[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]
Chương
1: Nói Về Xuất Xứ
Chính Văn.-
Như vậy là đă
nói sự tu tập về nhân quả rồi, c̣n sự
thù thắng của giới tăng thượng trong sự
tu tập ấy th́ làm sao thấy được? Hăy thấy
như đă được nói đến, trong phần
Chính thọ bồ tát giới, thuộc Bồ tát địa
(của luận Du dà sư địa).
Tiết
1: Chi Tiết Thù Thắng
Chính Văn.-
Thêm nữa, nên biết
đại lược do 4 sự thù thắng dưới
đây mà thấy giới tăng thượng này là
thù thắng: một là do sự chi tiết thù thắng,
hai là do học xứ chung với không chung thù thắng,
ba là do sự rộng lớn thù thắng, bốn là do sự
sâu xa thù thắng. (Một), sự chi tiết thù thắng
là bồ tát giới có 3 loại: một là giới luật
nghi, hai là giới nhiếp thiện pháp, ba là giới lợi
ích chúng sinh. Tựu trung, giới luật nghi th́ nên biết
có nghĩa là xây dựng 2 giới nhiếp thiện
pháp và lợi ích chúng sinh, giới nhiếp thiện
pháp th́ nên biết có nghĩa là xây dựng sự tu tập
hết thảy Phật pháp, giới lợi ích chúng sinh
th́ nên biết có nghĩa là xây dựng sự thành thục
hết thảy chúng sinh.
Lược Giải.-
Giới luật nghi xây
dựng 2 giới nhiếp thiện pháp và nhiếp chúng
sinh, lời cắt nghĩa này rất đáng quan tâm.
Tiết
2: Chung Với Không Chung Thù Thằng
Chính Văn.-
(Hai), học xứ
chung với không chung thù thắng, là các vị bồ
tát th́ v́ tất cả tánh tội đều không hiện
hành, nên chung với thanh văn; nhưng giá tội tương
tự (140) th́ có trường hợp hiện hành, nên
không chung với thanh văn. Đối với học xứ
giá tội, có thứ thanh văn phạm mà bồ tát
không phạm, có thứ bồ tát phạm mà thanh văn
không phạm. Thêm nữa, bồ tát có đủ cả
các giới thân miệng ư, thanh văn chỉ có 2 giới
thân miệng, thế nên bồ tát th́ ư cũng có phạm
giới, chứ không phải thanh văn (ư cũng có như
vậy). Chính yếu mà nói, th́ tất cả 3 nghiệp
thân miệng ư không tội lỗi mà lợi ích chúng
sinh, th́ bồ tát nên hiện hành tất cả, nên tu học
tất cả. Như thế đó nên biết gọi
là chung với không chung thù thắng.
Tiết
3: Rộng Lớn Thù Thắng
Chính Văn.-
(Ba), sự rộng lớn
thù thắng th́ lại do 4 thứ rộng lớn nữa:
một là rộng lớn v́ học xứ th́ đủ
loại và vô lượng, hai là rộng lớn v́ phước
đức được thâu đạt rất là vô lượng,
ba là rộng lớn v́ ư lạc th́ muốn lợi ích
yên vui cho tất cả chúng sinh, bốn là rộng lớn
v́ xây dựng th́ xây dựng vô thượng bồ
đề.
Tiết
4: Sâu Xa Thù Thắng
Chính Văn.-
(Bốn), sự sâu xa
thù thắng là các vị bồ tát do loại phương
tiện khéo léo (141) , làm 10 việc sát sinh v/v mà không
có tội lỗi, sinh vô lượng phước, mau chứng
vô thượng bồ đề. Thêm nữa, các vị
bồ tát hiện hành 2 nghiệp thân miệng biến
hóa, th́ nên biết đó cũng là giới pháp sâu xa;
v́ lư do này mà có khi bồ tát làm quốc vương,
thị hiện những việc bức năo chúng sinh,
đặt họ đứng vững vào trong giới
pháp. Thêm nữa, các vị bồ tát thị hiện những
việc bản sinh, làm những sự bức năo chúng
sinh mà thực sự nhiếp hóa chúng sinh, trước
làm cho họ tin tưởng sâu xa, sau đi đến
thành thục. Như thế đó là sự sâu xa thù thắng
của giới pháp mà bồ tát học tập. Do 4 sự
thù thắng đă nói đại lược trên đây,
nên biết luật nghi của bồ tát rất là thù
thắng.
Chương
2: Kết Chỉ Kinh Khác
Chính Văn.-
Chi tiết như vậy
của học xứ bồ tát, nên biết c̣n có vô lượng
chi tiết nữa, như đă được nói trong
khế kinh đại thừa Tỳ nại da cù sa.
Chương
3: Nêu Lên Chi Tiết
Chính Văn.-
Như vậy là đă
nói sự thù thắng của giới tăng thượng
rồi, c̣n sự thù thắng của định
tăng thượng th́ làm sao thấy được?
Đại lược do 6 chi tiết, nên biết như
vậy: một là đối tượng, hai là chủng
loại, ba là đối trị, bốn là năng lực,
năm là dẫn ra, sáu là việc làm.
Tiết
1: Đối Tượng
Chính Văn.-
(Một), đối
tượng của định tăng thượng là lấy
giáo pháp đại thừa mà làm đối tượng.
Tiết
2: Chủng Loại
Chính văn.-
(Hai), chủng loại
của định tăng thượng là định
Đại thừa quang minh, định Tập phước
định vương, định Hiền thủ,
định Kiện hành (142) , v/v, chủng loại vô lượng.
Tiết
3: Đối Trị
Chính Văn.-
(Ba), đối trị
của định tăng thượng là cái trí vin theo
tổng tướng của các pháp, bằng vào cái cách
ví như lấy chốt tháo chốt (143) mà trừ bỏ
tất cả sự thô nặng (144) của 2 chướng
ngại nơi a lại da.
Tiết
4: Năng Lực
Chính Văn.-
(Bốn), năng lực
của định tăng thượng là sống trong
cái vui của thiền định th́ tùy ư muốn mà
thọ sinh (145) .
Tiết
5: Dẫn Ra
Chính Văn.-
(Năm), dẫn ra của
định tăng thượng là dẫn ra thần
thông vô ngại trong mọi thế giới (146) .
Mục
1: Làm Thần Thông
Chính Văn.-
(Sáu), việc làm của
định tăng thượng là chấn động
thế giới, phóng ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp
mọi khu vức, làm cho mọi thế giới trở
nên thấy được, làm cho vật thể chuyển
biến, đi lại trong từng sát na giữa các thế
giới, thu lại và phóng ra cả không gian và th́ gian,
thu mọi sắc tượng vào nơi bản thân,
đến với loài nào th́ hiện ra thân h́nh cùng loại,
hoặc hiện hoặc ẩn, tự do làm cho các loài
biến thể, chế ngự thần thông thấp kém
của người khác, truyền cảm hứng hùng biện
cho người thuyết pháp, và truyền cảm hứng
ghi nhớ và thích thú cho người nghe pháp, phóng ra
ánh sáng lớn những lúc thuyết pháp, dẫn ra những
thần thông lớn lao như vậy.
Đoạn
1: Nói 10 Việc Khó
Chính Văn.-
Lại dẫn ra làm 10
việc khó làm. Mười việc khó làm, một là tự
thệ nguyện: thệ nguyện thụ đắc vô
thượng bồ đề; hai là không thoái lui: những
cái khổ sinh tử không thể làm cho thoái lui; ba là
không ruồng bỏ: không ruồng bỏ những kẻ
làm theo tà hạnh; bốn là khó trước mắt: kẻ
thù mà vẫn làm lợi ích cho họ; năm là không nhuốm
bẩn: sống với đời mà không bị việc
đời làm hôi tanh; sáu là tin khó hiểu: tuy chưa
hiểu đại thừa mà vẫn tin giáo pháp rộng
lớn sâu xa; bảy là thông khó thông: thông suốt nhân
vô ngă và pháp vô ngă; tám là hiểu khó hiểu: hiểu
được những ngôn từ sâu xa bí mật của
đức Như lai tuyên thuyết; chín là không bỏ
nhiễm: không bỏ sinh tử mà không nhiễm sinh tử;
mười là làm khó làm: tu được sự giải
thoát chướng ngại của Phật, cùng tận
biên cương của sinh tử mà vận dụng tự
nhiên, thường xuyên làm việc nghĩa lợi cho chúng
sinh.
Thứ
1: Nói Qua Sự Giải Thích 6 Độ
Chính Văn.-
Thêm nữa, trong việc
(thứ 8) hiểu khó hiểu, là các vị bồ tát hiểu
được những ngôn từ bí mật nào của
đức Như lai tuyên thuyết? Là như khế kinh
nói, (1) tại sao bồ tát cho được, là nếu
bồ tát không cho chút ǵ mà cho cả mười
phương vô lượng thế giới; (2) tại
sao bồ tát thích cho, là nếu bồ tát không ưa thích
mọi sự cho; (3) tại sao bồ tát tin hiểu sâu
xa vào sự cho, là nếu bồ tát không tin đức
Như lai mà cho; (4) tại sao bồ tát khích lệ sự
cho, là nếu bồ tát không tự khích lệ sự
cho; (5) tại sao bồ tát đam mê sự cho, là nếu
bồ tát không tạm thời cho chút ít; (6) tại sao sự
cho của bồ tát rộng lớn, là nếu bồ
tát rời sự phân tán; (7) tại sao sự cho của
bồ tát trong sạch, là nếu bồ tát phát sinh keo lẫn;
(8) tại sao sự cho của bồ tát rốt ráo, là nếu
bồ tát không đứng nơi sự rốt ráo; (9) tại
sao sự cho của bồ tát tự tại, là nếu bồ
tát không tự tại trong sự cho; (10) tại sao sự
cho của bồ tát vô tận, là nếu bồ tát
không đứng nơi sự vô tận (147) . Như sự
thí như vậy, th́ kế tiếp là giới và cuối
cùng là tuệ, tùy sự thích hợp, nên biết cũng
là như vậy.
Thứ
2: Nói Qua Sự Giải Thích 10 Ác
Chính Văn.-
(1) Sát sinh là ǵ, là nếu
cắt đứt sự sinh tử lưu chuyển của
chúng sinh; (2) Lấy cắp là ǵ, là nếu không ai cho cũng
tự thu lấy chúng sinh; (3) Tà hạnh là ǵ, là nếu
biết dâm dục bất chánh mà tu chánh hạnh; (4)
Nói dối trá là ǵ, là nếu nói được sự
dối trá trong sự nói dối trá; (5) Nói ly gián là
ǵ, là nếu thường cư trú trong sự Không tối
thượng; (6) Nói thô ác là ǵ, là nếu khéo léo
đứng yên nơi bờ bến niết bàn; (7) Nói
thêu dệt là ǵ, là nếu nói chính xác mọi chủng
loại và chi tiết của các pháp; (8) Tham dục là
ǵ, là nếu luôn luôn muốn tự chứng đắc
thiền định tối thượng; (9) Sân hận
là ǵ, là nếu chính xác ghét và hủy diệt mọi
thứ phiền năo nơi tâm trí; (10) Tà kiến là ǵ,
là nếu thấy được đúng như sự
thật cái tánh tà đi khắp mọi nơi.
Thứ
3: Nói Qua Sự Giải Thích Pháp Phật Sâu Xa
Chính Văn.-
Pháp của Phật
sâu xa th́ thế nào là pháp của Phật sâu xa? Ở
đây nên giải thích: (1) pháp thường trú là pháp
của Phật, v́ pháp thân của Ngài là thường
trú; (2) pháp đoạn diệt là pháp của Phật,
v́ mọi sự chướng ngại vĩnh viễn
đoạn diệt; (3) pháp sinh khởi là pháp của Phật,
v́ thân biến hóa của Ngài biểu hiện sinh khởi;
(4) pháp thủ đắc là pháp của Phật, v́ 84
ngàn hành vi chúng sinh và sự đối trị của hành
vi ấy đều có thể thủ đắc; (5) pháp
tham lam là pháp của Phật, v́ tự nguyện nhiếp
thọ chúng sinh tham lam làm bản thể của ḿnh; (6)
pháp sân hận là pháp của Phật, (7) pháp ngu si là
pháp của Phật, (8) pháp dị sinh là pháp của Phật,
nên biết cũng là như vậy, (cũng là v́ tự
nguyện nhiếp thọ chúng sinh sân hận, ngu si và dị
sinh làm bản thể của ḿnh); (9) pháp không dơ là
pháp của Phật, v́ thành măn cái chân như mà mọi
chướng ngại dơ bẩn không thể làm dơ;
(10) pháp không bẩn là pháp của Phật, v́ sống
trong đời mà không bị việc đời làm bẩn.
Như thế đó gọi là pháp của Phật sâu
xa.
Mục
3: Làm 4 Việc
Chính Văn.-
Định tăng
thượng lại dẫn ra 4 việc: tu tập 6 ba la
mật, thành thục tất cả chúng sinh, làm sạch
thế giới của Phật, hoàn thành các pháp của
Phật (148) . Nên biết 4 pháp này cũng là việc
làm của định tăng thượng của bồ
tát.
Mục
1: Nêu Lên
Chính Văn.-
Như vậy là đă
nói sự thù thắng của định tăng thượng
rồi, c̣n sự thù thắng của tuệ tăng
thượng th́ làm sao thấy được? Là tự
tánh, sở y, nhân duyên, sở duyên, hành tướng,
nhiệm tŕ, trợ bạn, dị thục, đẳng
lưu, xuất ly, cứu cánh, thắng lợi, sai biệt,
thí dụ, tác sự và thậm thâm (149) của trí vô
phân biệt. Nên biết trí vô phân biệt được
nói như vậy th́ gọi là sự thù thắng của
tuệ tăng thượng.
Đoạn
1: Giải Thích Tự Tánh
Chính Văn.-
Tựu trung, tự tánh
của trí vô phân biệt là không phải 5 trạng
thái: một là không phải không tác ư, hai là không phải
không tầm tư, ba là không phải không thọ tưởng,
bốn là không phải sắc tự tánh, năm là
không phải kế đạt đối với chân như.
Không phải 5 trạng thái như vậy th́ nên biết
đó gọi là trí vô phân biệt.
Lược Giải.-
Trí vô phân biệt dĩ
nhiên không tác ư, tầm tư và thọ tưởng,
nhưng không tác ư như trạng thái hôn mê, không tầm
tư như nhị thiền sắp lên, không thọ tưởng
như diệt tận định th́ không phải là
trí vô phân biệt. Trí này cũng không vô tri giác như
sắc chất. Đối tượng hóa chân như ra
mà kế đạt, sự kế đạt ấy
cũng không phải trí vô phân biệt.
Thứ
1: Tự Tánh
Chính Văn.-
Đối với 16 sắc
thái được xác lập của trí vô phân biệt
như trên đă nói, ở đây lại nói 25 bài chỉnh
cú. 1. Tự tánh của trí vô phân biệt của bồ
tát là không phải 5 trạng thái, nhất là trạng
thái kế đạt chân như.
Thứ
2: Sở Y
Chính Văn.-
2. Sở y của trí
vô phân biệt của bồ tát không phải tâm mà là
tâm, bởi v́ nó không thuộc chủng loại tư
lượng. (149B)
Thứ
3: Nhân Duyên
Chính Văn.-
3. Nhân duyên của trí
vô phân biệt của bồ tát là do đa văn huân tập
cùng với tác ư đúng lư.
Thứ 4: Sở Duyên
Chính Văn.-
4. Sở duyên của
trí vô phân biệt của bồ tát là pháp tánh ly ngôn,
tức chân như vô ngă.
Thứ
5: Hành Tướng
Chính Văn.-
5. Hành tướng của
trí vô phân biệt của bồ tát là, đối với
đối tượng sở duyên, biết đối
tượng ấy là phi sắc thái danh ngôn. 6. Đặc
tính tương ưng là tương ưng với đối
tượng sở phân biệt chứ không phải ǵ
khác, và đối tượng ấy chỉ là những
chữ liên kết lại, triển chuyển thành sự
tương ưng. 7. Không phải tách rời cái năng
thuyên mà có cái sở thuyên để trí biết đến,
nhưng năng thuyên và sở thuyên không phải hoàn
toàn tương đồng, do vậy mà pháp tánh th́ phi
danh ngôn.
Thứ
6: Nhiệm Tŕ
Chính Văn.-
8. Nhiệm tŕ của
trí vô phân biệt của bồ tát là làm cho những bồ
tát hạnh sau đó tiến mau và lớn thêm.
Thứ
7: Trợ Bạn
Chính Văn.-
9. Trợ bạn của
trí vô phân biệt của bồ tát là 5 ba la mật mà
nói ra 2 đạo. (4 ba la mật trước là tư
lương đạo, định ba la mật là y chỉ
đạo).
Thứ
8: Dị Thục
Chính Văn.-
10. Dị thục của
trí vô phân biệt của bồ tát là do phần da hành
của trí ấy mà sinh trong 2 đại hội (tha thọ
dụng và biến hóa) của Phật (149C) .
Thứ
9: Đẳng Lưu
Chính Văn.-
11. Đẳng lưu của
trí vô phân biệt của bồ tát là trong những
đời sau, tự thể của nó hơn thêm lên.
Thứ
10: Xuất Ly
Chính Văn.-
12. Xuất ly của trí
vô phân biệt của bồ tát là nên biết trong 10
địa, (địa thứ nhất rời khỏi hệ
lụy nên) được gọi là được, (các
địa sau thoát khỏi chướng ngại nên)
được gọi là thành.
Thứ
11: Cứu Cánh
Chính Văn.-
13. Cứu cánh của
trí vô phân biệt của bồ tát là chứng
được 3 thân thể thanh tịnh và thành
được 10 tự tại tối thượng.
Thứ
12: Thắng Lợi
Chính Văn.-
14. Trí vô phân biệt
không nhiễm như hư không, là v́ (phần da hành của
nó) chuyển được các ác nghiệp cực nặng,
nhờ vào sự tin hiểu (chân như vô phân biệt).
15. Trí vô phân biệt không nhiễm như hư không,
là v́ (phần căn bản của nó) thoát ly mọi sự
chướng ngại, được gọi là thích
ứng với sự được và thích ứng với
sự thành. 16. Trí vô phân biệt như hư không, là
v́ (phần hậu đắc của nó) thường
đi trong thế gian mà không bị mọi sự của
thế gian làm cho ô nhiễm.
Thứ
13: Sai Biệt
Chính Văn.-
17. Như người
câm muốn biết (mà chưa biết, cũng không nói
được), như người câm biết
được (mà không nói được), như
người không câm biết được (và nói
được): 3 phần của trí vô phân biệt
được ví dụ như vậy. 18. Như người
ngu muốn biết, như người ngu biết
được, như người không ngu biết
được: 3 phần của trí vô phân biệt
được ví dụ như vậy. 19. Như 5 thức
muốn biết, như 5 thức biết được,
như ư thức biết được: 3 phần của
trí vô phân biệt được ví dụ như vậy.
20. Như người chưa hiểu luận văn mà
muốn hiểu, như người hiểu được,
như người hiểu được mà dạy
được: tuần tự ví dụ cho 3 phần da
hành, căn bản và hậu đắc của trí vô
phân biệt. Nên biết như vậy.
Thứ
14: Thí Dụ
Chính Văn.-
21. Như người
nhắm mắt, phần căn bản của trí vô phân
biệt cũng là như vậy; như người
ấy mở mắt, phần hậu đắc của
trí vô phân biệt cũng là như vậy. 22. Nên biết
như hư không, phần căn bản của trí vô
phân biệt cũng là như vậy; như trong hư không
ấy hiện mọi h́nh sắc, phần hậu đắc
của trí vô phân biệt cũng là như vậy.
Thứ
15: Tác Sự
Chính Văn.-
23. Như ngọc
như ư và nhạc khí chư thiên, không tư lượng
mà vẫn thành việc: mọi việc Phật làm,
thành mà không tư lượng th́ cũng như vậy.
Thứ
16: Thậm Thâm
Chính Văn.-
24. Không phải chính nơi
pháp tánh chân như mà cũng không phải nơi nào
khác, không phải trí mà là trí; v́ cùng với pháp tánh
chân như không khác ǵ nhau, nên trí vô phân biệt thành
vô phân biệt. 25. Nên biết pháp tánh của các pháp
là không phân biệt: sở phân biệt là không nên trí
vô phân biệt cũng không.
Tiết
2: Nói Chi Tiết
Chính Văn.-
Ở đây trí vô
phân biệt phần da hành có 3 thứ: do nhân tố, do
dẫn ra, do tập luôn, và đó là do sự phát sinh
mà có khác nhau (150) . Trí vô phân biệt phần căn bản
có 3 thứ: đă đầy đủ, không thác loạn,
không hư luận, và đó là do sự không phân biệt
mà có khác nhau (151) . Trí vô phân biệt phần hậu
đắc có 5 thứ: thông suốt, tùy nghĩ, thiết
lập, tổng hợp, đúng ư, và đó là do sự
tư trạch mà có khác nhau (152) .
Mục
1: Dẫn Kinh Đại Thừa A T́ Đạt Ma Nói Về
Không Phải Thật
Chính Văn.-
Lại có 6 bài chỉnh
cú xác lập trí vô phân biệt như vậy: 1. Ngạ
quỉ, bàng sinh, cùng với chư thiên, nhân loại, mỗi
loài tùy thích ứng mà sự đồng đẳng
nhưng tâm khác biệt, nên tôi cho rằng biến kế
là không thật. 2. Quá khứ, vị lai, mộng ảnh,
2 ấn tượng của hiện cảnh và trong định,
tuy đối tượng không thật có mà ấn tượng
vẫn thành tựu. 3. Nếu sự mà thật th́ không
có trí vô phân biệt, không có trí ấy mà nói Phật
quả chứng đắc th́ vô lư. 4. Bồ tát
được định tự tại th́ do thắng
giải lực mà muốn đất v/v thành ǵ cũng
thành cả. Những người đắc định
khác cũng vậy. 5. Thành tựu sự quyết trạch
là có trí mà được định, th́ tư duy các
pháp, tư duy thế nào biểu hiện như thế.
6. Trí vô phân biệt mà hiện hành th́ mọi sự
không hiển hiện, mà sự không th́ thức cũng
không (153) .
Mục
2: Dẫn Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Nói Về Không Phải
Chỗ
Chính Văn.-
Tuệ ba la mật với
trí vô phân biệt không khác ǵ nhau, như nói bồ tát
đứng nơi bát nhă ba la mật không thích ứng 5
chỗ th́ tu tập viên măn 5 ba la mật khác. Như thế
nào gọi là không thích ứng 5 chỗ mà tu tập
viên măn? Là do xa ĺa 5 chỗ sau đây. Một là xa ĺa
chỗ chấp ngă của ngoại đạo. Hai là xa
ĺa chỗ phân biệt của bồ tát chưa thấy
chân như. Ba là xa ĺa chỗ nhị biên của sinh tử
với niết bàn. Bốn là xa ĺa chỗ mừng đủ
của sự chỉ dứt phiền năo chướng.
Năm là xa ĺa chỗ niết bàn vô dư y không c̣n
đoái hoài ǵ đến lợi ích yên vui cho chúng sinh.
Tiết
4: Nói Thù Thắng
Chính Văn.-
Trí thanh văn với trí bồ tát khác ǵ nhau? Do 5 sắc thái sau đây mà khác nhau, nên biết như vậy. Một là khác v́ không phân biệt, tức không phân biệt các pháp 5 uẩn v/v. Hai là khác v́ không phải phần ít, tức thông đạt chân như, nhập vào lĩnh vực tất cả chủng loại, phổ độ tất cả chúng sinh, chứ không phải chỉ có phần ít mà thôi. Ba là khác v́ vô trú, tức lấy niết bàn vô trú làm chỗ cư trú. Bốn là khác v́ rốt ráo, tức trong niết bàn vô dư y mà không có cùng tận. Năm là khác v́ vô thượng, tức trên cái trí vô phân biệt của đại thừa này không c̣n thừa nào hơn nữa. Ở đây có 1 bài chỉnh cú: Những bậc lấy đại bi làm bản chất, th́ do cái trí có 5 sắc thái hơn cả, mà trong sự thành măn thuộc lĩnh vực thế gian hay sự thành măn thuộc lĩnh vực xuất thế, nên nói rằng những bậc ấy tối cao xa.
[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]