[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Nhiếp Luận
HT. Thích Trí Quang dịch giải

2

Chương 1: Cương Yếu Của Đại Thừa

Chính Văn.-

Trong kinh Đại thừa a t́ đạt ma, trước đức Thế tôn, các vị Bồ tát đă khéo ngộ nhập đại thừa (2) , v́ biểu thị đại thừa bản thể vĩ đại, nên nói rằng căn cứ vào đại thừa mà chư vị Thế tôn có 10 ngôn ngữ thù thắng nói về 10 tiết mục thù thắng (3) : một là căn cứ của các pháp sở tri, hai là sắc thái của các pháp sở tri, ba là ngộ nhập các pháp sở tri, bốn là nhân quả của sự ngộ nhập ấy, năm là sự tu tập về nhân quả ấy, sáu là giới tăng thượng trong sự tu tập, bảy là định tăng thượng trong sự tu tập, tám là tuệ tăng thượng trong sự tu tập, chín là đoạn đức của sự tu tập, mười là trí đức của sự tu tập (4) . Do những tiết mục trên đây, đă được nói trong khế kinh đức Thế tôn ấn chứng, mà biểu thị đại thừa thật là Phật thuyết.

Lược Giải.-

Luận này không phải tông luận, mà là thích luận, giải thích phẩm Nhiếp đại thừa của kinh Đại thừa a t́ đạt ma. Phẩm ấy nói về 10 tiết mục, với chủ ư nói rằng v́ những tiết mục ấy thù thắng nên ngôn ngữ diễn đạt những tiết mục ấy cũng thù thắng, nói cách khác, phải có ngôn ngữ thù thắng mới diễn đạt được nghĩa lư thù thắng. Những tiết mục ấy là cương yếu của đại thừa, nên đại thừa là Phật thuyết. Điều này chứng tỏ luận này cốt chống luận cứ đại thừa là ngụy tạo, phi Phật thuyết. Phật thuyết là kinh, kinh có 2 loại, có loại Phật tuyên thuyết, có loại Phật ấn chứng mà bồ tát tuyên thuyết. Kinh Đại thừa a t́ đạt ma là loại 2.

 


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ] [Kinh sách]