[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Đoạn 1: Lặp Lại 11 Thức Để Thống Nhiếp Các Pháp

 

Chính Văn.-

Trong 11 thức, thức thân, thức chủ thể của thân, và thức chủ thể của sự tiếp nhận, nên biết rằng đó là 6 giác quan ở trong, tức nhăn căn, nhĩ căn, v/v; thức được tiếp nhận, nên biết rằng đó là 6 đối cảnh ở ngoài, tức sắc cảnh, thanh cảnh, v/v; thức tiếp nhận, nên biết rằng đó là 6 nhận thức, tức là nhăn thức, nhĩ thức, v/v. Ngoài ra, các thức khác, nên biết rằng đó là sự sai biệt của các thức trên đây.

Lược Giải.-

Thống nhiếp các pháp vào 11 thức như sau. Một, 3 thức đầu là 6 căn, thức thứ 4 là 6 cảnh, thức thứ 5 là 6 thức. Hai, 6 thức c̣n lại là chi tiết của 6 căn 6 cảnh và 6 thức. Thống nhiếp như vậy th́ chữ các thức chính là chữ các pháp. 

Thứ 1: Biểu Thị Bằng Ví Dụ

Chính Văn.-

Các thức như vậy toàn là duy thức, không thật. Sự thể này lấy ǵ ví dụ để biểu thị? Nên biết rằng lấy chiêm bao v/v làm ví dụ để biểu thị. Là như trong chiêm bao hoàn toàn không thật, chỉ độc có thức. Dầu có đủ thứ sắc thanh hương vị xúc, nhà rừng đất núi, biểu hiện như thật, nhưng tựu trung hoàn toàn không thật. Do sự ví dụ này biểu thị, theo đó nên nhận thức rằng lúc nào chỗ nào cũng toàn là thức. Chữ v/v, nên biết c̣n có những ví dụ như ảo thuật lừa dối, như hươu nai khao khát, như mắt bịnh hoa nḥe, v/v.

Khi thức tỉnh th́ lúc nào chỗ nào cũng thấy như chiêm bao, cũng thấy duy thức, như chiêm bao thức tỉnh rồi biết trong chiêm bao toàn là thức cả, thế th́ bây giờ chúng ta đang thức tỉnh đây, sao không thấy biết như vậy? Khi chân trí thức tỉnh mới thấy biết như vậy. Như trong chiêm bao sự thấy biết như vậy không có, nhưng chiêm bao thức tỉnh rồi sự thấy biết như vậy mới có. Khi chưa được chân trí thức tỉnh sự thấy biết như vậy không có, được chân trí thức tỉnh rồi sự thấy biết như vậy mới có.

Thứ 2: Tỷ Tri Bằng Giáo Lư

Chính Văn.-

Ai chưa được chân trí thức tỉnh th́ đối với đạo lư duy thức làm sao đối chiếu biết được? Là do giáo và lư mà đối chiếu để biết.

Giáo ở đây là trong kinh Thập địa, đức Thế tôn đă nói 3 cơi như vầy toàn là duy tâm. Lại như trong kinh Giải thâm mật, đức Thế tôn cũng đă nói như vậy. Trong kinh ấy, bồ tát Từ thị hỏi đức Thế tôn, ấn tượng được thấy trong định, cùng với tâm trong định, nên nói khác nhau hay nên nói không khác? Đức Thế tôn bảo bồ tát Từ thị, nên nói không khác. Tại sao, v́ ấn tượng ấy chỉ là thức. Như lai nói cái thức biết chỉ do thức hiện. Bạch đức Thế tôn, nếu ấn tượng trong định không khác với tâm trong định, th́ tại sao tâm ấy trở lại biết lấy tâm ấy? Từ thị, không có chút pháp nào lấy được chút pháp nào, nhưng chính tâm ấy khi phát sinh như vậy th́ có ấn tượng như vậy biểu hiện. Tựa như chính bản chất làm duyên tố mà thấy bản chất ấy, nhưng nói rằng tôi thấy ảnh tượng, lại cho ngoài bản chất có cái ảnh tượng thấy riêng. Tâm ở đây cũng vậy; tâm ấy khi phát sinh như vậy th́ tựa như có ấn tượng như vậy biểu hiện được thấy riêng ra.

Do cái giáo trên đây mà cái lư cũng hiển lộ. Tại sao, v́ trong tâm của định quán thấy những ấn tượng như thây chết xanh ứ v/v, th́ không có cái xanh ứ v/v nào khác, mà chỉ là thấy lấy tâm ḿnh. Do đạo lư này, đối với các thức, bồ tát nên đối chiếu mà biết toàn là duy thức, không phải là đối cảnh thật có. Cái ấn tượng xanh ứ v/v cũng không phải là đối cảnh do cái thức nhớ thấy ra, v́ là ấn tượng hiện hữu: 2 cái thức nhớ về nghe và nghĩ cũng lấy ấn tượng quá khứ làm đối cảnh, nên ấn tượng ấy cũng là duy thức. Do sự tỷ lượng như vậy, bồ tát tuy chưa được chân trí thức tỉnh, cũng có thể đối chiếu mà biết về đạo lư duy thức.

Số 1: Nghi Về Sắc Th́ Không Phải Duy Thức

Chính Văn.-

Như vậy là đă nói các thức như những ví dụ chiêm bao v/v. Chính trong sự ví dụ ấy mà thấy nhăn thức v/v là duy thức. Thế nhưng nhăn thức v/v có sắc cảnh v/v, th́ làm sao thấy được sắc cảnh v/v cũng là duy thức? Hỏi như vậy th́ cũng do giáo và lư vừa nói ở trước mà thấy được.

Số 2: Nghi Về Sắc Kiên Trú Liên Tục

Chính Văn.-

Nếu các thức như trên bản thể cũng là thức, th́ tại sao biểu hiện ra sắc chất trước sau như một, tồn tại lâu dài, và liên tục không cách hở? V́ cùng với các pháp tạp nhiễm thác loạn làm chỗ dựa. Nếu không phải như vậy th́ sự thác loạn cho là thật cái không thật đáng lẽ không có. Nếu không phải như vậy th́ 2 chướng ngại phiền năo và sở tri đáng lẽ không có. Và nếu không phải như vậy th́ các pháp thanh tịnh cũng đáng lẽ không có. Do đó (mà biết) các thức chuyển hiện như vậy. Trong đây có 1 bài chỉnh cú: Hiện tượng thác loạn và bản thể thác loạn nên cho là sắc thức và phi sắc thức (63) , sự thể này không có th́ mọi sự khác cũng không có.

Số 3: Nghi Về Sự Hóa Hợp Của Các Thức

Chính Văn.-

Tại sao thức thân, thức chủ thể của thân, thức chủ thể của sự tiếp nhận, thức được tiếp nhận, thức tiếp nhận, 5 thức này cùng câu hữu và hóa hợp trong tất cả các thân? V́ có thế mới viên măn sự thọ dụng của đời sống.

Số 4: Nghi Về Sự Biểu Hiện Sai Biệt

Chính Văn.-

Tại sao nói thức th́ gian v/v chuyển hiện sai biệt? Bởi v́ vô thỉ đến giờ sự lưu chuyển của sinh tử không có đứt mất (nên gọi là thức th́ gian), v́ cái thế giới chúng sinh không có số lượng (nên gọi là thức số mục), v́ cái thế giới thế giới không có số lượng (nên gọi là thức thế giới cư trú), v́ ngôn ngữ được nói về sự việc được làm không có số lượng (nên gọi là thức nói năng), v́ căn thân được nắm giữ và hưởng thụ khác nhau không có số lượng (nên gọi là thức ḿnh người), v́ những quả báo đáng ưa và đáng ghét hưởng chịu khác nhau không có số lượng, và v́ sự sống chết khác nhau cũng không có số lượng (nên gọi là thức đường lành đường dữ).

Thứ 1: Đa Thức Luận

Chính Văn.-

Làm sao xác lập các thức (64) như vậy thành duy thức? Đại khái có 3 cách, một là do duy thức, v́ không cái ǵ thật cả; hai là do 2 phần, v́ có tướng phần có kiến phần 2 thức khác nhau; ba là do nhiều thứ, v́ có nhiều thứ hành tướng sinh khởi. Tại sao có 3 cách như vậy, bởi v́ tất cả các thức không thật, nên có thể xác lập duy thức; bởi v́ có tướng phần và có kiến phần nên thành ra 2 mặt; bởi v́ nhăn thức th́ lấy sắc thức làm tướng phần, lấy thức của nhăn thức làm kiến phần, cho đến thân thức th́ lấy xúc thức làm tướng phần, lấy thức của thân thức làm kiến phần, đến như ư thức th́ lấy các thức làm tướng phần, lấy thức của ư thức làm kiến phần (65) - trong tướng phần ấy sắc thức làm tối sơ, pháp thức làm tối hậu, v́ ư thức là chủ thể phân biệt, sinh khởi tương tự tất cả các thức. Trong đây có 1 bài chỉnh cú: Duy thức, 2 phần, nhiều thứ, hành giả quán sát như vậy th́ ư thức có thể ngộ nhập duy thức, rồi cái ư thức đó cũng bị chế ngự và siêu thoát.

Lược Giải.-

Đa thức luận là căn cứ chuyển thức mà xác lập duy thức, bằng 3 dạng. Dạng một "không thật", là các pháp không có ǵ thật cả, nên toàn là duy thức. Dạng hai "2 phần", th́ kiến phần là đối tượng hóa nhận thức, tướng phần là nhận thức hóa đối tượng, nên là duy thức. Dạng ba "đa dạng" (nhiều thứ) là 11 thức (tất cả các pháp) toàn liên hệ với thức, nên đều duy thức.

Sau đa thức luận, sự xác lập duy thức c̣n căn cứ ư thức luận, nhất là c̣n căn cứ bản thức (a lại da). Cả 2 sự căn cứ này nên nói trước ở đây cho dễ hiểu. Căn cứ ư thức luận mà xác lập duy thức là quy nạp chuyển thức lại nơi ư thức, ư thức chủ phát mọi phân biệt và ấn tượng, nên đều là duy thức. Căn cứ bản thức mà xác lập duy thức th́ các pháp (11 thức) là tướng phần, chuyển thức (ư thức và mọi thức nó dựa vào) là kiến phần, chủ thể của tất cả 2 phần này là bản thức, nên toàn bộ là duy thức.

Số 1: Lấy Một Ư Thức Mà Xác Lập Duy Thức

Chính Văn.-

Ở đây có một số vị nói chỉ có một ư thức; một ư thức này phát sinh theo cái ǵ th́ được tên cái ấy, như tư nghiệp của ư mà gọi là thân nghiệp khẩu nghiệp. Thêm nữa, khi ư thức phát sinh theo mọi cái sở y th́ sinh ra nhiều thứ ấn tượng mà qui nạp lại là 2 thứ ấn tượng: có thật và phân biệt (65B) . Và thêm nữa, mọi chỗ, ư thức cũng phát sinh theo ấn tượng nó tiếp xúc, v́ trong thế giới có h́nh sắc th́ chính ư thức dựa vào cái thân, như những sắc căn đều dựa vào cái thân ấy.

Số 2: Dẫn Kinh Làm Chứng Cho Sự Xác Lập Ấy

Chính Văn.-

Trong đây có 1 bài chỉnh cú: Đi xa xôi, và đi một ḿnh, không thân thể, và ngủ trong hang, ai điều phục được cái tâm khó điều phục ấy, th́ Như lai gọi là phạn chí chân thật. Lại như trong kinh nói lĩnh vực mà 5 căn đi th́ ư thức tiếp nhận được hết, v́ nó là chỗ dựa cho 5 căn. Thêm nữa, trong 12 xứ thường nói th́ 6 thức gọi là ư xứ.

Đoạn 2: Căn Cứ Tướng Kiến Của Bản Thức Mà Xác Lập Duy Thức

Chính Văn.-

Nếu chỗ nào qui định a lai da là thức thật, th́ ở đó tất cả 11 thức khác là tướng phần, ư thức trong đó và mọi thức nó dựa vào là kiến phần. Do tướng phần vừa nói là duyên tố phát sinh kiến phần vừa nói, nên khi sự tựa như thật có biểu hiện, th́ làm chỗ dựa cho kiến phần phát khởi. Như thế đó gọi là xác lập các thức (các pháp) là duy thức.


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ] [Kinh sách]