[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Chương 4: Tổng Quát Cả Đại Thừa

 

Chính Văn.-

Tại sao 10 tiết mục có thứ tự như vậy? Là v́ (một) các vị Bồ tát trước hết phải khéo biết về căn bản của các pháp th́ mới gọi là khéo biết về các pháp duyên khởi; (hai) kế đó th́ phải khéo biết sắc thái của các pháp duyên khởi th́ mới tách rời được 2 cực đoan thêm và bớt (14) ; (ba) kế đó, vị bồ tát khéo biết này phải chính xác thông suốt, nghĩa là khéo biết về sở thủ (15) , làm cho tâm trí siêu thoát mọi sự chướng ngại; (bốn) kế đó, thông suốt sở thủ rồi th́, trước tiên, đối với 6 độ của da hành vị, v́ chứng đắc nên càng phải thành măn để ư lạc được trong sáng; (năm) kế đó, đối với 6 độ của ư lạc trong sáng, càng phải trải qua 10 địa mà tu tập một cách nỗ lực, tức là phải trải qua 3 đại kiếp vô số (16) ; (sáu đến tám) trong sự tu tập này phải viên măn về 3 học của bồ tát; (chín và mười) viên măn rồi th́ hiện chứng đại niết bàn và đại bồ đề của kết quả sự viên măn ấy. Thứ tự được nói về 10 tiết mục là như vậy, và ở đây đă nói về toàn thể đại thừa một cách trọn vẹn.

Lược Giải.-

Mười tiết mục bao gồm tất cả cảnh, hành, quả, nên đă bao quát đựơc toàn bộ đại thừa. Luận này lấy tên Nhiếp đại thừa là v́ như vậy.

Mục 1: Danh Xưng A Lại Da

Chính Văn.-

Trong 10 tiết mục thù thắng, trước hết, hăy nói về căn cứ của các pháp sở tri. Căn cứ ấy là a lại da. Ở chỗ nào đức Thế tôn đă nói a lại da tên là a lại da? Là trong kinh Đại thừa a t́ đạt ma, đức Thế tôn đă nói như sau, trong một bài chỉnh cú: Là cái nhân từ vô thỉ, a lại da là căn cứ mà tất cả các pháp đồng đẳng nương dựa, do đó mà có mọi nẻo đường sinh tử và có sự chứng được niết bàn (17) . Cũng trong kinh ấy, đức Thế tôn lại c̣n nói bài chỉnh cú sau đây: Là cái chủ thức thâu tàng chủng tử (18) của các pháp, nên mệnh danh là a lại da, đối với những người hơn người th́ Như lai khai thị. Như vậy là đă dẫn chứng trong khế kinh. Nhưng v́ lư do nào mà gọi là a lại da? V́, đối với các pháp tạp nhiễm (19) , nó thâu tàng với đặc tính làm quả, rồi cũng chính nó thâu tàng với đặc tính làm nhân, nên mệnh danh là a lại da; hoặc hữu t́nh thâu tàng làm tự ngă, nên mệnh danh là a lại da (20) .

Lược Giải.-

A lại da là cái căn bản vừa là chủng tử, vừa là hiện hành, lại vừa là tự ngă, nên tên là a lại da.

Mục 2: Danh Xưng A Đà Na

Chính Văn.-

A lại da cũng mệnh danh là a đà na. Ở đây, khế kinh là như kinh Giải thâm mật nói: A đà na thức cực kỳ vi tế, tất cả chủng tử tựa như ḍng nước dốc (21) , Như lai không nói cho phàm phu và tiểu thừa, v́ sợ họ phân biệt chấp làm tự ngă. Nhưng v́ lư do nào mà mệnh danh a lại da là a đà na? Là v́ nó chấp thọ sắc căn, chấp thủ tự thể. Tại sao, v́ các sắc căn do nó chấp thọ mới không biến hoại, tùy chuyển suốt đời; lại lúc mới liên tục kiết sinh th́ nó chấp thủ kiết sinh ấy làm tự thể (22) . Do vậy mà a lại da cũng mệnh danh là a đà na.

Lược Giải.-

Sinh mệnh là biểu hiện của a lại da, nên a lại da có tên là a đà na.

 


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ] [Kinh sách]