|
HẠNH SỐNG MỘT MÌNH
Hôm nay tôi
nói về hạnh người biết sống một mình. Đây là hạnh tu mà người con Phật
phải biết qua. Vì đến một lúc nào đó, dù muốn dù không chúng ta cũng phải
sống một mình. Cho nên ngay bây giờ tuy đang sống trong cộng đồng, nhưng
ta nên chuẩn bị cho mình tinh thần sống một mình.
Sống một mình
trong nhà Phật có nghĩa là không vướng mắc. Trong tâm không có những ý
niệm, những hình bóng của buồn thương giận ghét trong quá khứ, hoặc những
ước vọng phiền toái trong tương lai. Ta sống được trong nếp hiện tiền ngay
đây là sống tỉnh thức, là biết sống một mình. Phần này Tăng Ni đã được học
nhiều qua bản luận Đại Thừa Khởi Tín của Bồ-tát Mã Minh, mà Krishnamurti
thường nói “Cái đang là”.
Ở đây muốn
“Sống một mình”, theo tôi thứ nhất là làm chủ được đối với tất cả những
tưởng niệm về quá khứ và vị lai. Thường đời sống của chúng ta, mỗi một
ngày qua là mỗi một sự nếm trải. Nhất là những ai từng trải trong hoàn
cảnh cay đắng, đòi hỏi người ấy phải phấn đấu tột cùng để được bình yên
sinh tồn. Cho nên quá khứ đối với họ là một chất liệu vừa ngọt ngào vừa
cay đắng, rất khó quên được. Đã là vậy mà nhất thời bảo buông đi, thì xin
thưa “không dễ gì buông được!”. Những tưởng niệm ấy không có hình ảnh gì
cụ thể cả, mà nó có lực còng trói chúng ta rất mạnh. Như vậy ta phải dùng
lực gì để phá trừ nó?
Nói về những
phương thức để phá trừ vọng tưởng, Phật dạy có nhiều phương pháp. Nhưng
tựu trung, nếu không tỉnh, không có trí tuệ thì không cách gì phá vỡ được.
Nghĩa là chúng ta phải tỉnh táo, sáng suốt, có trí tuệ. Chỗ này, nhà thiền
nói phải phản quan tự kỷ, mới có thể loại bỏ những thứ hư giả, sống với
cái thật của chính mình. Người tu chúng ta nhất định phải dành tất cả thời
gian của đời mình để hóa giải, tu tập thế nào cho làm chủ được, đừng để
vọng tưởng kéo lôi. Vì nếu không làm chủ được mình, để cho vọng tưởng kéo
lôi, thì chẳng những hiện đời ta bị buộc ràng mà nhiều đời còn phải chịu
trôi nổi nữa.
Do buộc ràng
phát sinh quyến luyến, vì vậy mình sống trong lao xao, không có sự an lạc.
Đến khi gần chết ray rứt, khó chịu, không dám buông bỏ nên rất khổ. Dù cho
người có sang cả quyền quý chăng nữa, nhưng đối với vọng tưởng không hóa
giải được thì khổ vẫn khổ thôi. Đôi khi nhiều tiền của, danh vọng, địa vị
chừng nào lại càng bị ràng buộc chừng ấy. Vì vậy Phật dạy hàng xuất gia
sống thiểu dục tri túc, tức là ít muốn biết đủ. Nhờ sống đạm bạc nên không
có gì để vướng mắc, để giữ gìn, do đó dễ buông bỏ.
Nếu ta không
buông được, luôn sống với một tâm trạng ngổn ngang vướng mắc buộc ràng, dù
Phật có đưa tay kéo lên Niết-bàn, cũng không thể kéo nổi, Bồ-tát cũng bất
lực, thiện hữu tri thức cũng đứng đó mà nhìn thôi. Cho nên, trong bước đầu
chúng ta phải ý thức, phải làm chủ được, đề cao cảnh giác những vọng tưởng
của mình. Chúng không có hình dạng gì, nhưng xuất hiện bất cứ lúc nào và
thường làm cho ta bất an. Đang đi du lịch vui vẻ với bạn bè, nó xuất hiện
thì mất hết hứng thú. Đang nằm ngủ bình yên, nó xuất hiện thì ngủ không
được nữa, trằn trọc thâu đêm! Đang ăn ngon miệng, nó xuất hiện thì thức ăn
biến thành củi mục. Quả thực là tai hại!
Cuộc đời nếu
cưu mang những nỗi bất an ấy mãi thì thật là khổ đau! Vì vậy chúng ta cố
gắng tu làm sao để hóa giải được mọi thứ phiền não, giữ tâm bình yên.
Trong hiện tại chúng ta có làm chủ được, an ổn được thì mới đảm bảo lúc
lâm chung thảnh thơi nhẹ nhàng. Còn bây giờ bất ổn, băn khoăn nhìn trước
ngó sau giống như tổ Quy Sơn nói “Đường trước mờ mờ chưa biết về đâu!” Đã
như vậy dù có niệm tưởng đến Phật, Bồ-tát “Nguyện cho con được an ổn sinh
về thế giới của Ngài” cũng vô hiệu.
Vọng tưởng chi
phối con người thật kỳ lạ. Có khi đang ngồi ta bật cười, gương mặt tươi
lên, hoặc đang nằm nước mắt bỗng chảy ra. Đó là gì? Niệm quá khứ đang
hoành hành trong đầu, nó kéo lôi mình đó! Chợt nghĩ đến những kỷ niệm vui
trong quá khứ tự nhiên ta thấy vui, gương mặt tươi lên. Rồi có một đoạn
thời gian nào đó, có những bi thương trong cuộc đời, ta sực nhớ lại tự
nhiên buồn. Nghĩ đến đó tự nhiên mình bị động thôi.
Chỉ có thiền
định mới giải thẳng những tâm trạng này. Đây là pháp trực chỉ. Chỉ hành
giả dám buông hay không dám buông thôi! Muốn buông được mỗi người chúng ta
phải có chủ lực. Buông được thì hiện tại không bị những niệm ràng buộc,
quyến luyến của quá khứ kéo lôi. Ngay đối với tất cả những ham muốn hiện
thời, ta cũng dừng được. Do đó các tư niệm hối hận cũng không có. Nói thế
nghĩa là chúng ta phải có quá trình thực hiện công phu, chớ không nói
suông được.
Như vậy ngay
trong từng phút giây sống, chúng ta phải có lực khắc tỉnh. Như vậy mới làm
chủ được, đánh bạt được tất cả những vọng niệm, cắt đứt tất cả buộc ràng,
không để cho những dây mơ rễ má bu bám chung quanh. Người đó mới có thể
gọi là:
Người đứng lên ánh sáng dựng ban ngày,
Thế giới mười phương chung một hướng.
Ba
đời quy lại sát-na đây.
(Thơ Trúc Thiên)
Nghĩa là, khi
ta đánh tan được tất cả những buộc ràng chung quanh rồi thì hiện tiền ánh
sáng dựng ban ngày. Quá khứ vị lai cũng ngay trong hiện tại đây thôi. Tất
cả mọi thứ thiện ác, thuận nghịch… cũng chung về trong một niệm hiện tiền,
an ổn.
Trong cuộc đời
chúng ta, những nỗi bất hạnh gian truân chiếm tới sáu bảy mươi phần trăm,
còn hạnh phúc an ổn như ý, đối với những người tốt phúc tốt duyên thì được
khoảng chừng ba, bốn mươi phần trăm! Thông thường là như vậy. Chứ không ai
hoàn toàn hoàn bị. Có người khoảng đời trước hanh thông, rồi sau bất hạnh.
Hoặc khoảng đầu bất hạnh hanh thông v.v… Đối trước những hoàn cảnh này,
nếu chúng ta không vững niềm tin với luật nhân quả, không tin lời Phật dạy
thì sẽ khổ dài dài thôi. Cho nên Phật nói: “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn
nước bốn biển.” Lời dạy này thật thấm thía làm sao!
Sống trong quá
khứ đau buồn và tương lai mờ mịt, hoặc luôn ở trạng thái hối tiếc là sống
mà thật ra là đã chết. Cuộc sống như thế sẽ khô héo và làm cạn kiệt cả
những nguồn sinh lực chung quanh. Người sống được với hiện thực thì lúc
nào cũng tươi tắn, nhẹ nhàng, thoải mái, không bị vướng mắc hay cột trói ở
đâu cả. Đó là người sống được với hiện tại. Có những trường hợp sự hối hận
không cần thiết. Chẳng hạn ta đã cho một người nghèo qua đường hết số tiền
trong túi, bây giờ chợt tiếc phải chi để lại vài đồng. Những hối hận như
thế thì phải loại hẳn ra. Loại được nó chúng ta sẽ có sức mạnh tinh thần.
Như vậy mới vững vàng đi theo hướng trong sáng.
Người không có
sức mạnh, cứ ngồi đó mà tơ tưởng hay hối hận vào những chuyện không đâu
thì có ích lợi gì. Như ta thường than phiền về sự lui sụt của mình hoài,
chỉ càng làm não hại tâm trí mà thôi. Cứ quyết tâm khẳng định sắp tới khắc
tỉnh khắc tiến, không để xìu xìu yếu dở như vậy nữa. Đó là người biết dựng
lại niềm tin vững mạnh, là người sáng suốt kiên cường, nhờ thế lần lần
phục hồi được sức mạnh. Cho nên quan trọng là phải tỉnh.
Tỉnh rồi phải
tu phải sửa, không thể đọc đi đọc lại những điều sai trái hoài mà phải tu
sửa. Tôi nghĩ rằng không có Phật, Bồ-tát nào chịu nghe những điều lảm nhảm
hoài “Con nghiệp dầy phước mỏng”… Nghe một lần hai lần là phát ngán rồi,
cứ đốt hương lặp tới lặp lui như vậy hoài, tội nghiệp Phật mệt lắm! Chúng
ta phải tự cố gắng. Tu hành là phải tự sửa, nỗ lực và thêm một điều nữa là
phải quyết tử. Nghĩa là biết dở thì đừng làm, biết sai thì đừng có nói,
biết hậu quả không tốt thì dừng. Được vậy là người biết tu. Không cần phải
đến tượng Phật khóc lóc lạy lục gì cả, chỉ mạnh dạn bỏ hết những hành vi
sai trái là được. Đó là người có sức mạnh, có lực lượng.
Ngài Thái Hư
bình luận về mười tông phái của đạo Phật tại Trung Hoa, đại ý thế này:
Những tông phái khác sau thời pháp nạn, muốn gầy dựng lại phải có thời
gian, điều kiện thuận lợi. Như tông Tịnh Độ phải có chùa chiền, kinh điển,
nghi thức tụng niệm v.v… Nói chung các tông phái khác trong đạo Phật đều
phải có những phương tiện như vậy. Nhưng riêng Thiền tông thì không cần.
Năm ba vị ở trong rừng trong núi, hang đá có thể tham vấn với nhau được,
có thể công phu được. Tham vấn để trao đổi những kinh nghiệm chánh lý, sau
đó đùm bọc, thúc liễm nhắc nhở nhau tu hành. Nhờ vậy không lệ thuộc vào
hình thức cố định như thế mà đạo Phật đã tồn tại qua mọi thời mọi lúc cho
đến ngày nay. Đây là điểm kỳ đặc của Phật giáo nói chung, Thiền tông nói
riêng.
Ngài kết luận:
“Chỉ có Thiền tông, không cần những hình thức.” Nói không cần e hơi quá,
ta có thể nói là không nặng về hình thức. Cho nên yêu cầu trong nhà thiền
là phải tỉnh. Ở đâu, lúc nào cũng phải tỉnh, kiểm điểm trong lòng mình.
Kiểm bên trong thì biết luôn bên ngoài. Chỉ có mình mới biết được mình
thôi, chớ không ai biết được mình cả. Ngay Phật, Bồ-tát đứng kế bên cũng
không làm sao biết được những ý niệm trong đầu, trong tâm mình. Như vậy
chỉ có vững niềm tin, đầy đủ trí tuệ, khẳng tâm tu học mới có thể tu được
trong mọi hoàn cảnh, làm chủ lấy mình.
Đã là một tông
phái không đặt nặng hình thức, thì ai tu cũng được hết. Có nhiều bà già
nói: “Bây giờ tui già rồi! Thầy dạy tui niệm Phật thôi, chớ nói tu Thiền
tui tu không nổi”. Thật ra đâu phải khó khăn lắm! Ngay bây giờ ta dám
buông, dám bỏ những gì hiện trong trong tâm mình, lúc ăn lúc ngủ lúc làm
việc… Có cái gì hiện lên thì bỏ hết, tức là đã tu thiền rồi. Tại sao phải
bỏ? Vì nó không thật. Dù có ôm tới đâu, cuối cùng cũng phải buông thôi,
vì bản chất của nó không thật, chợt hiện chợt mất, không nắm bắt được.
Những thứ đó phải vất hết thì mới yên được.
Tôi muốn nói
thế để tất cả quí vị đối với pháp Thiền có niềm tin mình tu hết, lúc nào
hành trì cũng tốt. Có chùa, có tượng Phật tu cũng tốt, mà không thì tự
mình làm chủ và buông được những vọng niệm cũng tốt. Như vậy chúng ta mới
khắc phục được những điểm dở, tiến theo nhịp bước thanh tịnh giải thoát
của các bậc thầy, các vị tiền bối. Buông được những vọng chấp rồi, người
đó có thể nói là cắt đứt được muôn duyên, ngay hiện đời tự tại giải thoát.
Bao giờ ta cắt
được quá khứ, buông được những tưởng niệm, thì cái hiện tiền sẽ hiện tiền.
Tôi nói như thế là hơi thừa. Khi đó hiện tiền. Hiện tiền tức là sáng, là
định, là tuệ. Chỉ có người sống được với hiện tiền mới có thể vào định, từ
đó trí tuệ viên mãn. Còn lăng xăng dấy niệm, lao theo niệm thì không bao
giờ có định tuệ.
Tôi dám khẳng
định rằng: Nếu ai còn bị quá khứ và tương lai ràng buộc là người đó chưa
tin Tam Bảo, tin nhân quả. Người tin Tam Bảo, tin chắc nhân quả rồi, đối
với tương lai mặc nhiên thôi. Có bao giờ người học trò quậy phá, hư hỏng
mà có thể thi đỗ đầu, gọi là bảng hổ đề danh không? Không bao giờ có. Luật
nhân quả Phật dạy rõ ràng, gây nhân xấu thì lãnh quả xấu, gây nhân tốt thì
hưởng quả lành. Ngay hiện tại chúng ta không sống được với nhân tốt thì
biết rằng hậu quả sẽ không tốt. Không cần phải tìm hỏi ai, cầu cứu ai, ta
tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, với nhân quả đã tạo. Tốt nhất là
ngay đây mình tỉnh, đừng gây những nhân xấu. Đừng nói, đừng làm, đừng nghĩ
về điều ác thì sợ gì chứ? Đã không có những nhân đó thì cần gì phải cầu
khẩn ai giúp đỡ, hóa giải cho mình? Không cần thiết, thưa quý vị.
Người học trò
thông minh cặm cụi học hành, ghi chép đàng hoàng, đảm bảo chưa làm bài thi
người đó cũng có một khả năng, một kinh nghiệm, một lực dụng đủ làm được
bài thi đó. Và làm trong nếp bình tĩnh, tin chắc như vậy. Nếu trong nhà,
có con cháu học hành như vậy thì khỏi phải tốn tiền lo lót. Chắc chắn là
thi đậu. Giả như không thi nó cũng có khả năng đáng tin cậy.
Cũng thế,
chúng ta muốn tu thành Phật, muốn hết khổ, muốn được thanh tịnh giải thoát
thì phải… tu thôi. Phải chịu khó tu, chịu khó công phu, trăm giũa ngàn mài
mới thành công được. Mỗi ngày ta đều đầu tư vào trí tuệ chân thật của mình
thì khỏi phải sợ địa ngục ngạ quỉ làm gì nổi mình. Thiền sư nói đến giờ ăn
không chịu ăn là tại vì mình cứ tơ tưởng về ngày qua, về ngày mai. Bây giờ
có dưa ăn dưa, có muối ăn muối, có nước tương ăn nước tương mà thiếu nước
tương thì ăn nước muối cũng được. Ngay trong hiện tại ta cứ sống như thế,
chắc chắn sẽ được an ổn.
Nói tóm lại,
người biết sống một mình, sống ở đâu cũng được vì luôn sống trong hiện
tại. Không bị vị lai kéo lôi, không mắc mứu trong quá khứ, cứ bình thường
ngay trong hiện tại. Đó là Phật hiện tiền. Chúng ta là Phật ngay đây, chứ
không đợi lúc nào khác. Đây là lẽ thật, là điều rất quí mà tất cả chúng ta
cần phải hạ quyết tâm thực hiện cho bằng được.
Pháp tu của
Bồ-tát như Lục độ, vạn hạnh cũng gồm trong hiện tại. Cảnh giác đối với tất
cả những nhân khổ, mình đừng gây tạo, đừng dấy niệm. Hiện tại chúng ta
cũng có thể tu theo Bồ-tát hạnh. Nhưng với điều kiện là phải tỉnh, làm sao
từng phút giây đừng gây tạo những nhân đưa đến quả khổ.
Người biết
sống một mình là người biết viễn ly mọi vọng tưởng điên đảo của mình, chớ
không có nghĩa tách rời đoàn thể, tách rời đại chúng. Ngày xưa Phật dạy
các thầy Tỳ-kheo phải một mình ra khỏi xóm làng, nghĩa là đừng dính mắc
chuyện thị phi của thế gian. Dù đắp y mang bát vào thành khất thực, nhưng
tâm vẫn ra khỏi xóm làng, đừng nghe chuyện bên ngoài, tin tức xóm nọ xóm
kia. Như vậy mất hết thì giờ, không tu được. Cho nên nói xóm làng tức là
những việc rộn ràng, hay dở của thế gian. Những thứ đó không cần thiết
phải đem vào trong sự sống của mình. Việc chính vẫn là đang sống một mình
trong tỉnh thức.
Khi tâm được
bình thường, ta không bị vướng mắc bởi bất cứ một người nào, dù người đó
thương hay không thương mình, an nhiên tự tại. Sống được như vậy rồi,
không cần phải ngăn rào dậu gì cả, bởi vì ai cũng như ai! Người già người
trẻ, người thân người không thân, ta đều bình thường tự tại. Tôi nhắc lại
việc duy nhất của mình là không bị quá khứ kéo lôi, không tưởng niệm tương
lai mà sống an ổn ngay hiện tại.
Thời gian
nhanh lắm, vô thường chụp đến ta không làm sao trở tay kịp. Thế mà cả đời
ngược xuôi xóm làng, rộn ràng với việc của những người chung quanh thì
thật là đáng tiếc. Nói thế không có nghĩa là ta sống thụ động hoặc thờ ơ
với nỗi khổ của mọi người quanh ta. Mình vẫn làm tất cả với niệm bình an,
bình thường. Không để mất thì giờ bởi những ồn ào náo nhiệt chung quanh,
ta luôn chánh niệm trong mọi thời mọi chỗ, đó là biết sống một mình giữa
chốn đông người. Mỗi ngày sống được như vậy là ta đang đi trên đại lộ
thênh thang của mười phương Phật.
Khi chúng ta
ngồi thiền, lim dim nhìn xuống tưởng như đang sống một mình, nhưng chỉ có
người trong cuộc mới biết mình sống như thế nào. Ngồi đó mà tơ tưởng mông
lung, hết nghĩ nhớ chuyện này đến tính toan chuyện nọ, hết nói chuyện với
người này lại gây gổ với kẻ nọ, trong tâm như một bãi chiến trường. Cho
nên Hòa thượng Viện trưởng thường dạy: “Vừa có một niệm dấy lên liền
buông”. Các Thiền sư thì nói mạnh hơn là “Chặt”, bất cứ niệm gì đến cũng
phải chặt hết. Như vậy mới gọi là ngồi thiền một mình.
Người xưa nói:
“Quá khứ đã không còn. Tương lai thì chưa tới. An nhiên sống trong hiện
tại, không bị vướng mắc vào tham dục”. Đó là các Ngài mở lối cho chúng ta
tiến bước. Thử nghiệm lại rõ ràng như thế, quá khứ đã không còn, tương lai
thì chưa tới. Cho nên sống với quá khứ là sống với cái chết, sống với
những chiếc xác không hồn. Như thế còn gì là sinh khí, còn gì là sự sống
nữa. Hoặc chỉ sống với tương lai thì người này thật là hơi bất bình thường
rồi! Vì tương lai đâu có mà sống, e rằng họ đang ở trong một cuộc sống ảo.
Hiện tại bình yên tức là đầy đủ cả quá khứ và vị lai.
Chư Phật, Tổ
sư hay tất cả các vị Thiện hữu tri thức trong mười phương, bằng kinh
nghiệm của mình, các Ngài đã nhắc nhở chúng ta làm sao sống được với hiện
tại. Đó là điều quan trọng. Cổ đức nói: “Người sống được với hiện tại thì
tham dục mất dạng”. Chữ Tham là ham thích, chữ Dục là mong muốn. Những ham
thích, mong muốn của chúng ta chính là tham dục. Nếu mình sống được với
hiện tại thì tham dục cũng mất luôn, từ thô cho tới tế. Chúng ta khỏi phải
xin Phật: “Cho con hết tham dục”.
“Kẻ trí sống
như thế, tâm không do dự, bỏ hết mọi lo âu, mọi hối hận, xa lìa hết mọi
tham dục ở đời; cắt đứt tất cả những sợi dây ràng buộc, sai sử”. Đó là
hạnh sống một mình. Thế nên người không có trí thì không cách gì sống một
mình được. Bởi tâm vọng tưởng của mình là con khỉ. Nó lén lút, đi ngược đi
xuôi, đến xóm này xóm nọ. Nếu mình không tỉnh thì nhất định con khỉ ấy sẽ
dẫn mình đi thôi.
Ví dụ hồi xưa
cái nhà có tới mấy chục cây cột, bây giờ như vậy là quê rồi, nên con khỉ
nó xúi mình gỡ cột ra bỏ, cất lại theo kiểu hiện đại cho tươi sáng, sang
trọng hơn. Thế là đang yên ổn thì bao nhiêu việc ập tới, chạy vạy đủ kiểu
cất cho được cái nhà. Chẳng bao lâu, kiểu nhà này cũng không còn hợp thời,
lại phải tháo ra, sửa lại. Đủ thứ lý luận, để sanh ra đủ thứ tất bật,
phiền não. Sự tiến bộ của vọng tưởng, chính là lòng tham dục không bao giờ
biết dừng của con người.
Chỉ có trí tuệ
mới an lạc vĩnh cửu không đổi thay, vậy mà chúng ta lại không quan tâm,
không đầu tư triển khai vào chuyện này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chưa hề
để lại một ngôi chùa nào. Chúng ta là đệ tử Ngài đâu cần phải làm một việc
đức Phật chưa hề làm và cũng không muốn mình làm. Để lại một ngôi chùa
trăm ngàn năm! Với Phật, không cần đâu.
Điều Phật lo
lắng sau khi Ngài đã giác ngộ rồi là làm sao cho tất cả chúng sinh cùng
được hết mê, cùng được giác ngộ như Ngài. Chứ còn tất cả những đền đài,
cho đến xá lợi của Ngài cũng là pháp hữu vi, sẽ hoại diệt thôi. Cái không
hoại diệt chính là trí tuệ nằm sẵn nơi mỗi chúng ta, Phật muốn chỉ cho
chúng ta thấy và nhận lấy cái đó để vĩnh viễn được giác ngộ giải thoát.
Đệ tử Phật
phải là người có trí, chứ không thể không trí được, vì Như Lai là bậc giác
ngộ, chẳng lẽ Ngài dạy chúng ta si mê. Ý thức sâu sắc điều này, chúng ta
nên để tâm vào việc thiền định và khai sáng trí tuệ của mình. Đó mới đích
thực là đệ tử Phật. Cho nên ta sống với trí tuệ, với hiện tại thì không
còn do dự, hối hận, lìa hết tham dục ở đời, cắt đứt mọi thứ ràng buộc sai
sử mình.
Có bài kệ thế
này:
Quán chiếu vào cuộc đời,
Thấy rõ được vạn pháp.
Không kẹt vào pháp nào,
Lìa xa mọi ái nhiễm.
Sống an lạc như thế,
Tức là sống một mình.
Bài kệ này tóm
kết lại những điều tôi muốn nói về hạnh sống một mình. Người luôn luôn có
sự sáng suốt soi rọi vào những hành vi của mình, soi rọi vào cuộc đời là
người sống hạnh một mình. Người này phải có trí tuệ mới thấy tất cả những
gì lăng xăng, những trần cảnh chung quanh không thật, mới có thể xả bỏ
được một cách dễ dàng. Ngay nơi mình thấy thân không thật, tâm vọng tưởng
không thật. Người thấy được như vậy là thấy được lẽ thật của các pháp.
Bài pháp đầu
tiên Phật thuyết cho năm anh em ngài Kiều Trần Như tại Lộc Uyển là bài
pháp Tứ Đế. Tứ Đế tức bốn đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Chữ “Đế”
có nghĩa là chắc thực. Đây là bốn điều chắc thật Phật thấy được bằng trí
tuệ của Ngài. Thế gian này là khổ tức Khổ đế, nguyên nhân từ đâu mà có khổ
là Tập đế. Sau đó Phật giới thiệu niềm vui của người hết khổ là Diệt đế và
con đường đưa đến chấm dứt khổ đau là Đạo đế.
Qua bài pháp
này năm anh em ngài Kiều Trần Như thấy được lẽ thực. Nghĩa là thấy được
tất cả các pháp là khổ, thấy được nguyên nhân từ đâu mà có nỗi khổ đó. Tu
tập như thế nào để được Niết-bàn an vui. Thấy được như vậy gọi là Kiến đế.
Bây giờ chúng ta cũng vậy, không đợi ở Vườn Nai mà ở bất cứ chỗ nào, pháp
hội nào, chúng ta thấy được thực chất của các pháp đều gọi là Kiến đế. Ta
thường nghĩ rằng vấn đề Kiến đế là của các bậc Thánh, các vị Bồ-tát, chứ
còn mình không mong gì được. Không phải thế. Đối với tất cả các pháp thế
gian, ta thấy được lẽ thật, tức là Kiến đế.
Người Kiến đế
quyết tâm tu tập theo sự hướng dẫn của Phật thì nhất định sẽ được
Niết-bàn. Như vậy Kiến đế có thể chúng ta cũng đạt được phần nào, nếu mình
có học Phật hiểu Phật. Nhưng điều quan trọng nhất là mình có chịu tu hay
không đây? Điều này ta phải tự vấn thôi, chớ biết làm sao hơn. Có chịu
thực hành, thể nghiệm hay không mới là điều đáng nói, chứ còn pháp môn,
đường lối… thì ta thông cả rồi.
Thấy được lẽ
thực của các pháp rồi chúng ta sẽ không còn kẹt ở một pháp nào, lìa xa ái
nhiễm. Sống an lạc như thế tức là sống một mình. Giản dị thế thôi, tại sao
ta làm không được!
Đừng tìm về quá khứ,
Đừng tưởng tới tương lai.
Quá khứ đã không còn,
Tương lai thì chưa tới.
Đừng nghe!
Đừng tìm về quá khứ, đừng tưởng tới tương lai. Bởi vì quá khứ đã không
còn, tương lai thì chưa tới. Điều này rõ ràng như vậy, cho nên thực tập
đâu phải quá khó, đâu phải vượt tầm hiểu biết của mình. Chỉ tại chúng ta
ít thực tập nên không quen, thành ra khó.
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại.
Kẻ
thức giả an trú,
Vững chãi và thảnh thơi.
Người quán
chiếu vào sự sống trong giờ phút hiện tại là bậc thức giả an trú vững chãi
và thảnh thơi. Nghĩa là sống bằng sự tỉnh giác của mình, không bị quá khứ
kéo lôi, không bị tương lai chi phối. Muốn được thảnh thơi thì phải sống
như vậy, không cách gì khác hơn. Nhiều người nói: “Tôi đã sắp đặt hết rồi!
Tất cả tài sản đã giao cho người này người nọ…” nhưng trong lòng lại
vướng. Như vậy chưa gọi là giao hết, chỉ giao hình thức bên ngoài thôi,
còn những vướng mắc bên trong là còn nắm níu, chưa thảnh thơi.
Phải tính đến hôm nay,
Kẻo ngày mai không kịp!
Cái chết đến bất ngờ,
Không thể nào mặc cả.
Ngay đây ta
phải lo đi, kẻo ngày mai không còn kịp nữa. Cái chết đến bất ngờ không ai
mặc cả được. Không thể nói: “Tôi còn một số việc chưa giải quyết xong. Đợi
ngày mai ngày kia… tử thần hãy đến”. Có ai hẹn như vậy được không?
Người nào biết an trú,
Đêm ngày trong chánh niệm,
Là
biết sống một mình.
Người nào biết
an trú trong hiện tại, trong chánh niệm là người biết sống một mình. Khi
nghe từ chánh niệm, ta tưởng phải loại bỏ những tà niệm mới đúng. Đó chỉ
là nghĩa bên ngoài thôi, nghĩa chính của chánh niệm là không có niệm nào
hết. Chánh niệm là vô niệm. Vô niệm tức không bị quá khứ kéo lôi, không
mắc mứu tương lai, sống ngay trong hiện tại. Cho nên nói “An trú trong vô
niệm” là không bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì hết. Người sống được với
hiện tại rồi thì làm việc gì cũng có thể tu được! Làm việc nào cũng là
việc Phật, cho nên việc nào cũng thanh tịnh giải thoát. Đó là nếp sống mà
tất cả người tu chúng ta phải sống được.
Có một anh
chàng họa sĩ nọ nghèo hết cỡ. Anh đi tìm sự sống. Trên bước đường bôn ba
gầy dựng sự sống, anh được một số vốn liếng kha khá. Hôm đó, nghe tin quý
Thầy tổ chức lễ cúng dường, anh nghĩ: “Lâu nay sở dĩ mình nghèo là vì chưa
cúng dường. Đây là cơ hội tốt để mình loại bỏ nghèo khó đây”. Nghĩ thế
xong, anh dốc hết tất cả tài sản đã có vào lễ cúng dường. Sau khi làm việc
đó rồi, anh về nhà trong niềm hoan hỷ.
Về đến nhà, vợ
anh hay ra sự việc thì kêu trời: “Trời ơi! Ông đi làm bấy lâu nay, bây giờ
về với hai bàn tay không như vậy sao?” Ông vui vẻ nói: “Bà ơi! Tôi làm
việc công đức đó là để tạo duyên tốt cho tương lai của mình đó chứ!” Bà
nghe vậy nổi sùng la toáng lên. La không chưa hả giận, bà đâm đơn kiện ông
luôn. Ông vẫn bình tĩnh khi nghe các quan tòa thẩm vấn, và lặp lại vững
vàng những lời đã nói từ trước. Cuối cùng ông kết luận: “Tôi đã cúng dâng
số tiền của tôi kiếm bằng mồ hôi nước mắt. Tôi không chút hối hận về việc
cúng dường này. Tôi hiểu rằng sự giàu có thực sự không bằng tiền mà bằng
tấm lòng”.
Ông nói lên
điều đó giữa mọi người công chúng, quan tòa nể quá khen ngợi hết lời. Mọi
người hân hoan giúp đỡ, càng tin cậy và quý trọng ông hơn. Từ đó bà vợ ông
chuyển theo, thấy chồng mình tuy không đem tiền về nhưng được mọi người nể
nang quý trọng nên bà cũng quý trọng ông. Đó là nhờ ông đã phát huy được
lòng tốt, đã tạo nhân tốt nên được quả báo tốt ngay trong hiện đời.
Cho nên người
biết tu là người sống lại với tâm của mình. Anh chàng họa sĩ, không phải
là Phật tử nhưng biết phát huy tấm lòng tốt, nên đã khuyến hóa được người
trong gia đình cũng như mọi người cùng hướng đến con đường tốt. Huống
chúng ta là hàng Phật tử tu đạo, sống được với tâm hiện tại chân thật tốt
đẹp thì lo gì không có cuộc sống giải thoát an vui.
Nói tới tâm là
nói đến sự thấy biết rõ ràng trong từng việc làm, từng sinh hoạt của chúng
ta. Điều này thật khó nói, chỉ những ai có tu tập mới thấy được. Thực sự
chúng ta đang sống, đang nói, đang nghĩ… là nhờ có tâm mình. Tâm ấy ghi
nhận hết tất cả các hiện tượng chung quanh ta và ngay cả bản thân ta là
các pháp duyên hợp, không thật. Biết được các pháp không thật, cái biết ấy
là chân thật, là tâm ta vậy. Nhưng điều này ai chưa thể nghiệm được thì
chưa tin tới.
Khi nào ta dám
buông mọi thứ giả tướng bên ngoài thì cái chân thật ấy sẽ hiển lộ, chừng
đó ta hết khổ. Chúng ta là đệ tử Phật, cũng hướng theo con đường của Ngài,
sống một mình trong vắng lặng để phát sinh trí tuệ như thật. Mong cầu
chính đáng duy nhất của mình là thành Phật, độ tất cả chúng sinh. Con Phật
thì phải mong cầu như vậy, không thể khác hơn được. Nói “mong cầu thành
Phật” là một cách nói thôi, chớ thật ra là dám sống một mình trong hiện
tại.
Người dám sống
như vậy có thể làm được tất cả những việc của hàng Bồ-tát làm. Người tu
phải là người thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh. Muốn thế tất cả
những vọng niệm, ta phải buông hết, sống ngay hiện tiền đây. Đó là nhân
chân chánh nhất để thành Phật.
Tóm lại, buổi
nói chuyện hôm nay, tôi muốn nhấn mạnh tới hạnh sống một mình của người
con Phật là, không để quá khứ kéo lôi, không để tương lai thúc phược mình,
mà luôn sống với niệm an trú trong hiện tại. Chúc quý vị thành công trong
cuộc sống hiện tại. Tất cả chúng ta đều sống được trong niệm hiện tại. |