[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Mục 3: Nói 4 Trí Mà Xác Lập Duy Thức

 

Chính Văn.-

Mọi sự hiện tiền rơ ràng mà không phải thật có, sự đó làm sao thấy được? Như đức Thế tôn đă dạy, nếu bồ tát thành tựu 4 trí, th́ có thể ngộ nhập duy thức chứ không phải thực có. Một là cái trí biết sự mâu thuẫn, là biết như ngạ quỉ, bàng sinh, cùng với chư thiên, nhân loại, cùng nơi một sự mà sự thấy biết khác nhau. Hai là cái trí biết không có đối cảnh mà thức vẫn có, là biết như quá khứ, vị lai, và những mộng ảnh mà vẫn có cái biết biết chúng. Ba là cái trí biết đáng lẽ không dụng công mà vẫn không thác loạn, là biết như cái biết biết đối cảnh hiện thời đáng lẽ không thác loạn ǵ, không do dụng công mà vẫn biết đúng sự thật. Bốn là được 3 cái trí tùy chuyển: thứ nhất là được cái trí tùy thắng giải lực của định tự tại mà đối cảnh biểu hiện; thứ hai là được cái trí tùy tác ư lực của tu pháp quán mà đối cảnh biểu hiện; thứ ba là được cái trí tùy trí vô phân biệt mà thấy đối cảnh biểu hiện không có ǵ là thật cả (66) . Do 3 cái trí ở đây với 3 cái biết ở trên mà đạo lư đối cảnh không thật được xác lập.

Lược Giải.-

Đoạn này lấy mặt trái mặt phải, mặt có mặt không, đặc biệt mặt biết và mặt được biết, chứng minh các pháp không thật: không thật là duy thức.

Tiết 1: Giải Thích 3 Tướng

Chính Văn.-

Nếu y tha là duy thức, làm chỗ dựa cho đối cảnh không thật được biểu hiện ra, th́ sao thành y tha? tại sao gọi là y tha? Từ chủng tử huân tập mà phát sinh, do duyên tố khác như vậy nên gọi là y tha; một sát na sau khi sinh ra, không có năng lực ǵ, (chỉ dựa vào sự tương quan) mà vẫn tồn tại, nên gọi là y tha. Biến kế th́ dựa vào y tha, thật không có mà biểu hiện như có, th́ sao thành biến kế? tại sao gọi là biến kế? Vô số cái biết toàn là cái biết thác loạn của ư thức biến kế, nên gọi là biến kế, bản thân thật không có, chỉ có cái mà biến kế chấp, nên gọi là biến kế. C̣n viên thành là biến kế vĩnh viễn không c̣n, th́ sao thành viên thành? tại sao gọi là viên thành? Viên thành nghĩa là tánh không biến đổi, lại là đối tượng của tuệ giác thanh tịnh, là tối thắng của tất cả thiện pháp: v́ cái nghĩa tối thắng này mà gọi là viên thành.

Tiết 2: Giải Thích Riêng Biến Kế

Chính Văn.-

Có năng biến kế, có sở biến kế, biến kế mới thành. Vậy ở đây năng biến kế là ǵ? sở biến kế là ǵ? cái ǵ là tự tánh của biến kế? Nên nhận thức rằng ư thức (67) là năng biến kế, v́ nó là chủ thể phân biệt - Tại sao, v́ nó lấy sự danh ngôn huân tập của bản thân nó mà làm chủng tử, lại lấy sự danh ngôn huân tập của tất cả 11 thức khác mà làm chủng tử, nên ư thức có vô số cái biết và vô số sự phân biệt sinh ra, nó phân biệt kế đạt khắp cả toàn thể, nên gọi là biến kế. C̣n y tha là sở biến kế. Lại biến kế làm cho y tha thành cái sở biến kế, nên biến kế được gọi là biến kế chấp (68) . Biến kế chấp là nghĩa như vậy.

Thêm nữa, biến kế tại sao có thể kế đạt khắp cả? Nó vin đối cảnh nào? Nó lấy đối tượng nào? Nó do cái ǵ mà chấp trước? Nó lấy ǵ khởi lên ngôn ngữ ? Nó lấy ǵ nói năng? Nó thêm lên cái ǵ? Nó vin tên gọi mà làm đối cảnh. Nó lấy y tha mà làm đối tượng. Nó do vọng kiến mà chấp trước. Nó do sự tầm cầu mà khởi lên ngôn ngữ. Nó do thấy nghe hay biết, 4 thứ nói ấy mà nói năng. Nó thêm sự có nơi đối cảnh không thật có. Do tất cả những điều trên đây mà nó có thể kế đạt khắp cả.


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ] [Kinh sách]