|
TÂM VÀ THỨC
Vấn đề hôm nay
chúng ta cần tìm hiểu là Tâm và Thức. Đây là vấn đề rất nhiều người lầm
lẫn, cho rằng mình sống với tâm, nhưng thật ra lại sống với vọng thức. Đã
sống với vọng thức rồi thì khó thoát khỏi khổ đau, luân hồi sinh tử. Cho
nên Phật tử chúng ta phải nhận định thật chính xác về tâm và thức để sự tu
hành có kết quả tốt đẹp.
Trong kinh
Phật giải thích tâm là cái tràn đầy trong sạch, không chứa vật gì khác nên
cũng gọi rỗng suốt, sáng soi như hạt châu quý, như vầng trăng sáng. Như
vậy nếu chúng ta nói làm hoặc nghĩ điều gì không bằng sự sáng suốt, tỉnh
lặng, thì đó không phải là tâm. Tuyệt đối không được nhầm lẫn nói tâm tôi
như vậy, tâm mình không có tào lao như thế. Phật nói tâm Phật tâm chúng
sanh không khác. Nên biết những suy tư nghĩ tưởng không phải là tâm mình.
Tại sao tâm
Phật, tâm chúng ta không khác mà đức Phật sống an vui giải thoát, còn mình
luân hồi sinh tử, trôi giạt mãi như vầy. Đó là vì chúng ta chưa nhận được
tâm, chưa sống được với tâm thật của mình. Chúng ta không hoàn toàn trong
sáng, không lặng lẽ như như, không chiếu soi được cái gì hết, nên trong
lòng còn quá nhiều vẩn đục. Đã chưa được như vậy nên ta không tương ưng
gần gũi với Phật. Khi nhận mình là Phật tử thì ít ra ta phải sống được với
tâm thật chút chút chứ. Bởi Phật đã sống như vậy, mình là đệ tử chân chính
của Ngài cũng phải sống như thế. Có thế mới tương ưng, mới xứng đáng là
Phật tử. Đó là điều mà Phật tử chúng ta cần lưu ý.
Chúng ta không
thể lầm lẫn giữa tâm và thức được. Bởi tâm luôn thanh tịnh trong sáng, tâm
thường hằng không sanh diệt, còn thức là vọng tưởng vô thường, luôn biến
đổi, khi tốt khi xấu. Nếu lầm nhận thức là tâm thì nguy to. Một cái sanh
tử, một cái không sanh tử, không thể là một được. Người tu Phật làm gì
không phải bằng tâm rỗng rang sáng suốt thì phải loại ra, đó là cách giữ
giới thanh tịnh nhất. Hòa thượng thường dạy: Cái nào không phải thứ thật
thì loại bỏ đi, như vậy mới an ổn được.
Như trong kinh
Phật đã dạy, tâm là cái gì tràn đầy trong sáng, không có tì vết. Tâm như
hạt châu quý báu luôn soi sáng, khác xa với thức. Thức là gì? Thường
thường các học giả nói tâm thức, tức bao gồm cả tâm và thức. Thức tức là
phân biệt, vọng động, do học hiểu ghi nhớ hay từ những tư tưởng phát sinh,
tập thành kiến thức của chúng ta. Nhiều người đã lầm nhận kiến thức này là
tâm mình. Thưa quí vị, không phải thế.
Ví như tôi
nhìn cây quạt máy đang hoạt động, nếu nhìn bằng thức, tôi sẽ phân biệt cây
quạt này đời 90 hay 92, giống loại quạt bên Tây hay bên Mỹ, nó bền chắc
hay không, làm bằng chất liệu gì… Tất cả các loại suy luận như vậy là
thức, chứ không phải tâm. Còn tâm là sao? Biết đúng như thật, giản dị lắm.
Cái quạt là cái quạt, chỉ thế thôi. Nếu có phân biệt thì cũng đúng theo
pháp duyên sinh mà nhìn bằng cặp mắt Bát-nhã. Cái quạt này do các bộ phận
hợp lại mà thành, nó không thật, tạm có theo duyên thôi.
Ai thấy mọi
pháp trên thế gian này như vậy, người đó sống được với tâm. Còn trái lại
là sống bằng thức, tức là bằng phân biệt, vọng động. Do nhớ nghĩ học hiểu,
hoặc tham cứu mà biết, tất cả đều là thức. Như vậy giữa thức và tâm rõ
ràng không giống nhau. Nếu chúng ta nhìn sự vật trên cuộc đời này bằng tâm
thì ta sống bình thản, an vui. Ngược lại, nếu nhìn bằng thức thì mọi
chuyện sẽ phát sinh. Nào là có người già, người trẻ, người nam người nữ,
người dễ thương dễ ghét v.v… theo đó mà thị phi, mà tạo nghiệp đi trong
luân hồi sanh tử. Nhưng trên tâm mà nhìn thì tất cả đều là những vị Phật
sẽ thành. Nhìn như thế nên không có quan niệm, không có vấn đề, không có
già trẻ, nam nữ, đẹp xấu gì cả. Thế nên không có thương ghét, không có tạo
nghiệp. Do đó không có luân hồi sanh tử.
Cái khổ của
chúng sanh là do tạo nghiệp. Bởi tạo nghiệp nên phải trả nghiệp, giống như
vay nợ vậy, có vay thì có trả. Trả rồi lại vay nữa, cứ thế mà từ đời này
sang đời khác vay trả, trả vay không có ngày cùng. Tại sao cứ vay trả hoài
như thế? Bởi vì khi trả mình không sáng suốt, hồi vay không biết bao nhiêu
nhưng lúc trả cứ cằn nhằn, tệ hơn nữa là nổi sùng lên la mắng lại chủ nợ.
Thế nên chẳng những chưa trả hết nợ cũ mà còn vay thêm nợ mới nữa. Đây gọi
là oan oan tương báo.
Khi trả nợ
nổi sùng lên, tức là sống bằng vọng thức. Cho nên Phật nói vòng luân hồi
tiếp tục mãi không bao giờ dừng dứt được. Nên người ta thường quan niệm
luân hồi như một vòng tròn. Ví dụ có những con vật ngày xưa do nợ nần thế
nào đó, bây giờ nó phải vào nhà mình làm heo chó, trâu bò để trả lại nợ
trước. Nếu ta thương nó đối xử tốt, sau này hết nợ lại gặp nhau làm con
cái hay anh chị em. Hoặc ta đối xử xấu với nó, đánh đập đày ải nó, thế là
ta nợ lại nó. Sau này hết phước mình sanh trở lại làm con vật trong nhà
nó, nó hết nợ trở lại làm chủ mình. Cái vòng trả vay cứ lẩn quẩn như thế,
nên thường được tượng trưng như một vòng tròn.
Trong nhà Phật
dạy lấy từ bi mà hóa giải hận thù thì hận thù mới hết. Chứ đem hận thù trả
hận thù thì oán oán chất chồng, không thể nào trả hết được. Muốn đem từ bi
hóa giải hận thù thì phải sống được với tâm, không có cách nào khác hơn.
Nếu tâm không rỗng sáng, không thanh tịnh, lặng lẽ sáng soi thì khó mà từ
bi lắm. Thấy có người chửi mình thì làm sao từ bi được. Cho nên còn vật
lộn trong thế gian thì khó tu lắm. Phải mở được con mắt tuệ, sống được với
tâm mình, mới mong hóa giải được hận thù.
Tâm tôi đã
giới thiệu rồi, sống được với cái rỗng rang sáng suốt, đừng để vướng mắc
cảnh duyên hình thức bên ngoài. Ví dụ có bạn bè rủ rê uống ruợu, mình từ
chối dứt khoát, hôm nay tôi đã thọ giới nguyện không uống ruợu, xin anh em
thông cảm cho. Ai buồn giận cũng không sợ, phải mạnh dạn, dứt khoát như
vậy mới không bị cảnh duyên kéo lôi. Rủ lần đầu không được, thì những lần
sau ta sẽ thoát, tự nhiên chấm dứt được nghiệp xấu.
Chỗ khó khăn
nhất trong khi tu tập là “dừng” được nghiệp. Vừa dấy nghĩ việc bất thiện,
ta biết đó là xấu, gây tạo nhân khổ sẽ chuốt quả khổ nên không làm. Đó
dừng được nghiệp, phải là người sáng suốt, bản lĩnh mới làm được như vậy.
Ta phải tỉnh mới dừng lại được, còn mê thì thua cuộc, chạy theo nó luôn.
Có tỉnh mới biết sự việc ấy không đúng. Cho nên việc tu hành phải được
thực hiện ngay nơi tâm mình, đúng như người xưa nói tu tâm dưỡng tánh.
Chạy theo hình
thức bên ngoài thì tạo nghiệp không cùng. Bởi hình thức có trăm ngàn muôn
ức cái khác nhau. Như cả trăm vị trước mặt tôi không ai giống ai. Một trăm
người, một trăm gương mặt, một trăm ánh mắt, một trăm mái đầu, một trăm
dáng đi, không có cái nào giống cái nào hết, kể cả anh em ruột thịt trong
nhà cũng không giống nhau, chỉ hao hao là cùng.
Tâm vọng tưởng
lại càng khác hơn nữa. Mỗi người mỗi suy nghĩ, hay đúng hơn một người đã
có nhiều suy nghĩ, mà đôi khi những suy nghĩ của họ cũng mâu thuẫn, trái
ngược nhau. Đây mới thấy rõ suy nghĩ không phải là tâm mình. Đã biết vô
vàn những sai biệt như vậy mà chúng ta không tỉnh, cứ trên những sự sai
biệt đó mà tạo nghiệp. Có nhiều người vô lý lắm, ví dụ như nói người ta
nhìn là phát bực rồi, không ai chọc giận mà vẫn phát bực như thường - vô
lý không ? Bởi họ đang sống với cái thức lẫy lừng bên trong, nào là phải
quấy, tốt xấu, thương ghét v.v… nên nhìn ai cũng thành xấu cả.
Người Phật tử
khéo tu nhớ vận dụng tâm rỗng rang sáng suốt thì các thứ bực bội sẽ hết
thôi. Vận dụng thế nào? Phật nói tất cả chúng sanh đều là Phật, vậy ai dám
chê Phật? Ta ngán địa ngục thì đừng chê Phật, vô trong đó rồi khó ra lắm.
Nếu nhìn tất cả mọi người đều là Phật hết thì tự nhiên vui vẻ bình thường,
không phải nói gì hết. Như vậy giữa thức và tâm chúng ta đã nhận định được
rõ ràng, từ đó mình có cách thức tu hành, luôn sống với tâm tỉnh giác,
không chạy theo thức phân biệt hư ngụy nữa.
Trong kinh
Phật nói ai sống được với tâm thanh tịnh, rỗng rang sáng suốt của mình,
người đó gọi là Phật, là Bồ-tát. Người đó giống như nga vương, tức ngỗng
chúa. Nga vương có một điểm đặc biệt là uống sữa chừa nước, những con
ngỗng khác không làm được. Nếu chúng ta sống được như Phật, Bồ-tát thì
những thứ tham sân si không thật, ta loại bỏ hết đi, như con nga vương
uống sữa chừa nước vậy. Phật dạy chúng ta phải sống như nga vương, nghĩa
là chỉ nhận cái thật của mình thôi, những gì giả thì vất bỏ hết.
Nói tới đây,
ta tự thương mình nhiều lắm. Vì sao? Phật nói mình sẵn có trí tuệ như
Phật, mà Phật an vui tự tại lâu rồi, còn chúng ta không hiểu sao vẫn đau
khổ hoài. Nhận lại tâm sẵn có của mình chớ đâu phải của ai mà không dễ
dàng? Cho nên Phật nói chúng sanh “thật đáng thương xót lắm vậy” là vì
thế. Bây giờ muốn trở lại vị trí ban đầu của mình thì phải tu tâm dưỡng
tánh, chứ không cần hình thức nọ kia. Cái gì không thật bỏ đi, cái thật
thì sống. Chỉ vậy thôi.
Song chúng ta
cũng nên thận trọng, bởi vì nói như vậy nhưng nếu chưa sống, chưa thực
hiện được như vậy chúng ta phải dè dặt. Bởi vì giữa tâm và thức rất khó
phân định. Không khéo chúng ta sẽ vướng phải sai lầm, trong nhà Phật gọi
là tăng thượng mạn, tức chưa chứng mà cho đã chứng, thì càng chướng đạo
hơn nữa.
Trong kinh có
ghi lại câu chuyện thế này. Một thầy Tỳ-kheo nọ thường hay ngủ ngày, nhóm
đệ tử nhỏ thắc mắc tại sao thầy lại ngủ ngày? Thầy đáp ta ngủ ngày mới có
thể gặp những người bạn ở cõi trời, trao đổi kinh nghiệm tu tập để đem về
dạy các ông. Mấy đệ tử nhỏ nghe vậy nắm được cơ hội, liền rủ nhau ngủ hết
giữa ban ngày. Ông thầy xuống hỏi tại sao giờ này còn ngủ? Thưa “tụi con
cũng ngủ trưa như thầy, để tìm gặp bạn thầy trên trời hỏi đạo?” Ông thầy
cũng vui, hỏi đệ tử “vậy có gặp được ông nào hay không?” Mấy đệ tử con
ranh mãnh thưa “tụi con không gặp ông nào hết và cũng không hề nghe nói
thầy lên đó gặp ai cả”. Thầy Tỳ-kheo ấy cười nói: “Mấy Hòa thượng con ơi,
đừng có xạo nữa, Thánh thần nào trên đó mà gặp”. Đồng thời cũng từ đó,
thầy không còn ngủ ngày nữa.
Câu chuyện cho
thấy rằng nếu chúng ta chưa sống được với tâm của mình thì phải dè dặt.
Bởi ý thức không chân thật thường dẫn dắt chúng ta đi vào những chỗ tăm
tối, ta tự dối mình hồi nào không hay. Làm sao đủ sự sáng suốt bình tĩnh,
để khi nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy được cái nào thực, cái nào giả
thì mới không bị chúng kéo lôi. Việc gì không phải từ tâm sáng suốt nhận
định thì đừng làm, nhất định là như vậy. Nếu khẳng định được thế thì mình
là con nga vương trong cuộc đời rồi.
Trong sự tu,
ta có thể biết mình thành công hay không bằng cách kiểm soát xem phiền não
trong tâm thay đổi thế nào. Người nào tu ngày càng hết phiền não, càng
buông được những ràng buộc, càng sống gần với chánh pháp thì biết người đó
đi đúng với đường lối của Phật tổ, người đó là Phật, Bồ-tát tương lai. Đạo
Phật chủ trương mọi người đều có Phật tánh như nhau, trí tuệ như nhau,
không luận già trẻ nam nữ, ai cũng có khả năng đó. Nhưng làm sao phát huy,
nhận lại và sống được với khả năng đó mới là điều đáng nói. Nếu không
chúng ta cứ mãi trôi lăn luân hồi sanh tử, thoát không được. Vì vậy mỗi
ngày qua, chúng ta luôn tự kiểm điểm lại mình, xem ngày hôm nay mình sống
với cái chân thật nhiều hay chạy theo vọng tưởng đảo điên nhiều. Kiểm như
thế sẽ biết việc tu của mình tiến hay không, có phát huy được trí tuệ hay
không. Theo đó mà chỉnh đốn việc tu sao cho thăng tiến.
Nếu hôm nào
người ta chửi mà mình nhịn được, buông được, tức ngày hôm đó ta sống gần
với Phật, Bồ-tát. Sống gần với Phật Bồ-tát, thì nhất định sẽ thành tựu
viên mãn Bồ-tát hạnh và thành Phật, điều đó chắc chắn không nghi ngờ gì
cả. Người tu Phật không còn sợ sệt mai kia mình bị quỷ sứ tới kéo cổ lôi
đi. Nếu chúng ta không gây nhân xấu ác, thì ai kéo mình được. Chỉ khi nào
ta gây tạo nợ nần thì bị kéo lôi là chuyện dĩ nhiên thôi. Cho nên đừng gây
tạo nghiệp, đừng mất tự chủ, thì sống vững tâm.
Hồi xưa mỗi
chiều các Thiền sư thường đốt một cây hương, ngồi thiền xong thấy cây
hương tàn, các Ngài kiểm lại việc tu trong ngày hôm ấy, nếu không thấy
tiến thì xót xa và thương cảm cho mình đến rơi nước mắt. Vì sao rơi nước
mắt? Vì mỗi ngày qua mỗi ngày qua, thân này già nua, bệnh tật ốm yếu, mà
nghiệp tập không giảm, điều này thật đáng sợ. Bởi như vậy biết chừng nào
mà trả hay hóa giải cho hết những nghiệp tập của mình. Đạo Phật chủ trương
người tu phải hoá giải hết nghiệp tập của mình, mới giải thoát thanh tịnh
được. Nếu không giải quyết được nghiệp, khi thân này bại hoại, nhất định
sẽ bị nghiệp lôi vào chỗ tối tăm.
Cho nên Phật
tử làm sao tu mỗi ngày mỗi tiến, chứ đừng để tình trạng tu mỗi ngày mỗi
lui sụt. Một bước tu của chúng ta là chắc một bước, dù chậm nhưng phải
chắc. Thà không tu, chớ đừng tu sai, vì khi tu sai sửa lại rất khó. Nên
nhớ tâm thể rỗng rang sáng suốt chính là đạo, không phải cái gì khác, đừng
tìm cầu bên ngoài. Phải chuyển nghiệp, dứt nghiệp thì mới nhận ra tâm thể
chân thật, không có con đường nào khác hơn. Đó là chủ yếu của việc tu
hành.
Dù Phật tử
chưa ăn chay được nhưng mỗi ngày dừng bớt tham sân si của mình tức là tu
đúng rồi. Ăn chay ăn mặn gì cũng tu được hết, đừng cố chấp rồi mặc cảm
mình không tu được. Tuy nhiên người ăn chay là người có điều kiện phát
triển lòng từ. Bởi Phật dạy mỗi chúng sanh đều có trí tuệ, nhưng do mê lầm
nên tạo nghiệp, phải mang lớp thú, thật sự chúng cũng đau khổ cũng sợ chết
như con người. Do đó ta thương chúng, nghĩ tới nỗi sợ hãi của chúng mà
không giết hại sinh mạng, làm thức ăn nuôi dưỡng thân mình. Hơn nữa ăn
chay lại rất thích hợp với cấu tạo sinh học của loài người, nếu ăn chay
được thì tốt hơn ăn mặn.
Song nên nhớ
ăn chay không phải là mục đích chánh trong việc tu hành, chánh là dẹp bỏ
tham sân si, phát triển trí tuệ sáng suốt như thật của mình, đó là gốc.
Những hình thức kia làm được chừng nào tốt chừng nấy, chớ không quan
trọng. Thật ra hoàn cảnh càng khó khăn chừng nào thì sự tu càng có giá trị
chừng ấy. Ví dụ ông đi chùa mà bà cản, hoặc bà đi chùa ông cự nự mà các vị
đó tu được, cảm hóa được người trong gia đình, như vậy mới hay chứ! Đã
nhiều Phật tử thực hành như vậy, họ tiến tu trong một hoàn cảnh rất khó
khăn, cho nên đạo tâm của họ rất vững.
Như Hòa thượng
giảng, băng của Ngài được rất nhiều người nghe, nghe đến nỗi xúc động mà
khóc. Họ về lạy thầy, đảnh lễ như một bậc ân sư. Nhưng cũng có nhiều người
đâu chịu nghe. Duyên chưa tới mà ta đem cái không thuận thì không khớp
nhau được. Chỉ khi nào thuận duyên người ta tự nhiên phát tâm tu, ta không
cần ép buộc. Khi tu hành có lực rồi, mình làm chủ cuộc sống với tâm bình
thản, an nhiên, bấy giờ các dụng sẽ phát huy cụ thể. Ta có sức cảm hóa đối
với mọi người trong nhà cũng như ảnh hưởng đến cả xóm giềng chung quanh.
Đó là kết quả tất yếu của việc tu hành chân chánh.
Tôi nhớ câu
chuyện thế này. Trong ngôi chùa nọ, vị thầy có nhiều đệ tử lắm. Trong số
đó, một đứa mắc nghiệp thấy tiền bạc là lấy. Chuyện bị bắt quả tang nhiều
lần và đưa lên Sư phụ giải quyết. Ông thầy cứ nín thinh, thấy vậy số đệ tử
lớn bất mãn định rủ nhau bỏ chùa đi. Hay tin này, Sư phụ kêu tất cả đến,
bảo:
- Mấy thầy
được diễm phúc khôn ngoan, biết được việc sai trái không làm, biết giữ
giới. Còn chú nhỏ kia ngu mê quá, không thấy được sự nguy hiểm, tai họa
của việc làm xấu ác nên đã phạm giới. Hơn nữa nếu tôi đuổi chú, chú sẽ
không biết đi đâu và nếu có đi, chú càng lún sâu hơn vào tội lỗi. Vậy quí
thầy ra đi, tôi rất yên tâm, còn chú nhỏ kia cần phải ở lại để tôi cảm
hóa.
Nghe thế tăng
chúng mới vỡ lẽ, tất cả đều cảm động rơi lệ rồi im lặng rút lui. Và từ đó,
không còn ai bị mất tiền nữa.
Rõ ràng một
bậc đầy đủ đạo hạnh, đạo lực rồi thì có thể hóa giải mọi chuyện một cách
sáng suốt và dễ dàng, chớ không rắc rối như chúng ta. Trong cuộc đời này
chuyện trên xảy ra biết bao nhiêu. Như một gia đình khoảng năm mười đứa
con, trong số đó cũng hai ba anh chàng quậy dữ. Đưa xe cúp đi một vòng là
bán quách, về nhà thấy quạt máy xách bán luôn. Chơi năm ngày mười ngày hết
tiền, về lục lọi coi cái gì bán được lấy bán nữa. Gặp trường hợp như vậy,
cha mẹ phải giáo hóa bằng cách nào? Điều này thật là khó.
Ở đây chúng
tôi muốn nói bằng tinh thần đạo Phật, muốn giáo hóa được con cái như thế
phải là người sống được với tâm an định, hoàn toàn thanh tĩnh để nhìn con
của mình. Cho dù mười hoặc mười lăm người con của mình, cũng nhìn nó là
những chúng sinh. Nếu nói về nghiệp tập thì đầy dẫy hết, nói về mặt sáng
suốt thì nó cũng có trí tuệ đức tướng Như Lai, còn nói về mặt quan hệ thì
tất cả đều là con cái của mình hết, không phải thằng quậy không là con
mình, thằng không quậy mới là con mình. Nếu nhìn được như vậy thì sắp đặt
được việc trong gia đình. Cha mẹ hết lòng giáo hóa, nhưng được hay không
còn do nghiệp tập riêng của nó nữa. Chuẩn bị tinh thần như vậy mới không
đau khổ.
Có nhiều Phật
tử mới đi chùa, nghe pháp nhưng về nhà áp dụng được, mỗi ngày vị ấy kiểm
soát thân tâm mình, không tạo tác những nhân bất thiện, vị ấy thấy rõ lợi
ích thiết thực của việc tu Phật. Ta chỉ cần nhớ việc làm nào chưa phải từ
tâm thanh tịnh sáng suốt rỗng rang thì bỏ đi, tức là sống đúng tinh thần
Phật dạy. Mình là Phật, là Bồ-tát, chúng ta hãnh diện như vậy, đừng sợ gì
hết, không phải khó khăn lắm đâu. Chỉ bỏ được tham sân phiền não tức thì
thành tựu Phật chủng chứ gì. Còn thành tựu viên mãn đạo quả Bồ-đề thì phải
trải qua công phu lợi tha nữa.
Những vị đi
trước chúng ta tu được thì cớ gì chúng ta không tu được, chỉ ta không chịu
tu, không dám nhận nguồn gốc trưởng giả của mình thôi. Tuy nhiên trong quá
trình công phu, phải trải qua rất nhiều chướng duyên do nghiệp lực ngăn
trở, chúng ta dè dặt thận trọng lắm mới thoát khỏi lưới phiền não, đạt
được chỗ cứu kính viên mãn.
Tôi nhớ một
Thiền sư nổi tiếng Nhật Bản, Ngài đã chứng đến chỗ tột cùng và rất uyên
thâm giáo pháp. Danh đồn bốn phương, các học giả quy tụ về rất đông. Nhiều
câu hỏi hóc búa được đặt ra, nhưng người ta chỉ đón nhận những câu trả lời
đơn giản, đôi khi không dính dáng gì với điều được hỏi. Vì thế, thiên hạ
thất vọng lần lượt kéo nhau đi.
Một hôm, chú
đệ tử trong nhà đến thưa với Thiền sư:
- Bạch Hòa
thượng, tại sao Ngài không nói giáo lý thượng thừa đã thân chứng, mà chỉ
trả lời giản dị như thế.
Bấy giờ Ngài
vui vẻ đáp:
- Vấn đề là
chính ở chỗ giác ngộ, chứ không phải đặt sự kiện này sự kiện kia, thế này
thế nọ.
Bởi vì học giả
thường đem kiến thức nêu lên vấn đề thế này thế nọ. Như nói mọi loài đều
có Phật tánh, đều thành Phật, vậy cái đồng hồ cũng thành Phật được sao? Ở
đây Thiền sư trả lời khiêm tốn: “Này ông bạn, quan trọng là bạn giác ngộ
chứ không phải cái đồng hồ giác ngộ”. Như vậy yếu chỉ của đạo Phật là gì?
Là tự xoay lại mình, chứ đừng soi rọi ra ngoài tìm hiểu người này, người
kia, trong khi việc của mình không xong.
Phật tử chúng
ta trong cuộc sống tương giao huynh đệ bạn hữu với nhau, không cần đặt vấn
đề gì hết, quan trọng là mỗi ngày tự kiểm soát mình, xem phiền não nghiệp
tập có giảm bớt không, sự tu có tiến. Đây mới chính là việc làm của mình.
Mỗi người là một đơn vị chánh đáng để gầy dựng Phật pháp. Muốn Phật pháp
còn mãi trên đời này, bản thân chúng ta phải khắc phục những điên đảo của
mình, đưa nó vào đất Phật hết thì Phật pháp sẽ sống lâu nơi đời.
Tôi áp dụng
được Phật pháp, bạn áp dụng được Phật pháp, Tăng tục đều áp dụng được Phật
pháp, đó là thời đại chánh pháp, chớ không luận đức Phật còn tại thế hay
đã nhập diệt gì cả. Dù không có Phật nhưng có người tu và giác ngộ thì
cũng như Phật tại thế. Kinh nói, dù ông nói pháp trời mưa hoa, đá gật đầu
mà ông không áp dụng được tí nào thì cũng chẳng phải Phật pháp. Người áp
dụng được, ngộ đạo sáng việc của mình thì dù kinh điển không còn in được
nữa, chùa chiền không cất được nữa nhưng chắc chắn Phật pháp vẫn còn,
không mất được.
Nếu hình thức
chùa chiền rực rỡ, kinh điển in đầy trời mà tìm một người ngộ đạo không
ra, thì có cầu nguyện bao nhiêu Phật pháp cũng mất thôi. Trong hoàn cảnh
hiện nay, Tăng Ni vẫn được học Phật pháp, còn có người tu hành chân chính,
áp dụng Phật pháp và đạt lợi ích an vui thì ta vững tin Phật pháp trường
tồn, không ai phá hoại được. Đó là một lẽ thật.
Khi Phật còn
tại thế, có một thầy Tỳ-kheo được Như Lai khen là thông suốt giáo pháp của
Phật. Nhưng thật ra thầy không giảng nói gì nhiều, chỉ thuộc và đọc một
câu này thôi: “Sa-môn nào với tư tưởng thanh cao tinh tiến, luyện mình
trong sự yên lặng thì vị ấy sẽ đạt được an tịnh thông suốt và không còn
phiền não nữa”. Mỗi lần thầy đọc câu này lên, chư thiên tán hoa cúng
dường.
Hôm đó có một
số thầy rất thông bác về đảnh lễ đức Thế Tôn. Sau khi thăm viếng rồi, đoàn
này tới chỗ vị Tỳ-kheo trên, vị ấy liền chào hỏi và thưa: “Thưa quí Ngài!
Có những điều giới luật tôi chưa được nghe rõ ràng, hôm nay trong đoàn các
Ngài có những vị Tỳ-kheo thông tuệ, kính mong quí Ngài hoan hỷ đọc và
giảng lại cho tôi và mọi người ở đây được nghe”. Các thầy Tỳ-kheo kia ngạc
nhiên, nói: “Chúng tôi thấy thầy chỉ có một mình, vậy thầy nói mọi người
là ai ?”. Vị này đáp: “Ngoài tôi ra, ở đây còn có vô lượng chư thiên, kính
mong quí Ngài thương mà nói cho những điều giới luật?”.
Bấy giờ các vị
Tỳ-kheo thông bác mới cử ra hai vị nói lại những điều giới đó, giải thích
thật rõ ràng cụ thể. Sau khi được nghe đầy đủ rồi, kết thúc bài pháp không
thấy có sự tán thán nào, các vị Tỳ-kheo mới đến bực bội, cho rằng thầy
Tỳ-kheo ở đây không chân thật và thưa lên cùng đức Phật sự việc như vậy.
Bấy giờ đức thế Tôn mới dạy: “Người thông suốt giáo pháp của ta là người
hiểu và thực hành được”.
Phật không phủ
nhận hẳn những thầy thông bác kia, nhưng Ngài khẳng định người thông suốt
giáo pháp của Như Lai không chỉ nói thôi, mà phải áp dụng được giáo pháp
ấy. Chính vị Tỳ-kheo nghe các ông giảng luật đó là người thông bác, vì vị
ấy đã áp dụng được giáo pháp của ta, dù chỉ một câu thôi. Sau đó Phật nói
bài kệ này:
Nói nhiều lời hư vọng,
Thêm huyễn hoặc cuồng si.
Học ít nhưng tâm đắc,
Mới là bậc hộ trì.
Nói nhiều
những lời mình không tâm đắc, không áp dụng, không có kinh nghiệm gì hết
thì chẳng khác hạng cuồng si, tức nói mà không làm được. Còn học ít mà tâm
đắc, áp dụng được những điều mình đã học, đây mới là người hộ trì chánh
pháp, giữ gìn chánh pháp của Phật.
Bài kệ sau
cùng đã nhắc nhở chung cho tất cả chúng ta. Nhiều khi ta cứ ngỡ rằng, phải
học phải hiểu thật nhiều mới gọi là thông bác. Không phải như vậy. Dù chỉ
hiểu một bài kệ thôi nhưng áp dụng được vào trong đời sống của mình, nghĩa
là có học có tu, đó mới là người hộ trì Phật pháp. Như tôi đã nói, mỗi
ngày chúng ta kiểm nghiệm lại xem ba nghiệp của mình nhẹ bớt được bao
nhiêu, sự tu hành tăng tiến hay không, việc áp dụng Phật pháp của mình có
đúng hay chưa, ngoài ra tất cả việc khác, chỉ là phụ thuộc thôi.
Chúng ta muốn
cho Phật pháp tồn tại lâu dài trên cuộc đời này thì phải tu như vậy. Hiểu
và tu, chứ hiểu không thì chưa được. Ngay đây chúng ta có một phương thức
để tự mình giác ngộ, đó là điều quan trọng. Sau cùng tôi cầu chúc toàn thể
đại chúng nương uy lực Tam Bảo đều được giác ngộ giải thoát. Có thế chúng
ta mới giữ gìn được Phật pháp cửu trụ trên đời. |