[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Đoạn 1: Giải Thích 3 Tướng

 

Chính Văn.-

Chư vị Thế tôn đă nói giáo lư cao rộng trong đại thừa. Giáo lư ấy nói nên nhận thức biến kế như thế nào? Nên nhận thức rằng nếu dùng mặt khác th́ nói là không thật có. Nên nhận thức y tha như thế nào? Nên nhận thức ví như ảo thuật, sóng nắng, chiêm bao, ảnh tượng, bóng sáng, tiếng dội, trăng nước, biến hóa. Nên nhận thức viên thành như thế nào? Nên nhận thức là 4 pháp thanh tịnh. Bốn pháp thanh tịnh là ǵ? Một là tự tánh thanh tịnh, tức là chân như, không, thật tế, vô tướng, thắng nghĩa, pháp giới. Hai là ly cấu thanh tịnh, là chính tự tánh thanh tịnh đă thoát ly tất cả chướng ngại dơ bẩn. Ba là đắc thử thanh tịnh, là tất cả bồ đề phần pháp, ba la mật đa, v/v. Bốn là sinh thử thanh tịnh, là pháp giáo đại thừa, vi diệu, chân chánh - Pháp giáo này là cái mà tuệ giác thanh tịnh biết đến nên không phải là biến kế, là cái từ pháp giới tối thanh tịnh đẳng lưu ra nên không phải y tha. Bốn pháp như vậy thống nhiếp hết tất cả các pháp thanh tịnh. Ở đây có 2 bài chỉnh cú: 1 và 2. Như ảo thuật v/v là nói về (y tha) cái được sinh ra. Nói không thật là nói về (biến kế) sự được kế chấp. Nói 4 thanh tịnh là nói về viên thành: tự tánh, ly cấu (72) ..., là cái mà tuệ giác thanh tịnh biết đến, và tất cả các pháp thanh thịnh đều thống nhiếp trong 4 pháp thanh tịnh này.

Đoạn 2: Nói 8 Dụ Y Tha

Chính Văn.-

Lại nữa, v́ lư do ǵ mà trong kinh nói những ví dụ y tha như ảo thuật v/v? V́ để loại bỏ những mối nghi ngờ không đúng đối với y tha. Những mối nghi ngờ không đúng đối với y tha là thế nào? Là họ nghi ngờ như vầy đối với y tha: (Một), tại sao không thật mà lại thành ra đối tượng được biết? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ ảo thuật. (Hai), tại sao không thật mà có tâm và tâm sở sinh ra? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên sự ví dụ sóng nắng. (Ba), tại sao không thật mà có những sự hưởng chịu đáng ưa đáng ghét khác nhau? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ chiêm bao. (Bốn), tại sao không thật mà có những quả báo đáng ưa đáng ghét của thiện nghiệp và ác nghiệp khác nhau? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ ảnh tượng. (Năm), tại sao không thật mà có các thức phát sinh? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ bóng sáng. (Sáu), tại sao không thật mà lại có những ngôn ngữ phát sinh? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ tiếng dội. (Bảy), tại sao không thật mà có đối tượng của các định biết thật? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ trăng nước. (Tám), tại sao không thật mà các vị bồ tát đem tâm trí không thác loạn cố ư thọ sinh (trong sinh tử) để làm những sự lợi ích chúng sinh ? V́ loại bỏ nghi ngờ này nên nói sự ví dụ biến hóa (73) .

Mục 2: Thông Thích Kinh Phạn Vấn

Chính văn.-

V́ sao đức Thế tôn đă mật ư nói như sau, trong kinh Phạn vấn: Như lai không sinh tử, không niết bàn? Ấy là Ngài nói theo cái mật ư: nơi y tha, biến kế với viên thành, tức sinh tử với niết bàn, không có sai khác. Tại sao, v́ chính nơi y tha, do mặt biến kế mà thành sinh tử, do mặt viên thành mà thành niết bàn.

Mục 3: Thông Thích Kinh Đại Thừa A T́ Đạt Ma

Chính Văn.-

Trong kinh Đại thừa a t́ đạt ma, đức Thế tôn nói pháp có 3 thứ: một là tạp nhiễm, hai là thanh tịnh, ba là hai phần ấy. Ngài đă căn cứ mật ư nào mà nói như vậy? Nơi y tha, biến kế là tạp nhiễm, viên thành là thanh tịnh, và y tha khởi lên 2 phần ấy: đức Thế tôn đă căn cứ mật ư này mà nói như trên. Nghĩa này có thể biểu thị bằng ví dụ nào? Có thể biểu thị bằng ví dụ khối vàng đất. Như trong khối vàng đất có 3 thứ thấy được: một là địa giới (74) , hai là đất, ba là vàng. Trong địa giới, đất không thật mà hiện thấy có, c̣n vàng là thật th́ không thấy; khi luyện bằng lửa th́ đất không c̣n mà vàng hiện ra. Thêm nữa, nơi địa giới, khi đất hiện ra là hư vọng biểu hiện, khi vàng hiện ra là chân thật biểu hiện, nên địa giới là cả 2 phần ấy; thức cũng vậy, khi lửa trí vô phân biệt chưa đốt cháy nung luyện th́ nơi thức ấy biến kế biểu hiện mà viên thành không biểu hiện, khi thức ấy được lửa trí vô phân biệt đốt cháy nung luyện th́ nơi thức ấy viên thành biểu hiện mà biến kế không biểu hiện. Do vậy, nơi y tha là cái thức phân biệt có cả 2 phần, như trong khối vàng đất có cả 2 thứ vàng và đất.

Đoạn 1: Trường Hàng

Chính Văn.-

Đức Thế tôn có chỗ nói các pháp thường, có chỗ nói các pháp vô thường, có chỗ nói các pháp không phải thường không phải vô thường. Ngài đă dựa vào mật ư nào mà nói như vậy? Nơi y tha, do viên thành nên thường, do biến kế nên vô thường, do đủ cả 2 phần nên không phải thường không phải vô thường: đức Thế tôn đă căn cứ mật ư này mà nói như vậy. Như thường, vô thường và không phải cả hai, th́ khổ, vui và không phải cả hai, tịnh, bất tịnh và không phải cả hai, không, bất không và không phải cả hai, ngă, vô ngă và không phải cả hai, tịch tịnh, không tịch tịnh và không phải cả hai, có tự tánh, không tự tánh và không phải cả hai, sinh, bất sinh và không phải cả hai, diệt, bất diệt và không phải cả hai, bản lai tịch tịnh, không phải bản lai tịch tịnh và không phải cả hai, tự tánh niết bàn, không phải tự tánh niết bàn và không phải cả hai, sinh tử, niết bàn và không phải cả hai, cũng là như vậy. Đại loại như vậy, những sự sai biệt mà toàn là ngôn ngữ mật ư của đức Thế tôn, hăy do 3 tánh mà quyết liễu cho thích hợp, như trên đă nói tiết mục thường, vô thường.

Đoạn 2: Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Ở đây có 5 bài chỉnh cú: 1. Như các pháp th́ thật không có, nhưng như các pháp biểu hiện th́ không phải một thứ: không phải pháp và không phải phi pháp như vậy, nên nói đến cái nghĩa không hai. 2. Căn cứ một mặt nhiễm hay một mặt tịnh mà nói th́ hoặc có hoặc không phải có, nhưng căn cứ cả 2 mặt mà nói th́ không phải có không phải không có. 3. Như sự biểu hiện (của biến kế th́) không phải có, nên nói là không; nhưng cũng do sự biểu hiện như vậy nên nói là có. 4. (Vị lai th́ sinh ra) không phải tự nhiên, (quá khứ qua rồi th́) tự thể đă không, (c̣n hiện tại tuy có mà) tự tánh không cố định, như sự chấp thủ (của biến kế) th́ không có, (do 4 sự như vậy) nên chủ trương rằng (các pháp) không có tự tánh. 5. Do sự không có tự tánh mà làm căn cứ cho những kết luận sau đây : bất sinh bất diệt, bản lai tịch tịnh, tự tánh niết bàn.

Tiết 2: Căn Cứ 4 Ư Thú Và Bí Mật Mà Lư Giải Mọi Phật Ngôn

Chính Văn.-

Lại có 4 thứ ư thú và 4 thứ bí mật, đối với Phật ngôn, hăy tùy đó mà quyết liễu. Bốn ư thú, một là ư thú b́nh đẳng, là như nói Như lai xưa kia, vào lúc ấy, chỗ ấy, có danh hiệu là đấng chánh biến giác Thắng quán; hai là ư thú khác th́, là như nói ai niệm danh hiệu đức Đa bảo như lai th́ thế là đối với tuệ giác vô thượng đă được quyết định, lại như nói chỉ cần phát nguyện th́ thế là văng sinh thế giới Cực lạc; ba là ư thú khác nghĩa, là như nói nếu đă gặp gỡ và phụng sự hằng sa chư Phật th́ đối với đại thừa mới lư giải được ; bốn là ư thú do người, là như v́ một người mà trước khen bố thí sau chê bố thí, như đối với sự bố thí th́ đối với sự giữ giới và một phần thiền định thế gian cũng vậy. Như vậy gọi là 4 thứ ư thú (75) .

C̣n 4 thứ bí mật, một là bí mật dẫn vào, là trong thanh văn thừa hay trong đại thừa, y theo thế tục đế mà nói có ngă, lại nói có pháp; hai là bí mật về tướng, là ở đây nói các pháp tướng bằng cách nói 3 tự tánh; ba là bí mật đối trị, là ở đây nói hành tướng đối trị có đến 84 ngàn; bốn là bí mật chuyển biến, là ở đây đem lời chữ khác mà biểu thị ư nghĩa khác, như có bài chỉnh cú nói: Biết sự không kiên cố là kiên cố, khéo sống trong sự đảo ngược, th́ cùng cực sự năo loạn của phiền năo mà được tuệ giác tối thượng (76) .

Mục 1: Do Nói Về Duyên Khởi

Chính Văn.-

Có ai muốn làm sự giải thích về pháp đại thừa, th́ đại khái nên do 3 tiết mục mà làm sự giải thích ấy: một là do nói về duyên khởi, hai là do nói về pháp tướng được duyên sinh, ba là do nói về ngữ nghĩa (77) . Trong đây nói về duyên khởi là như có bài chỉnh cú nói: Do danh ngôn huân tập mà sinh ra các pháp, rồi cái này lại từ cái kia, nên dị thục với chuyển thức làm nhân duyên cho nhau (78) .

Lược Giải.-

Duyên khởi là chủng tử sinh hiện hành và hiện hành sinh chủng tử. Nhưng ở đây nói duyên khởi là gồm cả 2 loại duyên khởi.

Mục 2: Do Nói Về Duyên Sinh

Chính Văn.-

Chuyển thức có tướng có kiến, và tự tánh là thức (79) . Chuyển thức lại lấy chỗ dựa làm sắc thái, lấy sở chấp làm sắc thái, lấy pháp tánh làm sắc thái (80) , do vậy mà biểu thị 3 tánh tướng, như có chỉnh cú nói: Từ chuyển thức có tướng có kiến mà nhận thức về 3 tướng. Giải thích (để nhận thức) về 3 tướng như thế nào? Nơi y tha, biến kế th́ không, viên thành th́ có; do 2 sự không với có này mà, khi chưa thấy chân lư và khi đă thấy chân lư, đều cùng lúc không được và được: nơi y tha v́ không biến kế và v́ có viên thành, nên khi chuyển theo nhiễm tịnh, th́ phàm phu được biến kế là không được viên thành, thánh giả được viên thành là không được biến kế. Như có bài chỉnh cú nói: Nơi y tha, biến kế th́ không mà viên thành th́ có, nên được với không được đều như nhau (81) .

Lược Giải.-

Pháp duyên sinh chính là y tha, được phát sinh từ chủng tử nơi a lại da. Nhưng nói y tha là nói đủ cả 3 tướng, lúc mê cũng như lúc ngộ. Lúc mê th́ nơi y tha chỉ thấy biến kế (ngă pháp) mà không thấy viên thành (chân như), lúc ngộ th́ trái lại.

Mục 3: Do Nói Về Ngữ Nghĩa

Chính Văn.-

Nói về ngữ nghĩa là trước nói câu đầu, sau đem những câu khác mà phân tách biểu thị. Làm như vậy là hoặc do đức, hoặc do nghĩa. Do đức là như nói về công đức (82) của Phật: Tuệ giác cực kỳ trong sạch v́ (1) hiện hành bất nhị, (2) đạt đến vô tướng, (3) đứng vào chỗ đứng của các đức Thế tôn, (4) thể hiện tính b́nh đẳng của các Ngài, (5) đến chỗ không c̣n chướng ngại, (6) giáo pháp không thể khuynh đảo, (7) tâm thức không bị cản trở, (8) cái được thiết lập không thể nghĩ bàn, (9) biết rơ như nhau đối với mọi việc quá khứ hiện tại và vị lại, (10) thân h́nh bủa ra khắp các thế giới, (11) các pháp th́ thông suốt, (12) các hạnh th́ toàn hảo, (13) trí biết không c̣n nghi hoặc, (14) thân hiện không có phân biệt, (15) là tuệ giác mà tất cả bồ tát cầu mong, (16) chứng được cái thân đồng nhất của chư Phật mà đứng ở bờ bến tối thượng bên kia, (17) thực hiện một cách không c̣n hỗn tạp về giải thoát và diệu trí của các đức Thế tôn, (18) toàn chứng cảnh Phật không có chính giữa cũng không có bên cạnh, (19) cùng tận pháp giới, (20) khắp không gian, (21) và suốt th́ gian (83) . Tuệ giác cực kỳ trong sạch, nên biết câu này do 21 câu tiếp theo phân tích biểu thị, như vậy mới là khéo thuyết pháp. Tuệ giác cực kỳ trong sạch là tuệ giác cực kỳ trong sạch của đức Thế tôn, nên biết tuệ giác ấy thống nhiếp 21 công đức của Ngài: (1) triệt để không c̣n bị chướng ngại đối với các pháp sở tri, (2) nhập vào một cách tối thắng, thanh tịnh, đối với chân như có không bất nhị, (3) ở trong trạng thái không ngừng nghỉ của việc Phật không c̣n dụng công, (4) trong pháp thân, ư lạc và việc làm không có dị biệt, (5) tu luyện sự đối trị hết thảy chướng ngại, (6) chiến thắng hết thảy ngoại đạo, (7) sống trong đời mà không bị đời gây trở ngại, (8) thiết lập chánh pháp, (9) thọ kư, (10) thị hiện thân biến hóa và thân thọ dụng trong tất cả thế giới, (11) loại trừ hoài nghi, (12) làm cho nhập vào các diệu hạnh, (13) phát sinh diệu trí đối với các pháp đương lai, (14) thị hiện đúng như thắng giải của mọi người, (15) làm căn cứ cho vô số sự nỗ lực điều phục chúng sinh, (16) thành măn các pháp ba la mật của pháp thân b́nh đẳng, (17) tùy theo thắng giải mà thị hiện Phật độ khác nhau, (18) ba loại thân Phật không có giới hạn về phương hướng và nơi chỗ, (19) cùng tận biên cương của sự sinh tử, thường thị hiện lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh, (20) vô giới hạn, [(21) rất cứu cánh].

Chính Văn.-

Do nghĩa là như nói nếu bồ tát thành tựu 32 pháp mới gọi là bồ tát (84) . Ấy là có cái ư lạc tăng thượng làm lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh: (1) làm cho chúng sinh nhập vào trí Nhất thế trí, (2) tự biết nay tôi cần ǵ cái trí giả hiệu (85) , (3) xô dẹp sự ngạo mạn, (4) ư lạc chắc chắn siêu việt, (5) không phải thương xót giả hiệu (86) , (5b) b́nh đẳng đối với người thân kẻ thù, (5c) vĩnh viễn làm thiện hữu cho đến lúc họ được niết bàn mới là giới hạn sau cùng, (6) nói đúng hạn lượng, (6b) mỉm cười chào hỏi trước, (7) đại bi vô hạn, (8) không từ thoái hay khiếp nhược đối với việc phải chịu đựng, (9) không có ư ǵ chán và mệt, (10) nghe nghĩa lư không chán, (11) thấy rất sâu cái lỗi của tội ḿnh làm, (11b) đối với tội người làm th́ dạy bảo mà không giận, (12) luôn luôn tu luyện bồ đề tâm trong mọi cử động, (13) bố thí mà không cầu quả báo, (14) thọ giới giữ giới mà không hướng về các nẻo đường c̣n có sinh tử, (15) nhẫn nhục mà không giận dữ đối với chúng sinh, (16) tinh tiến mà thâu nhiếp hết thảy thiện pháp, (17) thiền định mà bỏ cơi Vô sắc, (18) bát nhă thích ứng với mọi phương tiện, (19) lấy 4 nhiếp pháp mà thống nhiếp mọi phương tiện, (20) coi người giữ giới với người phá giới cùng là thiện hữu, (21) đem ḷng tha thiết mà nghe chánh pháp, (22) đem ḷng tha thiết mà ở nơi thanh vắng, (23) không thích việc tạp ở đời, (24) không bao giờ thích cỗ xe thấp kém, (24b) thấy rất sâu công đức của đại thừa, (25) xa bạn ác, (25b) gần thiện hữu, (26) luôn luôn tu tập 4 thứ phạn trú, (27) thường vận dụng 5 thứ thần thông, (28) nương tựa và đi mau đến tuệ giác, (29) không bỏ chúng sinh nào dầu họ sống theo chánh hạnh hay không sống theo chánh hạnh, (30) nói chắc chắn, (31) trọng chắc thật, (32) tâm đại bồ đề luôn luôn dẫn đầu. Ba mươi hai câu như vậy là chi tiết của câu đầu, ấy là câu có cái ư lạc tăng thượng làm lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh. Câu ư lạc tăng thượng làm lợi ích yên vui này có 16 nghiệp khác nhau, nên biêắt như vậy. Ở đây 16 nghiệp là 1. lần lượt nỗ lực (câu 1), 2. không thác loạn (câu 2), 3. tự nhiên nỗ lực mà không đợi người mời (câu 3), 4. không dao động hư ră (câu 4), 5. không cầu không nhiễm, nghiệp này có 3 câu khác nhau, nên biết như vậy, đó là không nhiễm không hệ lụy (câu 5), không thương ghét người ơn kẻ thù (câu 5b), đời đời thường theo họ (5c), 6. miệng và thân đều xứng đáng, nghiệp này có 2 câu khác nhau, nên biết như vậy, (đó là các câu 6 và 6b), 7. b́nh đẳng bất nhị đối với vui và khổ (câu 7), 8. không thấp kém (câu 8), 9. không thoái chuyển (câu 9), 10. thâu thập phương tiện (câu 10), 11. chán và ghét cái bị đối trị, nghiệp này có 2 câu khác nhau, nên biết như vậy, (đó là các câu 11 và 11b), 12. tác ư không gián đoạn (câu 12), 13. tu hành thắng tiến, nghiệp này có 7 câu khác nhau, nên biết như vậy, đó là sự nỗ lực chính yếu về 6 ba la mật (các câu 13 đến 18) và sự nỗ lực chính yếu về 4 nhiếp pháp (câu 19), 14. nỗ lực thành măn, nghiệp này có 6 câu khác nhau, nên biết như vậy, đó là gần gũi người hiền (câu 20), lắng nghe chánh pháp (câu 21), ở nơi thanh vắng (câu 22), bỏ suy nghĩ ác (câu 23), công đức tác ư, câu này lại có 2 câu khác nhau, nên biết như vậy, (đó là các câu 24 và 24b), công đức và bạn hữu, câu này lại có 2 câu khác nhau, nên biết như vậy (đó là các câu 25 và 25b), 15. thành tựu viên măn, nghiệp này có 3 câu khác nhau, nên biết như vậy, đó là thanh tịnh vô lượng (câu 26), được đại thế lực (câu 27), công đức chứng đắc (câu 28), 16. xây dựng cho người, nghiệp này có 4 câu khác nhau, nên biết như vậy, đó là chế ngự cho họ (câu 29) chỉ dạy chắc chắn (câu 30) tài pháp hợp nhất (câu 31) không tâm tạp nhiễm (câu 32). Tất cả (32 câu bao gồm trong 16 nghiệp) như vậy, nên biết toàn là chi tiết của câu đầu. Như có bài chỉnh cú nói: Do câu đầu mà có những câu chi tiết, nói về đức; do câu đầu mà có những câu chi tiết, nói về nghĩa.

Lược Giải.-

Trong ghi chú 77 đă nói mục ngữ nghĩa là nói về hành (phương pháp luận) và quả (mục đích luận). Chính văn đoạn trên và đoạn này cho thấy đoạn này (nói về nghĩa) là nói về hành của Bồ tát, đoạn trên (nói về đức) là nói về quả của Phật đà. Nhưng, cùng với mục 1 nói về duyên khởi và mục 2 nói về duyên sinh, và mục 3 nói về ngữ nghĩa này, cốt cho thấy do 3 tướng mà giải thích đại thừa là giải thích như thế nào.


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ] [Kinh sách]