ-tát cũng bắt đầu từ một chúng sinh như chúng ta, từng có những ưu tư,
những khổ đau, chứ đâu phải sanh ra là đã giác ngộ toàn bích. Từng bước,
từng bước các Ngài nếm trải, vận dụng khả năng của mình thực hiện đạo lý,
cuối cùng mới giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Chúng ta hiện nay có được cơ
sở ấy là có đủ niềm tin để thực hiện điều đó, chứ không phải nói suông.
Nhưng muốn được an vui giải thoát, chúng ta cũng phải từng bước nếm trải
tự giác lấy mình như chư Phật, Bồ-tát.
Có câu “niềm
tin của thế nhơn đặt vào mình không bằng niềm tin của chính mình”. Ví dụ
có người nói với mình “thầy có tướng làm Hòa thượng, làm Phật”. Lời ấy chỉ
là cái thấy bên ngoài thôi còn làm Hòa thượng, làm Phật được hay không là
do nơi chính mình. Tu hành được thì thành Phật được, tu hành không được
thì thanh Phật không được. Rõ ràng như vậy. Hơn ai hết người Phật tử phải
tự tin nơi đạo lý của mình, đường lối tu hành của mình, sự thành tựu từ
công phu tu tập của mình. Tổ tông đi trước đã thành tựu như vậy, không lý
gì ta làm theo mà không kết quả.
Nhiều Phật tử
nói tu hoài không thấy thành Phật cũng nản. Làm phước hoài cũng bị người
ta chửi nên sanh chán. Từ những trường hợp này Phật tử đâm ra nghi ngờ,
không biết giáo lý của Phật có đảm bảo an ổn, giải thoát không? Những
trường hợp này chúng ta phải xét lại, xem việc làm của mình có đúng hay
chưa, hoặc xét lại từng tâm niệm xem có hoàn toàn sống với lời Phật dạy
hay đi ngược lại. Thêm nữa, nghiệp lực từ nhiều đời cũng ảnh hưởng đến
việc tu tập của mình trong hiện đời nhiều lắm. Tất cả những điều này luôn
luôn phải suy xét, để có được một nhận định chính xác. Khi áp dụng phương
pháp tu hành hằng ngày phải cho đúng thì kết quả mới tốt.
Luật nhân quả
không bao giờ sai chạy, chỉ vì mình chưa quán triệt hết nên có những suy
nghĩ sai lầm. Hiểu rõ như thế chúng ta tin chắc rằng làm lành, thì không
khi nào có kết quả xấu. Nếu ta gặp những nghịch cảnh là do nghiệp ác đời
trước chiêu cảm, bây giờ phải trả. Chấp nhận trả nghiệp cũng chính là một
cách chuyển nghiệp, làm cho thân tâm mình bớt khổ được vui. Con mắt tuệ
chưa mở thì ta thấy việc gì cũng không đúng không sáng, con mắt tuệ mở thì
ta thấy việc gì cũng rõ ràng, đúng luật của nó. Khi hiểu như vậy rồi, mình
dễ dàng sống được với niềm tin chân chánh, tin chắc vào khả năng giác ngộ
của mình.
Phật dạy muốn
thành Phật thì tham sân si phải bỏ, tất cả những đắm trước, vướng mắc phải
buông và mọi lăng xăng phải lặng. Nghĩa là định tuệ đầy đủ thì mới thành
Phật được. Điều này không thể cầu cạnh ở đâu hết, cho nên người Phật tử
nên vững tâm tu hành, nỗ lực phát huy trí tuệ của mình là phương hướng
đúng đắn nhất. Phải tập trung tâm lực vào một việc, đừng làm việc này lại
tơ tưởng việc khác. Mắt nhìn ở đây mà tâm để ở bên ngoài cửa sổ là hỏng
việc rồi. Bởi vậy kết quả không được thuần, không được hoàn bị là hợp lý
thôi.
Bây giờ người
tu, nhất là tu thiền theo phương pháp trực chỉ hãy vững niềm tin đi tới.
Ví dụ mình tu hai ba năm rồi mà chưa thấy gì, cũng vui vẻ tấn tới. Năm rồi
tu bảy mươi phần trăm, năm nay tám mươi, rồi tám mươi lăm chín mươi phần
trăm, nhất định có ngày cũng sẽ thành công. Chứ còn thấy bảy mươi phần
trăm rồi lìu xìu “thôi, đi chùa hoài coi bộ không khá, ở nhà tu cho khỏe”
là xem như đi đứt luôn. Thật ra chúng ta có tiến chứ không phải không,
nhưng vì mình tham quá muốn tiến một cái là thành Phật liền. Như vậy không
được.
Quý vị thử
nghiệm lại xem, trước khi đi chùa mình chưa biết gì hết, nên cứ tạo tội
làm ác, không thấy gượng tay. Bây giờ mỗi khi khởi niệm gì bậy hoặc nói lỡ
lời với ai, ta thấy bứt rứt khó chịu, sượng sùng lắm. Từ đó, mỗi khi nghĩ
điều gì, nói lời gì hay làm việc gì mình cũng suy nghĩ kỹ càng, xem nên
hay không, tốt hay xấu rồi mới làm. Đó là ta đã tu rồi, tu trên luật nhân
quả, biết làm lành lánh dữ. Với cái hướng ấy là thăng tiến chứ sao không
tiến được. Kết quả tu hành không thể căn cứ ngay bây giờ mà phải trải qua
thời gian, như người đi trong sương móc lâu ngày ướt áo vậy. Luật nhân quả
cũng thế, tương ứng dần dần theo thời gian. Vì vậy người tu Phật không nên
nôn nóng, còn nôn nóng là chưa biết tu Phật.
Chuyện xưa kể
về một nhà vua chọn người hiền tài giúp nước như thế này. Một hôm vua cho
làm ba con búp bê thật tuyệt mỹ, rồi mời tất cả thần dân trong nước tới
xem. Nhà vua ra lệnh ai tìm được điểm đặc biệt trong ba búp bê này sẽ được
trọng thưởng. Khắp kinh thành, không ai tìm được hết chỉ biết trầm trồ
khen ngợi búp bê của nhà vua tuyệt đẹp. Cuối cùng có một thư sinh áo rách,
lang thang không nhà cửa, nghe chuyện như thế mới xin đến xem. Vừa nhìn
qua anh liền thấy trong ba búp bê này đều có dùi lỗ nhỏ. Anh lấy một cọng
cỏ thọc vô đó xem thử. Qua thí nghiệm ấy, anh liền tâu cùng đức vua:
- Muôn tâu Bệ
hạ! Theo chỗ thấy của kẻ hèn này, đây là vật đặc biệt.
Vua hỏi:
- Đặc biệt chỗ
nào?
Anh thưa:
- Con búp bê
dùi lỗ có thể xuyên từ đây qua kia không dùng được, vì vừa đem vô bên đây
đã chạy ra bên kia. Con búp bê dùi lỗ xuyên cọng cỏ vô liền dội ngược ra
cũng không dùng được, vì nó ngăn ngại, không giải quyết được gì. Chỉ có
con búp bê dùi lỗ, cọng cỏ xuyên qua và rơi xuống dưới là dùng được, vì nó
thâm trầm biết lặng lòng để phát huy trí tuệ. Muôn tâu bệ hạ! Thần dân của
bệ hạ, nếu ai cũng được như vậy, nghe rồi suy nghĩ, suy nghĩ rồi rồi áp
dụng thì nước của bệ hạ hùng mạnh, thái bình. Vua nghe xong, liền ra lệnh
ban thưởng và trưng dụng chàng thư sinh này vào triều.
Trở lại vấn đề
tu hành, nếu không có cái nhìn sâu sắc, không có niềm tin vững chắc, chúng
ta nghe bên này lọt bên kia, hoặc nghe đây nói kia, thì chỉ chạy lăng xăng
bên ngoài thôi, sẽ không được gì cả. Chúng ta nghe rồi phải suy nghĩ, suy
nghĩ thấy đúng rồi áp dụng, như vậy mới có kết quả, có lợi ích thiết thực.
Phật tổ không bao giờ dối gạt người, nhưng chúng ta tu hoài mà không thành
Phật, đó là tại mình thôi. Phật chịu khó chịu khổ vô lượng vô biên kiếp
mới thành Phật. Công phu phải lâu dài, thấm vào tim vào tủy, vào máu huyết
của mình mới mong thành tựu được đạo quả Bồ-đề. Chúng ta lười trễ, biếng
nhác, niềm tin lại quá yếu làm sao thành tựu được giác ngộ giải thoát. Cho
nên cần phải như con búp bê thứ ba của nhà vua mới tìm lại kho báu của
mình được.
Từ chỗ này
chúng ta có chỗ nhận định, không nhất thiết phải học nhiều, bất cứ lời nói
nào trong giáo pháp của Phật, chúng ta đọc được phải suy xét, quán chiếu,
dùng trí tuệ của mình soi rọi vào đó để rồi áp dụng. Ví dụ như nghe nói tu
thiền điên, ta phải quán chiếu tại sao tu thiền điên? Người xưa tu thiền
thành Tổ, thành thiền sư, bây giờ mình tu thiền điên thì vô lý. Chỉ tại
người tu sai, tu không đúng mới điên, chứ nếu tu thiền đúng làm sao điên
được. Có được tinh thần đó quán chiếu đó ta sẽ vững niềm tin, không sợ gì
nữa hết, cứ vững tiến theo con đường mình đã lựa chọn. Đó là người Phật tử
chân chánh.
Khi hiểu được
Phật pháp chân chính và áp dụng trí tuệ quán chiếu rồi, chúng ta sẽ tiến
từng bước, dù chậm nhưng chắc, nhất định sẽ thành công. Có thể ngay trong
lúc đang thực hành ta đã từng bước thành công, không đợi đến xong việc.
Thanh tịnh giải thoát ấy không phải ở đâu mang tới, không phải của ai cho
mình, cũng không phải do hoàn cảnh ngẫu nhiên mà có. Bằng trí lực, đạo
hạnh, công phu tu hành quán chiếu, bằng tuệ giác của mình mà có. Phải ngay
trong cái vô thường mà nhận được cái chân thường, trở về phát huy cái bản
thể của mình.
Con người có
bệnh nếu không tiếc nuối quá khứ thì cũng ngóng về tương lai, còn hiện tại
lại mê mờ. Làm sao cả ba thời, ta không bị mất mình. Ngồi đây không phải
để ngóng về tương lai hay nuối tiếc quá khứ, ngồi đây để thấy rõ từng phút
giây ta đang thở, sự vật đang từng phút tuần hoàn, giao lưu với sự biến
chuyển của thân tâm này. Nếu ta luôn luôn sống thực như vậy thì đúng với
tinh thần thiền. Nhập thiền là nhập cái đó, được vậy lúc nào mình cũng
thiền, ở đâu cũng thiền. Còn trái lại, ta cứ mong ngóng tương lai, thân ở
đây mà tâm gởi chốn non Bồng nước Nhược, tơ tưởng một thân hình đẹp đẽ có
thể bước một bước từ đỉnh núi Bà Đen tới ngọn núi Sam núi Sập Châu Đốc,
nhảy một cái từ vịnh Hạ Long sang tới mũi Cà Mau. Sống trong tưởng tượng
như thế thì có ngày té gãy chân, mà không Bác sĩ nào chịu bó bột cho đâu.
Người tu phải đập chết những tơ tưởng ấy, mới sống được với phút giây hiện
tại.
Ta không nên
để đời mình trôi suông được, sống sao cho có giá trị, có lợi ích cho mình
cho người. Người tu phải đi như trâu nhìn như cọp. Trâu đi từng bước vững
chãi thật chắc, cọp nhìn thẳng nghiêm trang không láo liên qua lại, mỗi
lần muốn nhìn sang bên nào nó xoay mình qua đó nhìn thẳng, chứ không dáo
dác liếc ngang liếc dọc. Chúng ta đi đứng nói năng chưa vững chãi, chưa
ngay thẳng mà còn trạo cử là vì tâm ta chưa định, trí ta chưa sáng. Ta bị
cuộc sống với những thứ ngũ dục kéo lôi nên lúc nào cũng điệu cử, lăng
xăng. Sống như thế không thể nào có cuộc sống sâu sắc được, chỉ biết phơn
phớt bên ngoài thôi. Ví dụ như ta nhìn vật nào, quán chiếu chiêm nghiệm nó
chưa chắc đã hiểu hết, huống là liếc mắt qua mà có thể thấy được rõ ràng.
Cho nên người tu rất cần chiều sâu của một tâm tỉnh thức.
Tu Phật chủ
yếu là phát huy được sự tỉnh lặng nơi chính mình. Chữ “Tỉnh” là tỉnh táo,
chữ “Lặng” là lặng lẽ. Tỉnh táo trong lặng lẽ và ngược lại lặng lẽ trong
tỉnh táo, mới gọi là định tuệ đẳng trì. Bởi có tỉnh lặng ta mới thấy được
một cách thấu đáo bản thể của các pháp. Nếu thiếu tỉnh lặng thì cả cuộc
đời tu hành không thể phát huy được trí tuệ. Bởi những kiến thức do học
được từ thiện hữu tri thức chỉ là trí hữu lậu, chưa giải quyết nổi vấn đề
sanh tử, vấn đề then chốt của con người. Chỉ có trí tuệ lưu xuất từ bên
trong do công phu thiền định mới thấu triệt và giải quyết được tất cả mọi
vấn đề.
Chữ “Thức” có
nghĩa là phân biệt, nhớ hiểu phân biệt theo những tư tưởng, những trào lưu
văn hóa v.v… đều là cái ở bên ngoài. Chủ trương của đạo Phật không như
thế, chúng ta phải lặng hết vọng tưởng, định tỉnh thì trí tuệ mới phát
triển. Trí này mới thật là của mình, không do bên ngoài đến nên không bao
giờ mất. Nhưng đặc biệt nó chỉ xuất hiện khi nào tâm ta tỉnh lặng.
Cho nên tôi
nói quí vị đọc sách cũng được, tụng kinh cũng được, ngồi thiền cũng được
nhưng với điều kiện phải có sự tỉnh lặng. Chứ ngồi thiền mà lăng xăng thì
không kết quả. Tụng kinh mà nhớ nghĩ chuyện xưa chuyện nay cũng không
thành công. Hoặc niệm Phật mà cầu sanh về thế giới Cực Lạc mà nhớ Sài Gòn,
Hà Nội thì Phật không rước được. Như vậy yếu tố tĩnh lặng không thể thiếu
với người tu Phật.
Muốn tĩnh lặng
phải làm sao? Trước nhất là về thân. Chúng ta khi ngồi thiền hay niệm Phật
phải ngồi ngay ngắn yên lặng, không được dao động, nhúc nhích ngó tới ngó
lui. Kế đến phải tỉnh tâm, tức điều phục tâm, đừng để quá khứ hay tương
lai kéo lôi. Chánh niệm trong hiện tại, bình tĩnh sáng suốt trong lặng lẽ,
vừa nghĩ nhớ gì liền bỏ đi, đó là dụng công trong lúc tọa thiền. Khi ăn,
khi ngủ hay làm tất cả công việc cũng đều áp dụng tỉnh tâm như vậy. Không
nên đang ăn mà suy tính chuyện này chuyện nọ hoặc lúc ngủ cứ suy nghĩ miên
man việc năm trên năm dưới. Phải có một thái độ dứt khoát mới tỉnh tâm
được.
Trong hiện tại
luôn có sự tỉnh táo lặng lẽ, quán chiếu trong mọi việc làm, nhà thiền gọi
là người đâu trâu đó, làm việc nào biết việc ấy. Cho nên các Thiền sư
thường nói “Đói ăn khát uống” là vậy, không có chút niệm tạp xen vào.
Người đời đói mà không chịu ăn, chê khen ngon dở, khát mà không chịu uống,
đòi nước này nước nọ. Ngủ cũng thế, Thiền sư mệt thì ngủ trong khi người
thế gian lên giường là gác tay lên trán tính chuyện ngày mai, không chịu
ngủ. Nếu có ngủ cũng ngủ trong mơ mộng điên đảo, do đó không bao giờ sống
được với cái thực của chính mình.
Tinh thần tĩnh
lặng này Nam phương Phật giáo gọi đó Niết-bàn, tinh thần Bắc phương Phật
giáo gọi là “vô niệm vô trước”. Chúng ta nghiệm lại xem mình có được vô
niệm hay không? Nếu tâm còn lăng xăng, toan tính thì chưa vô niệm. Pháp
môn thiền là pháp môn đại giải thoát, ai cũng có thể thực hiện được trong
mọi hoàn cảnh và ngay bây giờ, chứ không đợi đến lúc nào hết. Bằng chứng
cụ thể là khi thiền được mở mang ở Trung Hoa, từ đầu cho tới cực thịnh là
đời Đường đời Tống, hầu hết các quan chức cao cấp đều hiểu và áp dụng
thiền vào cuộc sống hằng ngày. Có vị chứng đạt cả tâm tủy của thiền, ngang
hàng với các Thiền sư.
Tuy nhiên
nghiệp của chúng ta nhiều lắm, nên nói thì dễ nhưng thực hiện rất khó. Ví
dụ như ta nói phải tỉnh, mà sự thực mình không tỉnh, càng nói tỉnh chừng
nào lại càng mê chấp chừng ấy. Bởi không tỉnh nên bị lầm mê dẫn dắt. Muốn
chận đứng, chiến thắng được nó phải khéo dùng phương tiện. Vì vậy mới có
các hình thức tụng kinh, tọa thiềnv.v… cốt để tạo điều kiện thuận tiện cột
tâm lại, khiến nó bớt lao xao, chộn rộn, dần dần được tỉnh lặng.
Những phương
pháp tu thiền dù của Phật hay Tổ dạy cốt làm sao cho ta đừng lầm vọng
tưởng, đừng chạy theo vọng tưởng nữa. Đánh tan được con khỉ ý thức mới dứt
được gốc tham lam, sân hận, si mê của mình. Bởi đó chính là nhân dẫn chúng
ta đi trong trầm luân sanh tử. Dù ham muốn thế gian hay ham muốn được
thánh vị cũng phải bỏ hết, vì chúng đều là vọng tưởng. Như vậy để làm gì?
Để đừng giết chết thì giờ quí báu theo đuổi những cái bên ngoài. Bởi tánh
Phật đã sẵn có nơi mình rồi, ta chỉ cần nhận trở lại, chứ không mong cầu ở
đâu cả. Đó là những phương thức tạm thời giúp cho người yếu đuối phát
triển trí tuệ của mình.
Khi công phu
đã thuần thục, lúc nào chúng ta cũng định tỉnh sáng suốt. Làm việc gì cũng
thiền, tiếp khách cũng thiền, nấu cơm cũng thiền, đi chợ cũng thiền, chứ
không đợi ngồi thiền mới gọi là thiền. Sống trong tinh thần vô trước, trí
tuệ luôn hiện hữu là sống thiền. Chừng đó các phương tiện chỉ là phụ thôi,
không còn quan trọng nữa. Cho nên phải biết tụng Bát-nhã mà không sử dụng
trí Bát-nhã quán chiếu thì chẳng dính dáng gì đến Bát-nhã. Lạy Phật mà vẫn
cống cao ngã mạn thì có phá dẹp cây cờ ngã mạn được đâu, không chừng càng
lạy càng xây cao cây cờ ngã mạn thì nguy. Cho nên Phật tử phải ý thức tất
cả hình thức tu tập đều là phương tiện, nó chỉ có tác dụng và giá trị
trong một giới hạn nào thôi. Quan trọng là sự phát huy trí tuệ bên trong.
Khi tu cần
nhất là phải thấy đến chỗ tột cùng của mọi vấn đề. Ví dụ nghe người ta
chửi, mình muốn chửi lại. Nhưng bây giờ hiểu rõ ngôn ngữ không thật, tiếng
chửi kia không thật, người chửi không thật và ta đang nghe chửi đây cũng
không thật, thế thì cần gì phải chửi lại. Đó là nhờ trí tuệ thấy tận căn
gốc của vấn đề, do đó ta dừng tạo nghiệp. Dừng tạo nghiệp là cắt đứt nhân
đi trong luân hồi sanh tử. Phật lại dạy thêm, chẳng những ta không chửi
lại mà còn thương người đang chửi mình nữa. Vì sao? Vì họ si mê nên mới
sân hận như thế, chửi mình họ có sướng ích gì đâu, cũng khổ lắm chứ. Người
đang khổ thì ta thương, chứ sao nỡ giận được. Đó chính là trí tuệ và từ bi
trong đạo Phật.
Quán sát như
vậy thì việc tu không còn khó nữa. Nghiệm cho cùng chúng ta sẽ thấy, đối
với các pháp trên cuộc đời này, ta không phụ nó thì nó cũng phụ ta thôi.
Bởi bản chất nó là vô thường, còn mất đổi thay luôn luôn. Thế thì ta nên
khôn ngoan, sáng suốt để chuẩn bị tu cho kịp, còn đợi chừng nào nữa. Muốn
bỏ được những đam mê, ham muốn, đắm trước và phát huy sự tỉnh táo của
mình, đòi hỏi ta phải bình tĩnh sáng suốt, tức là ta phải có thiền định và
trí tuệ. Có thiền định và trí tuệ mới nhìn thấy thực tướng các pháp. Thấy
đúng như thế ta sẽ an ổn, giải thoát. Người tu Phật làm sao thực hiện được
Niết Bàn ngay đây, chứ không mơ ước trong tương lai ở một thế giới nào cả.
Người ta chửi mình mà mình bình thường an ổn, đó là đã vào hiện tại lạc
trú Niết-bàn.
Thế giới chúng
ta đang ở đây là một thế giới đầy đủ thiện duyên cho người tu hành. Chư
Phật đều thị hiện vào trong này, cũng vì thế, chúng sanh có khổ có vui mới
dễ thức tỉnh họ. Sống trong nghịch cảnh mà vẫn an ổn vui tươi mới trưởng
dưỡng đạo tâm kiên cố, vì vậy các vị Bồ-tát thường hay phát nguyện vào cõi
đời ô trược độ sanh để viên thành Phật quả. Thân này là mộng, cõi này là
mộng, người mộng, mình mộng, tất cả đều là mộng. Mộng với mộng, huyễn hóa
với huyễn hóa, thôi thì ai chửi cũng được, khen cũng được, nghe rồi đi là
xong, bận lòng làm chi với các thứ giả dối. Có được những nhận thức chín
chắn như vậy là thấy được vấn đề để tu hành.
Nên nhớ mọi
ham muốn đều là tai họa, tìm cầu đã khổ, được nó cũng khổ. Được nhiều khổ
nhiều, như lửa gặp củi, càng nhiều càng cháy mạnh. Khó khăn nhất của chúng
sinh là lòng ham muốn, chúng ta tu phải quán chiếu phá tan cái này. Kinh A
Hàm ví dụ ham muốn như cục thịt thối, bầy quạ giành nhau. Bây giờ, như ta
thấy một người đẹp, lúc nào ta cũng mơ tưởng về người đó mà Phật dạy phải
nhìn họ như ví dụ trong kinh A Hàm thì khó rồi. Nói chuyện không hay còn
sợ họ buồn, khổ vậy nên rồi ham muốn cứ tăng trưởng ham muốn. Nếu mình có
cái nhìn như thực thì tu hành dễ dàng, không khó khăn gì.
Trong kinh nói
“Người bị câu thúc bởi những ham muốn như con thiêu thân nhảy vào lửa, như
cá nuốt câu, như nai theo tiếng, như khát mà uống nước muối”. Đây là nói
tai họa của người không dừng được lòng ham muốn. Ham muốn như lửa, như cá
nuốt câu, như nai khát nước mà chạy theo bóng nắng ngoài sa mạc, chạy đến
ngã gục cũng không bao giờ có nước. Đối với ham muốn nếu chúng ta không
dừng được, quá khứ hiện tại vị lai cứ tơ tưởng hoài thì sẽ bị khổ, không
bao giờ được yên. Người Phật tử phải có niềm tin vững chắc nơi Phật lý để
áp dụng vào cuộc sống của mình, mới mong đủ lực thắng lại tất cả những ham
muốn thuộc về thân tâm này.
Từ thân tâm
này mà tu, soi rọi lại mình nếu thấy còn những khuyết điểm thì tu sửa. Ví
dụ mình vừa sắp đặt chương trình đúng tám giờ ngồi thiền, gần tới giờ bỗng
có khách. Thế là ta đổ thừa, hôm nay có khách, thôi mai tu cũng được. Như
vậy là mình yếu đuối, cứ hẹn lần hẹn lựa như thế hoài sẽ không tu hành gì
được hết. Bây giờ phải dứt khoát, tới giờ tu là tu, mọi chuyện gác qua một
bên, tu xong mới giải quyết. Được vậy mới hy vọng chiến thắng được những
chướng duyên, những khuyết tật của mình. Cho nên người tu phải có lực,
quyết định làm việc gì thì phải làm chủ tình hình, không bị động, không
chờ hẹn gì hết, tự mình quyết định như vậy.
Dĩ nhiên trong
khi tu chúng ta gặp nhiều chướng duyên, nhưng nếu quyết tâm thì không có
chướng nào mà mình không vượt qua được. Chỉ trừ người yếu đuối, mê ngủ,
nhắm con mắt lại thì không vượt qua được. Chứ còn dù cho núi cao, sông
rộng cách mấy, một khi chí đã quyết thì ta đều có thể vượt qua tất cả. Đã
nói học đạo, đã nói tu thì nhất định phải thực hành đúng như lời Phật dạy.
Cho nên người tu phải như vách đá, kiên cố vững chắc gió cuốn chẳng lay.
Lời tán dương hay hủy báng không làm chao gợn đôi mày, đó mới đúng là con
đấng Pháp vương.
Thật ra việc
tu không khó nhưng đòi hỏi chúng ta phải có ý chí, có quyết tâm thì nhất
định sẽ thành công. Nghiệp chướng tuy nhiều nhưng ta có thể chuyển đổi
được. Vì vậy đối với tham lam, sân hận, si mê, ta biết rõ nó không thật
thì không bị nó lôi đi, không tạo nghiệp. Đó là dứt nghiệp, chuyển nghiệp.
Cho nên biết tu và quyết tâm tu thì không khó. Khó tại chỗ không quyết
tâm thôi. Thành thử quan trọng là mỗi người phải nuôi được ý chí của mình,
thấy được lẽ thực các pháp. Cứ thế từng bước ta áp dụng sao cho mỗi ngày
qua, mỗi thời khắc mình làm chủ và nếm được pháp vị, sống được với chính
mình, thực hiện Niết-bàn ngay trong hiện đời. Tu như vậy không bao giờ ta
dừng bước thoái lui, cũng không để mất chút thời gian nào, vì đối với các
sự kiện chung quanh lúc nào mình cũng tu, chắc chắn ta sẽ đạt được sự an
ổn.
Buổi nói
chuyện hôm nay, mục đích chúng tôi nhắc lại lời Phật dạy Tất cả chúng sanh
đều là sẽ thành Phật, để củng cố niềm tin nơi mỗi chúng ta. Lời nhắc nhở
của các thiền sư là mỗi ngươi đều có trí tuệ chân thật, ai làm cản trở,
hủy diệt trí tuệ ấy, tức người đó đã giết một vị Phật tương lai. Biết thế
rồi chúng ta nỗ lực phát huy trí tuệ của mình. Ban đầu dùng phương tiện
qua các hình thức tu tập giúp cho ta thành tựu được việc chính của mình.
Nhưng nên nhớ cũng không được kẹt dính nơi phương tiện thì công phu mới
viên mãn. Tất cả chúng ta cố gắng làm sao thực hiện viên mãn bản nguyện
của mình là tu đến thành Phật mới thôi. Tin chắc như vậy là chánh tín, là
người có trí tuệ.
Để thay lời
kết, tôi xin mượn câu nói của Bồ-tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa
gởi gấm đến toàn thể quý vị: “Tôi không dám khinh quý Ngài, vì quý Ngài
đều sẽ thành Phật”. |