[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Nhiếp Luận

HT. Thích Trí Quang dịch giải

4

Chương 1: Tổng Minh Nhân Quả  

Chính Văn.-

Như vậy là đă nói sự ngộ nhập các pháp sở tri rồi, c̣n nhân quả của sự ngộ nhập ấy th́ làm sao thấy được? (Sự ngộ nhập ấy) phải do 6 ba la mật là thí, giới, nhẫn, tiến, định, tuệ. Tại sao do 6 ba la mật làm nguyên nhân mà được ngộ nhập duy thức? Rồi tại sao 6 ba la mật lại làm thành quả của sự ngộ nhập ấy? (Sáu ba la mật làm nguyên nhân) là vị bồ tát này không ham tiền của địa vị, không phạm tịnh giới, với khổ th́ không dao động, với tu th́ không biếng nhác, trong những cái nhân tán động như vậy mà khi chúng không hiện hành th́ tâm chuyên nhất nơi cảnh, như thế là có năng lực quyết trạch các pháp một cách đúng lư, nhập vào duy thức. (Sáu ba la mật làm thành quả) là vị bồ tát này do 6 ba la mật mà ngộ nhập duy thức rồi, chứng được 6 ba la mật thống thuộc cái ư lạc thanh tịnh tăng thượng. V́ vậy, giả sử tách rời sự nỗ lực hiện khởi của 6 ba la mật th́ do cái thắng giải đối với giáo pháp Phật dạy, lại do những tác ư mến trọng, tùy hỷ và vui thích, nên vẫn thường xuyên, không cách hở, thích ứng phương tiện tu tập 6 ba la mật mau được viên măn. Ở đây có 3 bài chỉnh cú: 1. đến 3. (Một) đă tṛn đầy cái pháp trong trắng, (hai) lại được cái nhẫn sắc bén, (ba) nên bồ tát đối với giáo pháp sâu rộng của đại thừa, (bốn) giác ngộ chỉ là phân biệt và được trí vô phân biệt, (năm) hy vọng và thắng giải thanh tịnh nên ư lạc thanh tịnh; (sáu) trước đó và nay đây do giáo pháp đẳng lưu ra mà cùng thấy được chư Phật, (bảy) xác quyết rằng gần với đại bồ đề, bởi v́ không c̣n có sự khó được nữa. Do 3 bài chỉnh cú này mà tổng quát biểu thị cái ư lạc thanh tịnh tăng thượng có 7 sắc thái: (1) tư lương (2) kham nhẫn (3) đối tượng (4) tác ư (5) bản thân (6) điềm tốt (7) lợi cao. Đúng theo sự tuần tự, 7 sắc thái này được các câu chỉnh cú biểu thị, nên biết như vậy.

Mục 1: Nói Về Số Mục

Chính Văn.-

V́ lư do nào mà ba la mật chỉ có 6 số mục? V́ thành lập sự đối trị những nguyên nhân bị đối trị, v́ làm chỗ dựa để chứng đắc pháp của chư Phật, và v́ tùy thuận thành thục cho chúng sinh. V́ muốn đối trị cái nguyên nhân không đi tới, nên lập thí ba la mật và giới ba la mật - nguyên nhân không đi tới là ham tiền của địa vị và nhà cửa vợ con; v́ muốn đối trị cái nguyên nhân làm cho đi tới rồi lại trở lui, nên lập nhẫn ba la mật và tiến ba la mật - nguyên nhân trở lui là đau khổ bởi chúng sinh xúc phạm gây ra khi ḿnh ở trong sinh tử, và biếng nhác đối với sự nỗ lực trường kỳ tu tập thiện pháp; v́ muốn đối trị cái nguyên nhân tuy đă đi tới và không trở lui nhưng hỏng mất, nên lập định ba la mật và tuệ ba la mật - nguyên nhân hỏng mất là mọi thứ tán động và trí tuệ sai lầm ác hại. Như thế đó là v́ thành lập sự đối trị những nguyên nhân bị đối trị nên chỉ qui định có 6 số mục. Lại nữa, 4 ba la mật trước là nhân tố của sự không tán động, 1 ba la mật kế tiếp là thành tựu sự không tán động, sự không tán động này làm chỗ dựa nên biến giác một cách đúng như sự thật về chân lư của các pháp (110) , và thế là có năng lực chứng đắc tất cả Phật pháp. Như thế đó là v́ làm chỗ dựa để chứng đắc pháp của chư Phật nên chỉ qui định có 6 số mục. Do thí ba la mật mà tiếp nhận chúng sinh, do giới ba la mật mà không hại chúng sinh, do nhẫn ba la mật mà nhịn chịu tai hại ḿnh gặp, do tiến ba la mật mà tán trợ việc họ nên làm - do chính những yếu tố tiếp nhận và ích lợi chúng sinh như thế này mà làm cho họ có thể thành thục, nên từ đó sắp đi, ai tâm chưa định th́ làm cho định tĩnh, ai tâm định rồi th́ làm cho giải thoát, và khi khai ngộ cho họ th́ họ được thành thục (111) . Như thế đó là v́ tùy thuận thành thục cho chúng sinh mà chỉ qui định có 6 số mục. Nên biết như vậy.

Đoạn 1: Nói 6 Thứ Tối Thắng

Chính Văn.-

Sắc thái của 6 ba la mật làm sao thấy được? Do 6 thứ hơn hết mà thấy. Một do chỗ dựa hơn hết, là lấy tâm bồ đề làm chỗ dựa. Hai do sự việc hơn hết, là thực hành trọn vẹn. Ba do tiền đề hơn hết, là lấy sự lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh làm tiền đề. Bốn do phương tiện hơn hết, là được trí vô phân biệt tiếp nhận. Năm do hồi hướng hơn hết, là hồi hướng vô thượng bồ đề. Sáu do thanh tịnh hơn hết, là phiền năo và sở tri không c̣n chướng ngại mà nổi lên.

Đoạn 2: Nói 4 Câu Phân Biệt

Chính Văn.-

Thí là ba la mật? hay ba la mật là thí? Có cái là thí mà không phải là ba la mật, (có cái là ba la mật mà không phải là thí, có cái là thí mà cũng là ba la mật, có cái không phải là thí mà cũng không phải là ba la mật), nên làm 4 câu như vậy (112) . Như với thí, với các ba la mật khác cũng làm 4 câu, nên biết đúng cách.

Mục 3: Nói Về Thứ Tự

Chính Văn.-

V́ lư do nào mà 6 ba la mật nói theo thứ tự như vậy? V́ ba la mật trước thích ứng phát sinh ba la mật sau.

 

Mục 4: Nói Về Danh Từ

Chính Văn.-

Sự giải thích danh từ của các ba la mật làm sao thấy được? Đối với thiện pháp bố thí v/v của thế nhân, của thanh văn duyên giác, th́ 6 pháp này rất hơn hết, có năng lực đạt đến bờ bến bên kia, nên gọi chung là ba la mật. Rồi (một) có năng lực phá nát sự keo lẫn, bần cùng, lại có năng lực dẫn ra phước đức tư lương, đem lại tiền tài địa vị rộng lớn, nên gọi là thí. (Hai) có năng lực hủy diệt giới luật ác, nẻo đường ác, lại có năng lực thủ đắc nẻo đường lành, sự đẳng tŕ (113) , nên gọi là giới. (Ba) có năng lực tận diệt phẫn nộ, oán thù, lại có năng lực khéo sống trong sự yên ổn ḿnh người, nên gọi là nhẫn. (Bốn) có năng lực rời xa mọi sự biếng nhác, ác, bất thiện, lại có năng lực xuất sinh và tăng trưởng vô lượng thiện pháp, nên gọi là tiến. (Năm) có năng lực tiêu trừ mọi sự tán động, lại có năng lực dẫn ra sự đứng yên nơi nội tâm, nên gọi là định. (Sáu) có năng lực hủy bỏ mọi kiến thức sai lầm, mọi trí tuệ ác hại. lại có năng lực biết các pháp đúng với chân thật và phẩm loại (114) , nên gọi là tuệ.

Đoạn 1: Nói Chung 5 Sự Tu Tập

Chính Văn.-

Nên biết như thế nào về sự tu tập các pháp ba la mật này? Nên biết sự tu tập ấy đại lược có 5 sự. Một là tu tập bằng sự nỗ lực nổi lên. Hai là tu tập bằng sự thắng giải. Ba là tu tập bằng sự tác ư. Bốn là tu tập bằng sự phương tiện khéo léo. Năm là tu tập bằng sự thành tựu việc làm. Tựu trung, 4 sự tu tập th́ như trước đă nói (115) , c̣n sự thành tựu việc làm là chư vị Như lai th́ việc Phật vận dụng tự nhiên mà không có ngừng nghỉ, đối với các pháp ba la mật mà các Ngài đă viên măn các Ngài lại hoạt dụng các pháp ấy.

Đoạn 2: Nói Riêng Sự Tu Tập Tác Ư

Chính Văn.-

Lại nữa, tu tập bằng sự tác ư là tu tập 6 thứ ư lạc thống nhiếp mọi tác ư mến trọng, tùy hỷ và vui thích: một là ư lạc rộng lớn, hai là ư lạc trường kỳ, ba là ư lạc hoan hỷ, bốn là ư lạc mang ơn, năm là ư lạc chí lớn, sáu là ư lạc thuần lành. (Một) nếu các vị bồ tát trải qua bao nhiêu vô số đại kiếp mới hiện chứng vô thượng bồ đề, trong th́ gian ấy giả sử mỗi một sát na bỏ hết mọi thân mạng, đem 7 thứ quí báu chứa đầy trong hằng sa thế giới mà phụng thí chư vị Như lai, làm như vậy cho đến ngày an tọa trên pháp ṭa bồ đề, vậy mà các vị bồ tát ấy ư lạc về thí vẫn không biết chán và biết đủ; lại cũng trải qua ngần ấy th́ gian, giả sử trong mỗi sát na lửa dữ đầy cả đại thiên thế giới, đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng thiếu thốn mọi thứ để sống, vậy mà giới, nhẫn, tiến, định, tuệ, vẫn thường xuyên hiện hành, cho đến ngày an tọa trên pháp ṭa bồ đề, giới, nhẫn, tiến, định, tuệ, bao nhiêu ư lạc ấy, các vị bồ tát vẫn không biết chán biết đủ, như thế đó gọi là ư lạc rộng lớn của bồ tát. (Hai) chính cái ư lạc không biết chán đă nói, cho đến ngày an tọa trên pháp ṭa bồ đề, các vị bồ tát thường xuyên không cách hở, không ngừng nghỉ, như thế đó gọi là ư lạc trường kỳ của bồ tát. (Ba) các vị bồ tát đem 6 ba la mật của ḿnh mà lợi ích chúng sinh, do việc làm này mà hoan hỷ một cách sâu xa, nỗi hoan hỷ của chúng sinh được lợi ích cũng không sánh bằng, như thế đó gọi là ư lạc hoan hỷ của bồ tát. (Bốn) các vị bồ tát đem 6 ba la mật lợi ích chúng sinh, thấy họ có ơn lớn với ḿnh, không thấy ḿnh có ơn với họ, như thế đó gọi là ư lạc mang ơn của bồ tát. (Năm) các viể bồ tát đem những thiện căn do 6 ba la mật tập hợp được, bằng tâm lư sâu xa, xoay lại mà hiến cho tất cả chúng sinh, làm cho họ được quả báo khả ái và thù thắng, như thế đó gọi là ư lạc chí lớn của bồ tát. (Sáu) các vị bồ tát lại đem những thiện căn do 6 ba la mật tập hợp được, cùng với chúng sinh xoay lại mà cầu vô thượng bồ đề, như thế đó gọi là ư lạc thuần lành. Đó là (thứ nhất) bồ tát tu tập tác ư mến trọng bao gồm 6 thứ ư lạc. Các vị bồ tát đối với vô lượng thiện căn thích ứng tu tập 6 thứ ư lạc của vị bồ tát khác th́ tùy hỷ sâu xa, đó là (thứ hai) bồ tát tu tập tác ư tùy hỷ bao gồm 6 thứ ư lạc. Các vị bồ tát vui thích sâu xa đối với 6 ba la mật thống thuộc 6 thứ ư lạc của tất cả chúng sinh, lại nguyện cho đến ngày an tọa trên pháp ṭa bồ đề, bản thân cùng với 6 ba la mật không bao giờ rời nhau, đó là (thứ ba) bồ tát tu tập tác ư vui thích bao gồm 6 thứ ư lạc. Nếu ai nghe được sự tu tập 3 thứ tác ư bao gồm 6 thứ ư lạc của bồ tát mà chỉ có được một ư nghĩ tin tưởng, vẫn c̣n sinh ra khối phước vô lượng, những nghiệp chướng ác cũng sẽ tiêu tan, huống chi bồ tát.

Mục 6: Nói Về Chi Tiết

Chính Văn.-

Chi tiết của các pháp ba la mật ấy, làm sao nh́n thấy? Phải biết mỗi ba la mật đều có 3 loại. Ba loại của thí là thí chánh pháp, thí tài sản, thí vô úy. Ba loại của giới là giới luật nghi, giới nhiếp thiện pháp, giới lợi ích chúng sinh. Ba loại của nhẫn là nhẫn oán hại, nhẫn khổ sở, nhẫn pháp (116) . Ba loại của tiến là tiến áo giáp (117) , tiến đi tới, tiến không khiếp nhược không thoái chuyển không mừng đủ. Ba loại của định là định an trú, định dẫn phát, định thành sự (118) . Ba loại của tuệ là tuệ da hành vô phân biệt, tuệ căn bản vô phân biệt, tuệ hậu đắc vô phân biệt (119) .

Mục 7: Nói Về Thống Nhiếp

Chính Văn.-

Làm sao thấy được sự thống nhiếp lẫn nhau (120) ? Sáu ba la mật này thống nhiếp được hết thảy thiện pháp, bởi v́ (hết thảy thiện pháp) là sắc thái của 6 ba la mật, là tùy thuận của 6 ba la mật, là đẳng lưu của 6 ba la mật.

Mục 8: Nói Về Sở Trị

Chính Văn.-

Như vậy những thứ bị đối trị của ba la mật là bao gồm các pháp tạp nhiễm, th́ nh́n thấy như thế nào? (Phải thấy) là bản thân, là nguyên nhân và là hậu quả (của mỗi thứ bị đối trị (121) ).

Mục 9: Nói Về Ích Lợi

Chính Văn.-

Những ích lợi thù thắng của 6 ba la mật đạt được, làm sao nh́n thấy? Là các vị bồ tát khi lưu chuyển sinh tử th́ (thí) làm cho giàu sang, (giới) làm cho sinh mạng lớn lao, (nhẫn) làm cho bằng hữu và ḍng họ lớn lao, (tiến) làm cho sự nghiệp lớn lao và hoạt động thành tựu, (định) làm cho bẩm tính nhẹ mỏng trần tục, không có năo hại, (tuệ) làm cho học rành công nghệ và tất cả ngũ minh (122) . (Thêm nữa, và nói tổng quát, th́) đời sống thù thắng, không dẫn ra tội lỗi, cho đến ngày ngồi trên pháp ṭa bồ đề, thường xuyên hiện hành mọi sự nghĩa lợi (123) cho tất cả chúng sinh, đó là lợi ích thù thắng (của 6 ba la mật).

Mục 10: Nói Về Quyết Trạch

Chính Văn.-

Nên nh́n thấy như thế nào về sự quyết trạch lẫn nhau của 6 ba la mật? Là đức Thế tôn đối với tất cả 6 ba la mật này, có chỗ lấy tiếng thí mà nói, có chỗ lấy tiếng giới mà nói, có chỗ lấy tiếng nhẫn mà nói, có chỗ lấy tiếng tiến mà nói, có chỗ lấy tiếng định mà nói, có chỗ lấy tiếng tuệ mà nói. Nói như vậy là có ư thú ǵ? Có nghĩa trong phần da hành (124) của hết thảy ba la mật đều có hết thảy ba la mật hỗ trợ mới thành được. Ư thú là như vậy.

Tiết 2: Kết Bằng Chỉnh Cú

Chính Văn.-

Ở đây có 1 bài chỉnh cú ôn đà nam: Số mục, sắc thái, thứ tự, danh từ, tu tập, chi tiết, thống nhiếp, sở trị, ích lợi, quyết trạch, nên biết như vậy (về 6 ba la mật).


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ][Kinh sách]