|
NHỮNG NÉT SIÊU NHIÊN CỦA THIỀN
Lâu nay tôi
thường nói tu thiền là sống bình thường, tuy nhiên trong cái bình thường
đó lại khác người thế gian. Bình thường của người tu thiền là bình thường
trong sự tỉnh thức. Vì thế, cuộc sống bình thường ấy lại mang những nét
thần bí và siêu nhiên, lưu xuất từ năng lực thiền định và trí tuệ của một
hành giả tu thiền.
Như chúng ta
biết, ngày xưa Phật giáo hóa chư Tỳ-kheo tu và chứng Tứ quả Thanh văn, gồm
có Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và cao nhất là A-la-hán. Chứng A-la-hán
rồi, các Ngài có mười tám phép thần biến như bay lên hư không, trên thân
ra nước, dưới thân ra lửa, hoặc trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, đi
lại, đứng, nằm, ngồi tự tại giữa hư không… Đó là quả vị và thần thông của
các bậc tu Thanh văn. Còn các Thiền sư thì sao, có gì đặc biệt không?
Tu thiền kỵ
nhất là nói đến chứng đắc, hà huống bàn về thần thông. Nhưng chỗ lý thú
nhất lại là nét siêu nhiên và thần bí của các Thiền sư. Song các Ngài
không bao giờ lưu lại dấu vết, vì tất cả đối với Thiền sư đều là như
huyễn, không phải chỗ chân thật. Những thứ ấy chẳng qua chỉ là chút diệu
dụng lưu xuất từ công phu tu tập mà thôi, nên các Ngài không quan trọng.
Nhưng nếu tu thiền mà không biết các năng lực và diệu dụng này thì chưa
thể hiểu hết công năng của thiền định là gì? Thật là một thiếu sót đáng
tiếc. Vì vậy hôm nay chúng tôi trộm đưa ra vài nét đặc biệt trong nhà
thiền để chúng ta cùng chiêm ngưỡng.
Thiền sư thứ
nhất tôi nêu lên ở đây là ngài Đặng Ẩn Phong. Đặng Ẩn Phong là học trò của
Mã Tổ Đạo Nhất, xem như là con cháu đích tôn của Lục Tổ Huệ Năng. Thiền sư
Ẩn Phong không có chỗ ở nhất định, mùa nóng Ngài ở núi Thanh Lương (Ngũ
Đài Sơn), mùa lạnh về Hoành Nhạc. Chỗ Thiền sư thường lui tới là núi non
kỳ vĩ, nơi ít ai đến được. Đời nhà Đường niên hiệu Nguyên Hòa, có loạn Ngô
Nguyên Tế nghịch chiến với triều đình. Ngài đi về Ngũ Đài Sơn, đến Hoài
Tây gặp hai bên đang giao chiến chưa phân thắng bại. Ngài tự nhủ trong
lòng “Ta nên cứu nạn này”. Nghĩ xong, bèn ném gậy lên hư không, phi thân
bay qua. Tướng sĩ hai bên trông thấy, tâm tranh đấu dứt sạch, liền rút
quân. Đó là điểm đặc biệt của Thiền sư Đặng Ẩn Phong. Song cũng vì ngại đã
dùng phép lạ, sợ mê hoặc lòng người nên Ngài vào Ngũ Đài Sơn thị tịch
trong hang Kim Cang.
Có người khi
dùng đạo lý giảng dạy, hướng dẫn tu hành họ không nghe, mà còn chống trái
lại nữa. Với những trường hợp này nếu không có phương tiện, không có những
lực dụng đặc biệt, rất khó hóa độ. Khả năng của chúng ta nhiều lắm chỉ nói
hoặc thể hiện đạo lý qua đời sống gương mẫu, còn nói đến những thần dụng
phi thường thì chắc rằng ta chưa có được. Vì vậy nhân duyên tiếp cận hóa
độ của chúng ta còn hạn chế nhiều lắm.
Tôi nói như
vậy để chúng ta nỗ lực tu, thấy được những lợi lạc thiết thực và năng lực
phi thường của một con người giác ngộ, chứ không phải chú trọng thần
thông. Người thật tu không bao giờ khởi niệm tu để có được những thần bí
siêu nhiên làm lạ mắt hoặc mê hoặc người. Bởi chính đức Phật đã dạy, Như
Lai không thích dùng thần thông, chỉ dùng đạo thông. Trừ khi gặp những
trường hợp đặc biệt lắm, đức Phật mới cho sử dụng thần thông, nhưng chỉ
tạm thời thôi, chứ không được dùng thường.
Như ngài Đặng
Ẩn Phong vừa sử dụng thần thông, liền biết mình có lỗi, trái với di huấn
của đức Thế Tôn, nên vào núi nhập diệt ngay. Song bình nhật có lẽ Ngài hay
làm những điều khác thường, nên lúc thị tịch cũng kỳ bí hơn người. Đến
hang Kim Cang rồi, Ngài hỏi đại chúng: “Các tăng chư phương khi hóa, ngồi
tịch hoặc nằm tịch thì ta thường thấy, còn đứng mà tịch có ai thấy
không?”. Đại chúng đáp “Có”. Sư hỏi: “Thế có ai đứng ngược đầu mà tịch
chưa?” Trong chúng thưa: “Trường hợp này chưa từng thấy”. Nghe xong Ngài
bèn đứng ngược đầu mà tịch, sừng sững ra đó, y phục vẫn ngay ngắn bất
động, không ai lay động nổi. Sự việc này khiến cho đại chúng rợp đầu kính
nể. Chẳng bao lâu chuyện Ngài lộn ngược mà tịch được đồn đi khắp nơi.
Bấy giờ em gái
Ngài là một vị ni tu hành cũng đắc đạo. Nghe tin sư huynh của mình như
thế, cô tìm đến hang Kim Cang. Tới nơi, thấy quả thật như lời đồn đại
không sai, Cô bèn đến bên Ngài nói: “Lão huynh! Ngày xưa chẳng tuân pháp
luật, khi chết lại còn làm hoa mắt thiên hạ nữa”. Nói xong, cô lấy tay lay
nhẹ một cái, thân Ngài ngã xuống, nằm ngay ngắn. Bấy giờ toàn chúng mới
làm lễ trà tỳ được, thu nhặt rất nhiều xá lợi và an tháp cúng dường.
Trong nhà
thiền có những thần lực, diệu dụng siêu nhiên như vậy. Nhưng phải tu đến
một mức độ nào đó, chứ như chúng ta thì không có rồi. Chúng ta có duyên
được gặp Phật pháp, nếu quyết tâm hành trì đúng chánh pháp thì có lợi lạc,
trước nhất là hết khổ. Đây cũng là một loại thần dụng, chứ đừng nghĩ phải
như các Thiền sư mới gọi là thần dụng. Sống và làm mọi việc với tâm giải
thoát, không ràng buộc, không phiền não là thần thông trong đạo Phật. Lời
nói vị ni em gái của Thiền sư Đặng Ẩn Phong đã minh chứng rất rõ điều này.
Đối với nhà thiền, những chuyện kỳ bí lạ đời cũng có giá trị y như người
sống bình thường nhưng đến được chỗ chân thật giải thoát. Có khác chỉ là
khác nhau trên mặt hình thức tùy duyên giáo hóa thôi, chứ không khác nhau
trên giá trị tâm chân thật.
Nói thêm về
Thiền sư Đặng Ẩn Phong, trong thời gian còn ở pháp hội của Mã Tổ. Một hôm
Ngài đẩy xe đất đi tới, Mã Tổ đang ngồi duỗi chân trên đường. Đặng Ẩn
Phong thưa:
- Thỉnh thầy
rút chân.
Mã Tổ bảo:
- Đã duỗi thì
không rút.
Ngài cũng
chẳng thua:
- Đã tiến thì
không lùi.
Nói xong, Ngài
đẩy xe qua cán chân Mã Tổ bị thương. Sau vụ đó, Mã Tổ cầm búa lên pháp
đường gọi:
- Vừa rồi ai
đẩy xe cán chân lão tăng bị thương, hãy ra đây!
Sư bước ra đưa
cổ trước Mã Tổ, Mã Tổ liền dẹp búa. Kể từ đó, Sư được xem là một trong
những đệ tử tâm đắc nhất của Mã Tổ.
Thiền sư Đặng
Ẩn Phong quả thật có nhiều hành động kỳ đặc từ lúc còn nhỏ, nhưng có thể
xem hiệu lệnh “Đã tiến thì không lùi” là tinh thần mạnh mẽ tiêu biểu nhất
của Ngài. Chúng ta có thể nắm lấy nguyên tắc này mà tiến đạo. Sở dĩ mình
tu hoài vẫn không có kết quả là vì một tiến mà hai ba lùi, còn Ngài đã
tiến thì không lùi. Mã Tổ thì “đã duỗi thì không rút”, hai thầy trò quả
nhiên tâm đắc với nhau thật trọn vẹn. Vì vậy Ngài đã theo Mã Tổ về phương
trượng để nhận chiếc búa có một không hai đó.
Chúng ta thấy
một người đưa búa, một người đưa cổ, đây chính là hình ảnh đặc sắc truyền
tâm của hai thầy trò vậy. Trong trò đùa gần như bình thường giản dị ấy,
nhưng bên trong ẩn chứa đầy đạo lý. Những bài pháp của Thiền sư bao giờ
cũng đặc sắc đáo để, chúng ta không thể nào mò tới được. Bởi thầy trò ta
không phải là thầy trò của thời ngài Đặng Ẩn Phong. Trường hợp của mình
bây giờ khác, chỉ thể hiện đạo lý một cách phù hợp với cuộc sống hiện thời
trong sự tỉnh táo sáng suốt, làm chủ được mình là xem như ta đã có công
phu đắc lực.
Thiền sư thứ
hai là Tôn giả Mục Châu, tức Thiền sư Đạo Minh hay còn gọi là Trần Tôn
Túc. Ngài là Thủ tọa của Tổ Hoàng Bá, tức vị kế Hòa thượng đường đầu. Nhận
thấy Lâm Tế là nhân vật đặc biệt, xuất cách nhưng ở trong pháp hội Ngài
Hoàng Bá mấy năm trời mà không hỏi gì hết. Ngài Trần Tôn Túc thúc:
- Sao không
lên hỏi Hòa thượng đạo lý?
Lâm Tế thưa:
- Tôi không
biết hỏi gì.
Ngài Trần Tôn
Túc bảo:
- Cứ lên hỏi
Hòa thượng: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”
Theo sự hướng
dẫn đó, ngài Lâm Tế y áo chỉnh tề lên hỏi Tổ Hoàng Bá:
- Bạch Hòa
thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?
Ngài vừa dứt
lời liền bị Hoàng Bá cho một gậy. Trở xuống với tâm trạng buồn bã, ngài
Tôn Túc bèn an ủi và đốc thúc hỏi nữa. Ba lần lên hỏi ba lần đều bị ăn gậy
như vậy, nên Lâm Tế nản muốn thối lui. Ngài Trần Tôn Túc biết Lâm Tế không
phải là người thường, mới ngầm thưa nhỏ với Tổ Hoàng Bá tạo cơ duyên cho
Lâm Tế ngộ đạo. Vì vậy, khi Lâm Tế lên từ giã đi, tổ Hoàng Bá đã chỉ sang
chỗ Đại Ngu và quả nhiên về sau ở chỗ Đại Ngu, Lâm Tế ngộ đạo.
Ở đây tôi muốn
nói đến cái nhìn đặc biệt của ngài Trần Tôn Túc. Ngài quả thật có con mắt
tinh tường, nếu không phải là bậc trí tuệ hơn người làm sao có được cái
nhìn như thế. Ngài còn mẹ già nên sau đó phải về quê ở Mục Châu đan giỏ
nuôi mẹ, vì vậy còn được gọi là Tôn giả Mục Châu. Đời sống như vậy mà danh
đức của Ngài được tôn xưng khắp nơi trong tùng lâm. Vì vậy tại Mục Châu,
thiền giả bốn phương tụ về thưa hỏi Phật pháp rất đông. Trong số đệ tử đó,
có một vị rất nổi tiếng là Thiền sư Vân Môn, sau này là Sơ tổ khai sáng ra
tông Vân Môn.
Giữa ngài Trần
Tôn Túc và ngài Vân Môn cũng có một giai thoại rất đặc biệt. Một hôm ngài
Trần Tôn Túc đang đứng ngoài cửa, Vân Môn đến hỏi đạo. Vừa thấy Vân Môn
đến Ngài đóng cửa lại, Vân Môn tới gõ cửa, Ngài mới mở cửa ra. Vân Môn vừa
hỏi đại ý Phật pháp chưa dứt lời, Ngài đuổi ra rồi đóng cửa một cái rầm.
Vân Môn không kịp lấy chân nên cánh cửa kẹp ngang chân luôn, đau quá Ngài
thét lên, ngay đó liền ngộ đạo. Chân Ngài bị gãy, về sau phải chịu tật
luôn.
Ngài Trần Tôn
Túc làm vậy để chi? Có thể nói nhờ thế mà đập tan tất cả vọng niệm của Vân
Môn, đuổi thẳng con khỉ ý thức về rừng thì đạo lý mới hiển bày. Bởi còn
nuôi dưỡng con khỉ ý thức trong lòng thì nó sẽ dẫn mình đi tạo nghiệp khổ
đau, cho nên các tổ ngày xưa sử dụng những phương tiện độc đáo như vậy.
Nhờ thế sau này mới đẽo gọt được những thiện hữu tri thức xuất cách trong
đời, nối hạt giống Phật, thay nhau tiếp dẫn người sau ra vượt biển mê lên
bờ giải thoát.
Vào thời ngài
Trần Tôn Túc, Trung Quốc có loạn Hoàng Sào. Khi loạn quân tiến đến Mục
Châu máu đổ thành dòng, thấy dân tình khổ sở quá, Ngài lấy chiếc dép to
của mình treo ngay cửa thành. Loạn quân tới đó, không hiểu do thần lực gì
mà không thể mở được cửa thành. Cuối cùng thủ lãnh Hoàng Sào ra lệnh: “Ở
đây chắc có bậc Tôn túc nào đang sống, ta nên để yên thành này”. Nói xong
họ rút quân, thế là Mục Châu thoát nạn. Đây là điểm thần kỳ siêu nhiên của
Thiền sư Đạo Minh tức Thủ tọa Trần Tôn Túc.
Ngài Đặng Ẩn
Phong dùng gậy, Tôn giả Trần Tôn Túc dùng dép, các Ngài không hề đụng tới
giáo mác gươm đao mà giặc tự tan. Qua đó đủ minh chứng cho chúng ta thấy
được lực dụng của người tu đến chỗ tâm bất động. Bất động trước nhất là
đối với ngũ dục thế gian, đối với thị phi luyến ái, đối với những hiện
tượng lăng xăng trong cuộc sống. Vì vậy đỉnh cao nhất của hành giả tu
thiền là tám gió thổi không động. Từ cái bất động đó tỏa ra một năng lực
phi thường. Thế nên chiếc dép của các Ngài treo lên cổng thành thì cổng
thành đó không ai động tới được, cây gậy của các Ngài bay lên hư không thì
bầu trời ấy bất khả xâm phạm. Các Ngài không cần sự hỗ trợ bên ngoài hay
một quyền năng nào cả, thần lực có từ chính tâm bất động của các Ngài. Nó
thể hiện qua ánh mắt, lời nói, dáng đi, qua cả những vật dụng như gậy,
dép, nón…
Như Tế Điên
Hòa thượng chỉ có một cái nón trên đầu thôi mà náo loạn thiên hạ, không ai
làm gì được ông Tăng khùng này. Tất cả những gì trên thân hay chung quanh
Ngài, đều có thể biến thành lương dược, phương tiện để cứu người. Nhưng
thần tăng kiểu Tế Điên ai mà biết được, Ngài không ngồi chễm chệ trên tòa
cao lập pháp trường, dựng tông chỉ, uy nghi lẫm liệt như các bậc cao tăng
khác. Ngài lang thang đầu đường cuối hẻm, nay ở chợ mai ở quán, tay xách
bầu rượu, tay quảy bị với đủ thứ thập vật trong đó. Hóa duyên xong thì đi
mất, không lưu lại chút dấu vết.
Trong kinh nói
những bậc như thế có thể biến sắt thành vàng, nấu cát thành cơm. Đó là
những thần bí siêu nhiên của các Thiền sư mà hạng phàm phu thường như
chúng ta không thể lường nổi. Nếu có duyên, sanh nhằm thời các Ngài chúng
ta cũng được lợi lạc theo, đó là dễ ngộ đạo với những chiêu thức độ người
kỳ đặc. Ngày nay cũng có những vị như vậy, nhưng ta ít gặp. Tuy nhiên, các
bậc đạo cao đức trọng thường dùng đức cảm hóa người vẫn là điều đáng quý
xưa nay. Chúng ta thấy có trường hợp nhiều người đang say sưa với dục lạc
thế gian, đang mệt mỏi với những toan tính lo âu v.v… nhưng khi gặp được
các vị Hòa thượng tôn túc, tự nhiên lòng trần nguội lạnh, muốn quay đầu
trở về với Tam Bảo. Điều này thời nay thấy cũng khá nhiều.
Ngày xưa tôi
có quen với một luật sư có biện tài và hiểu biết Phật pháp lắm. Ông đến
làm việc vùng nào, thì quý thầy vùng đó bị ông chặt ngã hết. Chặt ngã về
đạo lý chứ không phải chuyện đời, nên ai cũng ngán nhưng mà không ưa, chỉ
quý Hòa thượng mới thương và kính nể. Ông kể tôi nghe có một thời gian do
hoàn cảnh sao đó, khiến ông nguội lạnh với gia đình, đến mức độ vợ ông
phải khóc. Ông không đá động gì đến chuyện nhà hết, chỉ lui tới chùa.
Khoảng ba năm như vậy, ông tưởng mình đã dứt nghiệp với gia đình. Nhưng
sau đó lại có một nhân duyên khiến ông động tâm. Duyên đó từ mấy đứa nhỏ.
Một hôm cũng
như mọi ngày ông đi làm về, ngồi nghỉ ở ghế bố, mấy đứa con nhỏ quây quần
chung quanh. Ông để yên cho con quấn quít một chút, không nói gì cả. Đến
khi nào ông bảo “Thôi tụi con đi chơi, cho ba nghỉ” thì chúng nó mới giải
tán. Hôm đó không hiểu sao ông thấy đứa con gái nhỏ nhất chạy quanh ghế
bố, nó nắm lấy tay ông để lên má trìu mến, ông nghe trong lòng rộn lên
tình thương con vô kể. Nhưng ngay sau đó ông liền thức tỉnh và tự nhắc
mình không nên yếu đuối với những tình cảm buộc ràng. Sau lần đó, ông lâm
trọng bệnh phải chạy chữa tận nước ngoài. Và chính ông cũng không ngờ đó
là lần ra đi vĩnh viễn của mình trong sự thanh thản yên lành.
Khi quan tài
được đưa về Huệ Nghiêm để an táng, mở cửa nắp quan ra chúng tôi thấy rõ
ràng, vẫn là con người ấy, vẫn đôi kính trắng ông thường mang, vẫn cái cặp
ông thường xách, vẫn bộ đồ màu sậm ông thường mặc, nhưng đôi mắt thì đã
khép kín thật bình an. Ông quả thật xứng đáng là một người Phật tử sống
trong giáo pháp của đức Phật, nét mặt ra đi của ông đã nói lên được điều
đó. Phật giáo Việt Nam chúng ta thời xưa cũng như cận đại đã có nhiều vị
cư sĩ tu hành rất đắc lực như Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Thái Tông, cụ
Tâm Minh Lê Đình Thám v.v…
Ở đây tôi muốn
nói sự tu học này được truyền nối từ các bậc thượng tổ xa xưa đến ngày
nay, trải qua nhiều biến thái thăng trầm, tùy hoàn cảnh căn cơ có khác,
nhưng cốt lõi vẫn là tâm trong sáng bất động. Tôi nhấn mạnh lại đỉnh cao
của người tu chân chánh là bất động đối với ngũ dục thế gian, là người làm
chủ được mình. Hòa thượng Viện trưởng nơi đây cũng thế, nói gì thì nói
cuối cùng Ngài cũng quay trở về tánh giác, chỉ ra ông chủ của mỗi người
cho chúng ta nhận và sống với ông chủ ấy. Đó là mục đích chánh của người
tu chúng ta.
Đến vị đặc
biệt thứ ba, Thiền sư Phổ Hóa đồng thời với tổ Lâm Tế. Ngài cũng có đời
sống rất thất thường, hay đi du hóa khắp nơi. Có khoảng thời gian Ngài ra
chợ xin một chiếc áo dài. Nghe thế, người cho áo dài này, kẻ cho áo dài nọ
nhưng Ngài không nhận. Tối đó trở về chỗ Lâm Tế, ngài Lâm Tế nói: “Ta nghe
ông ra chợ xin áo dài phải không?” Phổ Hóa đáp: “Phải”. Khi đó ngài Lâm Tế
mới bảo trong chúng sắm cho Phổ Hóa chiếc quan tài. Bấy giờ Phổ Hóa cười
nhận.
Sáng hôm sau
Ngài vác quan tài vừa đi vừa nói với mọi người “Ngày mai tôi tịch ở cửa
đông”, dân chúng đua nhau tới cửa đông. Khi đó, Ngài nói “Hôm nay tôi chưa
tịch, ngày mai sẽ tịch ở cửa tây”. Mọi người lại xô nhau đến cửa tây.
Nhưng đến đó cũng không thấy Ngài tịch. Như thế trải qua mấy cửa, người ta
bắt đầu chán. Thôi mặc kệ ông Hòa thượng này muốn tịch ở đâu thì tịch,
thiên hạ chẳng còn muốn coi nữa. Cuối cùng tại cửa bắc, lúc không còn ai
theo coi nữa, Ngài mới để quan tài xuống, giở nắp ra chui vô trong đó nằm
đàng hoàng, rồi nhờ người qua đường đậy nắp lại giùm. Mọi người hay tin,
kéo nhau đến xem. Họ giở nắp quan tài ra, không thấy Ngài ở đâu cả, chỉ
nghe xa xa trong hư không có tiếng chuông ngân vang. Mọi người hướng về đó
mà đảnh lễ. Từ ấy danh tiếng Ngài vang khắp và đặc biệt ai nghe đến cũng
phát tâm tu hành.
Những nét thần
kỳ của các Thiền sư mới nhìn thấy như không có gì đặc biệt, nhưng nếu
không phải là Thiền sư thì sẽ không hiểu nổi và không làm nổi như thế. Như
ngài Phổ Hóa xin chiếc áo dài mà ngài Lâm Tế gởi cho chiếc áo quan. Như
vậy là giữa hai vị có sự cảm thông nhau rồi, còn người thường không hiểu
được ý này. Bởi ngài Phổ Hóa thấy cơ duyên giáo hóa đã viên mãn, ngài muốn
thị tịch. Nhưng lối tịch của Ngài là một trong những lối thị tịch đặc biệt
của các Thiền sư đã chứng đạo. Người ta mở quan tài ra chẳng thấy gì hết,
chỉ nghe xa xa có tiếng chuông ngân. Thiền sư ra đi một cách thong dong tự
tại như vậy.
Với người tu,
tôi nhắc lại là đừng để bị động bởi các pháp thế gian. Giặc giã, đói khát
khổ sở, danh vọng, tiền tài, ngũ dụcv.v… không dính dáng gì tới người tu
cả. Chúng ta tu như thế nào để làm chủ được mình, đừng bị động bởi những
thứ đó là đúng chánh pháp. Thần thông lực dụng có được không phải là điều
đáng quan tâm, nhưng nó thể hiện được năng lực của một người đã làm chủ
mình, bất động với các pháp thế gian. Cho nên những thần bí siêu nhiên của
các Thiền sư không phải ít đâu, nhưng các Ngài không muốn phô trương, sợ
mê hoặc lòng người, làm lệch mất tông chỉ tu hành của người sau.
Khi được hỏi
tu thiền như thế nào? Chúng ta trả lời thầy tôi dạy đếm hơi thở hoặc ngồi
thiền ngày hai ba lần, lần hai ba tiếng hoặc phải tụng sám hối sáu căn
v.v… trả lời như vậy là sai rồi. Tất cả hình thức ấy chỉ là phương tiện để
chế phục tâm, đừng cho nó điên loạn ngược xuôi thôi, chứ không dính dáng
gì đến tâm ta cả. Quan trọng là tâm bất động. Bất động trước mắt là đối
với ăn mặc ngủ nghỉ, tiếp cận mọi việc ta làm chủ được, không bị động bởi
những thứ đó. Đây chính là thiền. Cho nên thiền không có một phương pháp
nào cố định, tùy mỗi vị cảm nhận trong công phu của mình.
Giả như người
không ngồi thiền được, nhưng họ có khả năng buông tất cả vọng tưởng, làm
chủ được mình, người này vẫn được gọi là hành thiền. Bởi chẳng lẽ người
già lạy Phật không được, tụng không nổi, rồi tu không được sao? Cho nên tu
thiền rất thực tế, đối với tất cả mọi thứ chung quanh luôn tỉnh giác, đó
là tu. Ngồi ở nhà cũng tu, nói chuyện với bạn bè cũng tu, làm bất cứ việc
gì cũng tu. Làm sao buông tất cả, không dính dáng, không mắc mứu, không
chạy theo ngoại duyên, đó thì người tu thiền.
Đây là bài thơ
của một Thiền sư tu trên núi:
Nhà anh bên xóm chợ,
Tôi thì ở núi hoang,
Núi hoang không có vật,
Chợ búa ắt huy hoàng.
Bốn câu thơ
này diễn tả rất rõ ràng, nhà anh ở xóm chợ, nhà tôi ở núi hoang, tức Thiền
sư nói mình ở chốn núi non xa xôi vắng vẻ. Núi hoang không một vật, còn
chợ thì rực rỡ huy hoàng, ngựa xe qua lại, người ra kẻ vào đông đúc, không
thiếu gì cả. Đó là hai hình ảnh trái ngược nhau. Tuy nhiên đừng vì thế
chúng ta cho rằng ở núi mới tu, ở chợ không tu được.
Có
đó, thường ăn uống,
Không ấy, hả miệng suông,
Miệng không bụng trống rỗng,
Trống rỗng lại no lòng.
No
lòng cũng rỗng không,
Rỗng no thể đều không.
Bốn câu kế
diễn tả ở chợ đầy đủ các thứ, muốn ăn thì có ăn, muốn uống thì có uống,
thuận lợi như vậy. Chính đây lại là chỗ không thuận lợi cho người tu hành,
vì từ sáng tới chiều cứ ăn không, làm sao tu được. Cho nên ở chợ thuận lợi
về vật chất thì bất tiện cho việc tu hành. Tuy nhiên, nếu ở giữa chợ mà ta
không chạy theo sự ăn uống, các thứ ngũ dục thì sức làm chủ mới thật sự
mạnh mẽ. Cho nên ở đây nói phải làm chủ được mình.
Không ấy hả
miệng suông, miệng không bụng trống rỗng, rõ ràng như vậy. Ở núi non không
có gì ăn hết, nên hả miệng suông. Hả miệng suông thì trong bụng trống. Hai
câu này thật là hay, sáu giác quan của ta tiếp cận với sáu trần, tai nghe,
mắt thấy, mũi ngửi… Nếu chúng ta đem các thứ sắc, thinh, hương… vô trong
đầy hết là lúc nào cũng ăn. Nếu sáu giác quan luôn tỉnh giác, làm chủ
được, tiếp cận với trần cảnh mà không đem vô cái gì hết nên bụng được rỗng
rang. Người bụng rỗng lòng không là người không bị buộc ràng, sống tự tại
giải thoát rồi, đâu còn mong muốn gì nữa. Vì vậy nói bụng rỗng lại no
lòng. Chỗ này thật tiêu sái làm sao !
Cho nên ngài
Đạo Giai Phù Dung, một thiền sư nổi tiếng tông Tào Động cũng dạy: Người tu
thấy sắc như trồng hoa trên đá, thấy lợi danh như bụi rơi trong mắt. Trồng
hoa trên đá thì không dính gì cả. Bụi rơi trong mắt thì xốn xang không ưa,
nên các Ngài đối với danh lợi xem như bụi trong mắt. Đó là chỗ hành công
phu của các thiền sư.
Hai câu kết
nói no lòng cũng rỗng không, rỗng no thể đều không. Người tu không thêm
bất cứ một chủng tử nào trong tàng thức của mình, nên kho tàng thức rỗng
rang sáng suốt. Người sống được với cái rỗng rang sáng suốt đó luôn thấy
no lòng, không thiếu thốn gì hết. Cuối cùng kết lại rỗng no thể đều không,
nghĩa là rốt ráo thiền sư phá hết đối đãi hai bên. Sống ở giữa chợ thường
ăn uống no lòng, còn ở núi bụng rỗng không, tuy rỗng không mà vẫn no lòng.
Tuy nhiên đến chỗ cứu kính, cả hai đói và no đều buông hết, đó mới là
thiền.
Như trường hợp
chúng ta thuận duyên được ở nơi vắng vẻ, không bị ồn ào náo nhiệt bên
ngoài chi phối, lòng lúc nào cũng thanh thản. Vì thế việc hành trì Phật
pháp được tăng tiến, chúng ta tu tốt nhờ các duyên thuận lợi. Nhưng nếu
hoàn cảnh trái ngược lại ta sống ở phố thị ồn náo, nhiều va chạm, trong
lòng không yên. Gặp hoàn cảnh như vậy chúng ta phải quán tất cả đều không
thật, đều giả tạm, chúng đã là hư dối thì ta chấp vào đó làm gì cho phiền
não, không tu được. Như ngài Trần Tôn Túc, một vị thiền sư danh tiếng lẽ
ra phải ở trong pháp hội, hoằng hóa chánh pháp. Nhưng vì còn mẹ già nên
Ngài phải về quê đan giỏ, đan hài tạo kế sống để nuôi mẹ. Đó là sống giữa
chợ nhưng tâm Ngài vẫn bình yên, vì vậy Ngài đã biến nơi ấy thành đạo
tràng.
Chúng ta luôn
ghi nhớ như vậy, biết cuộc đời vô thường nay vầy mai khác, thay cũ đổi mới
luôn luôn, buồn vui theo nó làm chi, mất thì giờ vô ích. Quan trọng là
trong lòng phải làm chủ được mình thì ở đâu cũng thanh tịnh, ở đâu cũng là
đạo tràng. Việc tu cần phải tế nhị, sáng suốt sắp đặt cho mình một sinh
hoạt thích hợp. Làm sao ta vừa có thể đảm đang việc bổn phận, vừa tu hành
đúng theo tâm nguyện của mình. Được vậy, nhất định chúng ta sẽ thành công.
Nên nhớ đừng bao giờ đổ thừa cho hoàn cảnh, gốc là ở nơi mình. Ta phải tự
quán xuyến việc của mình sao cho trôi tròn là tốt, không ai có thể xen vào
đó cả. Mạng sống mong manh, thời gian qua nhanh, không biết mình sống bao
lâu, mà ngồi đó tính toán việc nọ việc kia. Cho nên chúng ta phải có một
thái độ sáng suốt, dứt khoát.
Thêm một bài
kệ nữa:
Người có một quyển kinh,
Không tướng cũng không hình,
Không người hay đọc tụng,
Ai
đó hiểu được kinh.
Nếu hay đọc tụng được,
Nhập lý hợp vô sinh,
Chẳng luận đạo Bồ-tát,
Phật cũng chẳng nhọc thành.
Đây là bài kệ
tụng kinh. Người có một quyển kinh, không tướng cũng không hình, không
người hay đọc tụng, ai đó hiểu được kinh. Kinh mà không tướng không hình,
kinh đó là kinh gì? Là tâm kinh. Thành ra tụng sám hối sáu căn, tụng sám
hối hồng danh, tụng Lương Hoàng Sám v.v… cũng không bằng tụng kinh tâm của
mình. Đó mới là bản kinh tối thượng nhất, kinh trong các kinh. Như vậy
chúng ta quỳ sám hối sáu căn để nhớ lại nghiệp thức từ nhiều đời đã tạo,
bây giờ sám hối chừa bỏ hết, để trở về với bản kinh tâm của mình. Tụng
kinh tâm để lòng rỗng rang sáng suốt, tụng để sống lại tâm thể bất động
của mình.
Phật tổ dạy
tâm chúng ta trùm khắp sáng suốt, không hình không tướng. Nên nghe tiểu sư
Thần Hội nói đó là bản lai diện mục, là Phật tánh của Thần Hội… Lục Tổ
liền quở: “Đã bảo không hình không tướng, không tên không tuổi mà ông còn
nói thế, thật là môn đồ của bọn tri giải, lấy cỏ che đầu, chẳng dính dáng
gì đến cái ấy”. Tất cả chúng ta đều phải nhận và hành trì như vậy mới đúng
ý tổ dạy.
Thành ra giữa
người tụng được và người không tụng được, không can hệ gì cả. Đừng cho
tụng hay, tụng nhiều mới là tụng kinh, phải làm sao tụng được kinh tâm
kìa. Lúc nào ta cũng sống với tâm thể của mình, không vướng hình thức này
hình thức khác, rỗng rang sáng suốt, mới thật là tụng kinh tâm. Phật nói
trí tuệ đức tướng của Như Lai trùm khắp, chứ nó không ở trong cái thân cao
một thước mấy, nặng sáu bảy chục ký này đâu. Bây giờ chúng ta tìm lại,
sống lại, quay nhận lại tánh Phật đó, sống với nó thì Phật ở trong ta, ta
thành Phật ngay hiện đời.
Đời sống thiền
tăng của chúng ta dù chưa hoàn toàn tự do tự tại, nhưng so với người thế
gian, ta thảnh thơi hơn nhiều. Buổi tối xả thiền ra, mình đi kinh hành
dưới hàng dương, có gió mát trăng trong, mặc tình sấn bước, lòng rỗng rang
không toan tính chuyện ngày mai, như vậy cũng giải thoát phần nào rồi. Đây
chính là diệu dụng khi ta tụng bài kinh tâm.
Nếu hay đọc tụng được,
Nhập lý hợp vô sinh,
Chẳng luận đạo Bồ-tát,
Phật cũng chẳng nhọc thành.
Nếu chúng ta
đọc tụng được tâm kinh này thì không nói thành Phật, thành Bồ tát gì cả.
Miễn lòng rỗng rang sáng suốt, không thị phi nhân ngã, không mắc mứu hai
bên, không ngược xuôi theo dòng đời, đó là chúng ta đã an lạc với Niết-bàn
của chính ngay trong hiện tại. Niết-bàn ấy có trong vườn điều, có trong
giảng đường này, có mọi nơi trong đạo tràng Thiền viện, ta đi đến đâu cũng
sống trong Niết-bàn.
Sống chung
trong một pháp hội, ta không giàu của cải vật chất mà giàu đạo tình, huynh
đệ thương kính, đùm bọc nhắc nhở nhau tu hành. Mai kia hết duyên, mỗi
người đi mỗi ngã nhưng tinh thần ấy vẫn còn bàng bạc khắp chốn ta đi. Đó
là vì ta biết mở rộng cái Niết-bàn vô tướng, nên có thể sống với tâm tự
tại giải thoát ở khắp nơi. Bạn hữu ngày hôm nay có đủ mặt, ta cũng an
nhiên sống trong nếp tự tại giải thoát. Mai kia chia tay, ta cũng an nhiên
tự tại sống như thế.
Trong buổi
sinh hoạt đạo lý hôm nay, tôi nêu dẫn một vài nét thần kỳ siêu nhiên của
các thiền tổ, cùng vài bài kệ sống thực của các Ngài, với mong mỏi làm sao
huynh đệ chúng ta noi theo đó, cố gắng tu tập để cuộc sống của mình cũng
được như vậy. Thân này mỏng manh, mạng người chóng vánh, chúng ta không có
nhiều thời gian để hoang phí, vui đùa cùng năm tháng. Mai kia vô thường
đến, khổ khổ nối nhau, chừng đó có tự trách cũng muộn rồi, chi bằng ngay
bây giờ để tâm vào việc của mình. Người tu thì phải giải thoát mọi gông
cùm trói buộc, sống an nhiên tự tại với tâm thanh tịnh trùm khắp. Được vậy
lo gì sanh tử luân hồi nữa, mình làm chủ rồi ai dám kéo lôi!
Cây kiếm trí
tuệ tay chẳng rời, đó là khẩu lệnh của hành giả tu thiền. Ngài Huệ Khả
cũng nhờ thanh gươm này mà dám chặt tay cầu đạo, cho nên mới được Tổ Đạt
Ma truyền tâm pháp yếu. Thành ra cốt lõi của việc tu thiền là phải thể
nhập, quay về nhận lại tâm bình thường của mình. Sự an lạc giải thoát nằm
ngay trong những cái bình thường giản dị nhất. Mong tất cả huynh đệ chúng
ta hiểu, nhận và sống được như vậy. |