[Trang chủ][Kinh sách]

[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]


Chương 1: Nói Về Xuất Xứ

 

Chính Văn.-

Như vậy là đă nói sự tu tập về nhân quả rồi, c̣n sự thù thắng của giới tăng thượng trong sự tu tập ấy th́ làm sao thấy được? Hăy thấy như đă được nói đến, trong phần Chính thọ bồ tát giới, thuộc Bồ tát địa (của luận Du dà sư địa).

Tiết 1: Chi Tiết Thù Thắng

Chính Văn.-

Thêm nữa, nên biết đại lược do 4 sự thù thắng dưới đây mà thấy giới tăng thượng này là thù thắng: một là do sự chi tiết thù thắng, hai là do học xứ chung với không chung thù thắng, ba là do sự rộng lớn thù thắng, bốn là do sự sâu xa thù thắng. (Một), sự chi tiết thù thắng là bồ tát giới có 3 loại: một là giới luật nghi, hai là giới nhiếp thiện pháp, ba là giới lợi ích chúng sinh. Tựu trung, giới luật nghi th́ nên biết có nghĩa là xây dựng 2 giới nhiếp thiện pháp và lợi ích chúng sinh, giới nhiếp thiện pháp th́ nên biết có nghĩa là xây dựng sự tu tập hết thảy Phật pháp, giới lợi ích chúng sinh th́ nên biết có nghĩa là xây dựng sự thành thục hết thảy chúng sinh.

Lược Giải.-

Giới luật nghi xây dựng 2 giới nhiếp thiện pháp và nhiếp chúng sinh, lời cắt nghĩa này rất đáng quan tâm.

Tiết 2: Chung Với Không Chung Thù Thằng

Chính Văn.-

(Hai), học xứ chung với không chung thù thắng, là các vị bồ tát th́ v́ tất cả tánh tội đều không hiện hành, nên chung với thanh văn; nhưng giá tội tương tự (140) th́ có trường hợp hiện hành, nên không chung với thanh văn. Đối với học xứ giá tội, có thứ thanh văn phạm mà bồ tát không phạm, có thứ bồ tát phạm mà thanh văn không phạm. Thêm nữa, bồ tát có đủ cả các giới thân miệng ư, thanh văn chỉ có 2 giới thân miệng, thế nên bồ tát th́ ư cũng có phạm giới, chứ không phải thanh văn (ư cũng có như vậy). Chính yếu mà nói, th́ tất cả 3 nghiệp thân miệng ư không tội lỗi mà lợi ích chúng sinh, th́ bồ tát nên hiện hành tất cả, nên tu học tất cả. Như thế đó nên biết gọi là chung với không chung thù thắng.

Tiết 3: Rộng Lớn Thù Thắng

Chính Văn.-

(Ba), sự rộng lớn thù thắng th́ lại do 4 thứ rộng lớn nữa: một là rộng lớn v́ học xứ th́ đủ loại và vô lượng, hai là rộng lớn v́ phước đức được thâu đạt rất là vô lượng, ba là rộng lớn v́ ư lạc th́ muốn lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh, bốn là rộng lớn v́ xây dựng th́ xây dựng vô thượng bồ đề.

Tiết 4: Sâu Xa Thù Thắng

Chính Văn.-

(Bốn), sự sâu xa thù thắng là các vị bồ tát do loại phương tiện khéo léo (141) , làm 10 việc sát sinh v/v mà không có tội lỗi, sinh vô lượng phước, mau chứng vô thượng bồ đề. Thêm nữa, các vị bồ tát hiện hành 2 nghiệp thân miệng biến hóa, th́ nên biết đó cũng là giới pháp sâu xa; v́ lư do này mà có khi bồ tát làm quốc vương, thị hiện những việc bức năo chúng sinh, đặt họ đứng vững vào trong giới pháp. Thêm nữa, các vị bồ tát thị hiện những việc bản sinh, làm những sự bức năo chúng sinh mà thực sự nhiếp hóa chúng sinh, trước làm cho họ tin tưởng sâu xa, sau đi đến thành thục. Như thế đó là sự sâu xa thù thắng của giới pháp mà bồ tát học tập. Do 4 sự thù thắng đă nói đại lược trên đây, nên biết luật nghi của bồ tát rất là thù thắng.

Chương 2: Kết Chỉ Kinh Khác

Chính Văn.-

Chi tiết như vậy của học xứ bồ tát, nên biết c̣n có vô lượng chi tiết nữa, như đă được nói trong khế kinh đại thừa Tỳ nại da cù sa.

Chương 3: Nêu Lên Chi Tiết

Chính Văn.-

Như vậy là đă nói sự thù thắng của giới tăng thượng rồi, c̣n sự thù thắng của định tăng thượng th́ làm sao thấy được? Đại lược do 6 chi tiết, nên biết như vậy: một là đối tượng, hai là chủng loại, ba là đối trị, bốn là năng lực, năm là dẫn ra, sáu là việc làm.

Tiết 1: Đối Tượng

Chính Văn.-

(Một), đối tượng của định tăng thượng là lấy giáo pháp đại thừa mà làm đối tượng.

Tiết 2: Chủng Loại

Chính văn.-

(Hai), chủng loại của định tăng thượng là định Đại thừa quang minh, định Tập phước định vương, định Hiền thủ, định Kiện hành (142) , v/v, chủng loại vô lượng.

Tiết 3: Đối Trị

Chính Văn.-

(Ba), đối trị của định tăng thượng là cái trí vin theo tổng tướng của các pháp, bằng vào cái cách ví như lấy chốt tháo chốt (143) mà trừ bỏ tất cả sự thô nặng (144) của 2 chướng ngại nơi a lại da.

Tiết 4: Năng Lực

Chính Văn.-

(Bốn), năng lực của định tăng thượng là sống trong cái vui của thiền định th́ tùy ư muốn mà thọ sinh (145) .

Tiết 5: Dẫn Ra

Chính Văn.-

(Năm), dẫn ra của định tăng thượng là dẫn ra thần thông vô ngại trong mọi thế giới (146) .

Mục 1: Làm Thần Thông

Chính Văn.-

(Sáu), việc làm của định tăng thượng là chấn động thế giới, phóng ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp mọi khu vức, làm cho mọi thế giới trở nên thấy được, làm cho vật thể chuyển biến, đi lại trong từng sát na giữa các thế giới, thu lại và phóng ra cả không gian và th́ gian, thu mọi sắc tượng vào nơi bản thân, đến với loài nào th́ hiện ra thân h́nh cùng loại, hoặc hiện hoặc ẩn, tự do làm cho các loài biến thể, chế ngự thần thông thấp kém của người khác, truyền cảm hứng hùng biện cho người thuyết pháp, và truyền cảm hứng ghi nhớ và thích thú cho người nghe pháp, phóng ra ánh sáng lớn những lúc thuyết pháp, dẫn ra những thần thông lớn lao như vậy.

Đoạn 1: Nói 10 Việc Khó

Chính Văn.-

Lại dẫn ra làm 10 việc khó làm. Mười việc khó làm, một là tự thệ nguyện: thệ nguyện thụ đắc vô thượng bồ đề; hai là không thoái lui: những cái khổ sinh tử không thể làm cho thoái lui; ba là không ruồng bỏ: không ruồng bỏ những kẻ làm theo tà hạnh; bốn là khó trước mắt: kẻ thù mà vẫn làm lợi ích cho họ; năm là không nhuốm bẩn: sống với đời mà không bị việc đời làm hôi tanh; sáu là tin khó hiểu: tuy chưa hiểu đại thừa mà vẫn tin giáo pháp rộng lớn sâu xa; bảy là thông khó thông: thông suốt nhân vô ngă và pháp vô ngă; tám là hiểu khó hiểu: hiểu được những ngôn từ sâu xa bí mật của đức Như lai tuyên thuyết; chín là không bỏ nhiễm: không bỏ sinh tử mà không nhiễm sinh tử; mười là làm khó làm: tu được sự giải thoát chướng ngại của Phật, cùng tận biên cương của sinh tử mà vận dụng tự nhiên, thường xuyên làm việc nghĩa lợi cho chúng sinh.

 

Thứ 1: Nói Qua Sự Giải Thích 6 Độ

Chính Văn.-

Thêm nữa, trong việc (thứ 8) hiểu khó hiểu, là các vị bồ tát hiểu được những ngôn từ bí mật nào của đức Như lai tuyên thuyết? Là như khế kinh nói, (1) tại sao bồ tát cho được, là nếu bồ tát không cho chút ǵ mà cho cả mười phương vô lượng thế giới; (2) tại sao bồ tát thích cho, là nếu bồ tát không ưa thích mọi sự cho; (3) tại sao bồ tát tin hiểu sâu xa vào sự cho, là nếu bồ tát không tin đức Như lai mà cho; (4) tại sao bồ tát khích lệ sự cho, là nếu bồ tát không tự khích lệ sự cho; (5) tại sao bồ tát đam mê sự cho, là nếu bồ tát không tạm thời cho chút ít; (6) tại sao sự cho của bồ tát rộng lớn, là nếu bồ tát rời sự phân tán; (7) tại sao sự cho của bồ tát trong sạch, là nếu bồ tát phát sinh keo lẫn; (8) tại sao sự cho của bồ tát rốt ráo, là nếu bồ tát không đứng nơi sự rốt ráo; (9) tại sao sự cho của bồ tát tự tại, là nếu bồ tát không tự tại trong sự cho; (10) tại sao sự cho của bồ tát vô tận, là nếu bồ tát không đứng nơi sự vô tận (147) . Như sự thí như vậy, th́ kế tiếp là giới và cuối cùng là tuệ, tùy sự thích hợp, nên biết cũng là như vậy.

Thứ 2: Nói Qua Sự Giải Thích 10 Ác

Chính Văn.-

(1) Sát sinh là ǵ, là nếu cắt đứt sự sinh tử lưu chuyển của chúng sinh; (2) Lấy cắp là ǵ, là nếu không ai cho cũng tự thu lấy chúng sinh; (3) Tà hạnh là ǵ, là nếu biết dâm dục bất chánh mà tu chánh hạnh; (4) Nói dối trá là ǵ, là nếu nói được sự dối trá trong sự nói dối trá; (5) Nói ly gián là ǵ, là nếu thường cư trú trong sự Không tối thượng; (6) Nói thô ác là ǵ, là nếu khéo léo đứng yên nơi bờ bến niết bàn; (7) Nói thêu dệt là ǵ, là nếu nói chính xác mọi chủng loại và chi tiết của các pháp; (8) Tham dục là ǵ, là nếu luôn luôn muốn tự chứng đắc thiền định tối thượng; (9) Sân hận là ǵ, là nếu chính xác ghét và hủy diệt mọi thứ phiền năo nơi tâm trí; (10) Tà kiến là ǵ, là nếu thấy được đúng như sự thật cái tánh tà đi khắp mọi nơi.

Thứ 3: Nói Qua Sự Giải Thích Pháp Phật Sâu Xa

Chính Văn.-

Pháp của Phật sâu xa th́ thế nào là pháp của Phật sâu xa? Ở đây nên giải thích: (1) pháp thường trú là pháp của Phật, v́ pháp thân của Ngài là thường trú; (2) pháp đoạn diệt là pháp của Phật, v́ mọi sự chướng ngại vĩnh viễn đoạn diệt; (3) pháp sinh khởi là pháp của Phật, v́ thân biến hóa của Ngài biểu hiện sinh khởi; (4) pháp thủ đắc là pháp của Phật, v́ 84 ngàn hành vi chúng sinh và sự đối trị của hành vi ấy đều có thể thủ đắc; (5) pháp tham lam là pháp của Phật, v́ tự nguyện nhiếp thọ chúng sinh tham lam làm bản thể của ḿnh; (6) pháp sân hận là pháp của Phật, (7) pháp ngu si là pháp của Phật, (8) pháp dị sinh là pháp của Phật, nên biết cũng là như vậy, (cũng là v́ tự nguyện nhiếp thọ chúng sinh sân hận, ngu si và dị sinh làm bản thể của ḿnh); (9) pháp không dơ là pháp của Phật, v́ thành măn cái chân như mà mọi chướng ngại dơ bẩn không thể làm dơ; (10) pháp không bẩn là pháp của Phật, v́ sống trong đời mà không bị việc đời làm bẩn. Như thế đó gọi là pháp của Phật sâu xa.

Mục 3: Làm 4 Việc

Chính Văn.-

Định tăng thượng lại dẫn ra 4 việc: tu tập 6 ba la mật, thành thục tất cả chúng sinh, làm sạch thế giới của Phật, hoàn thành các pháp của Phật (148) . Nên biết 4 pháp này cũng là việc làm của định tăng thượng của bồ tát.

 

Mục 1: Nêu Lên

Chính Văn.-

Như vậy là đă nói sự thù thắng của định tăng thượng rồi, c̣n sự thù thắng của tuệ tăng thượng th́ làm sao thấy được? Là tự tánh, sở y, nhân duyên, sở duyên, hành tướng, nhiệm tŕ, trợ bạn, dị thục, đẳng lưu, xuất ly, cứu cánh, thắng lợi, sai biệt, thí dụ, tác sự và thậm thâm (149) của trí vô phân biệt. Nên biết trí vô phân biệt được nói như vậy th́ gọi là sự thù thắng của tuệ tăng thượng.

 

Đoạn 1: Giải Thích Tự Tánh

Chính Văn.-

Tựu trung, tự tánh của trí vô phân biệt là không phải 5 trạng thái: một là không phải không tác ư, hai là không phải không tầm tư, ba là không phải không thọ tưởng, bốn là không phải sắc tự tánh, năm là không phải kế đạt đối với chân như. Không phải 5 trạng thái như vậy th́ nên biết đó gọi là trí vô phân biệt.

Lược Giải.-

Trí vô phân biệt dĩ nhiên không tác ư, tầm tư và thọ tưởng, nhưng không tác ư như trạng thái hôn mê, không tầm tư như nhị thiền sắp lên, không thọ tưởng như diệt tận định th́ không phải là trí vô phân biệt. Trí này cũng không vô tri giác như sắc chất. Đối tượng hóa chân như ra mà kế đạt, sự kế đạt ấy cũng không phải trí vô phân biệt.

Thứ 1: Tự Tánh

Chính Văn.-

Đối với 16 sắc thái được xác lập của trí vô phân biệt như trên đă nói, ở đây lại nói 25 bài chỉnh cú. 1. Tự tánh của trí vô phân biệt của bồ tát là không phải 5 trạng thái, nhất là trạng thái kế đạt chân như.

Thứ 2: Sở Y

Chính Văn.-

2. Sở y của trí vô phân biệt của bồ tát không phải tâm mà là tâm, bởi v́ nó không thuộc chủng loại tư lượng. (149B)

 

Thứ 3: Nhân Duyên

Chính Văn.-

3. Nhân duyên của trí vô phân biệt của bồ tát là do đa văn huân tập cùng với tác ư đúng lư.

Thứ 4: Sở Duyên

Chính Văn.-

4. Sở duyên của trí vô phân biệt của bồ tát là pháp tánh ly ngôn, tức chân như vô ngă.

Thứ 5: Hành Tướng

Chính Văn.-

5. Hành tướng của trí vô phân biệt của bồ tát là, đối với đối tượng sở duyên, biết đối tượng ấy là phi sắc thái danh ngôn. 6. Đặc tính tương ưng là tương ưng với đối tượng sở phân biệt chứ không phải ǵ khác, và đối tượng ấy chỉ là những chữ liên kết lại, triển chuyển thành sự tương ưng. 7. Không phải tách rời cái năng thuyên mà có cái sở thuyên để trí biết đến, nhưng năng thuyên và sở thuyên không phải hoàn toàn tương đồng, do vậy mà pháp tánh th́ phi danh ngôn.

Thứ 6: Nhiệm Tŕ

Chính Văn.-

8. Nhiệm tŕ của trí vô phân biệt của bồ tát là làm cho những bồ tát hạnh sau đó tiến mau và lớn thêm.

Thứ 7: Trợ Bạn

Chính Văn.-

9. Trợ bạn của trí vô phân biệt của bồ tát là 5 ba la mật mà nói ra 2 đạo. (4 ba la mật trước là tư lương đạo, định ba la mật là y chỉ đạo).

Thứ 8: Dị Thục

Chính Văn.-

10. Dị thục của trí vô phân biệt của bồ tát là do phần da hành của trí ấy mà sinh trong 2 đại hội (tha thọ dụng và biến hóa) của Phật (149C) .

Thứ 9: Đẳng Lưu

Chính Văn.-

11. Đẳng lưu của trí vô phân biệt của bồ tát là trong những đời sau, tự thể của nó hơn thêm lên.

Thứ 10: Xuất Ly

Chính Văn.-

12. Xuất ly của trí vô phân biệt của bồ tát là nên biết trong 10 địa, (địa thứ nhất rời khỏi hệ lụy nên) được gọi là được, (các địa sau thoát khỏi chướng ngại nên) được gọi là thành.

Thứ 11: Cứu Cánh

Chính Văn.-

13. Cứu cánh của trí vô phân biệt của bồ tát là chứng được 3 thân thể thanh tịnh và thành được 10 tự tại tối thượng.

Thứ 12: Thắng Lợi

Chính Văn.-

14. Trí vô phân biệt không nhiễm như hư không, là v́ (phần da hành của nó) chuyển được các ác nghiệp cực nặng, nhờ vào sự tin hiểu (chân như vô phân biệt). 15. Trí vô phân biệt không nhiễm như hư không, là v́ (phần căn bản của nó) thoát ly mọi sự chướng ngại, được gọi là thích ứng với sự được và thích ứng với sự thành. 16. Trí vô phân biệt như hư không, là v́ (phần hậu đắc của nó) thường đi trong thế gian mà không bị mọi sự của thế gian làm cho ô nhiễm.

Thứ 13: Sai Biệt

Chính Văn.-

17. Như người câm muốn biết (mà chưa biết, cũng không nói được), như người câm biết được (mà không nói được), như người không câm biết được (và nói được): 3 phần của trí vô phân biệt được ví dụ như vậy. 18. Như người ngu muốn biết, như người ngu biết được, như người không ngu biết được: 3 phần của trí vô phân biệt được ví dụ như vậy. 19. Như 5 thức muốn biết, như 5 thức biết được, như ư thức biết được: 3 phần của trí vô phân biệt được ví dụ như vậy. 20. Như người chưa hiểu luận văn mà muốn hiểu, như người hiểu được, như người hiểu được mà dạy được: tuần tự ví dụ cho 3 phần da hành, căn bản và hậu đắc của trí vô phân biệt. Nên biết như vậy.

Thứ 14: Thí Dụ

Chính Văn.-

21. Như người nhắm mắt, phần căn bản của trí vô phân biệt cũng là như vậy; như người ấy mở mắt, phần hậu đắc của trí vô phân biệt cũng là như vậy. 22. Nên biết như hư không, phần căn bản của trí vô phân biệt cũng là như vậy; như trong hư không ấy hiện mọi h́nh sắc, phần hậu đắc của trí vô phân biệt cũng là như vậy.

Thứ 15: Tác Sự

Chính Văn.-

23. Như ngọc như ư và nhạc khí chư thiên, không tư lượng mà vẫn thành việc: mọi việc Phật làm, thành mà không tư lượng th́ cũng như vậy.

Thứ 16: Thậm Thâm

Chính Văn.-

24. Không phải chính nơi pháp tánh chân như mà cũng không phải nơi nào khác, không phải trí mà là trí; v́ cùng với pháp tánh chân như không khác ǵ nhau, nên trí vô phân biệt thành vô phân biệt. 25. Nên biết pháp tánh của các pháp là không phân biệt: sở phân biệt là không nên trí vô phân biệt cũng không.

Tiết 2: Nói Chi Tiết

Chính Văn.-

Ở đây trí vô phân biệt phần da hành có 3 thứ: do nhân tố, do dẫn ra, do tập luôn, và đó là do sự phát sinh mà có khác nhau (150) . Trí vô phân biệt phần căn bản có 3 thứ: đă đầy đủ, không thác loạn, không hư luận, và đó là do sự không phân biệt mà có khác nhau (151) . Trí vô phân biệt phần hậu đắc có 5 thứ: thông suốt, tùy nghĩ, thiết lập, tổng hợp, đúng ư, và đó là do sự tư trạch mà có khác nhau (152) .

 

Mục 1: Dẫn Kinh Đại Thừa A T́ Đạt Ma Nói Về Không Phải Thật

Chính Văn.-

Lại có 6 bài chỉnh cú xác lập trí vô phân biệt như vậy: 1. Ngạ quỉ, bàng sinh, cùng với chư thiên, nhân loại, mỗi loài tùy thích ứng mà sự đồng đẳng nhưng tâm khác biệt, nên tôi cho rằng biến kế là không thật. 2. Quá khứ, vị lai, mộng ảnh, 2 ấn tượng của hiện cảnh và trong định, tuy đối tượng không thật có mà ấn tượng vẫn thành tựu. 3. Nếu sự mà thật th́ không có trí vô phân biệt, không có trí ấy mà nói Phật quả chứng đắc th́ vô lư. 4. Bồ tát được định tự tại th́ do thắng giải lực mà muốn đất v/v thành ǵ cũng thành cả. Những người đắc định khác cũng vậy. 5. Thành tựu sự quyết trạch là có trí mà được định, th́ tư duy các pháp, tư duy thế nào biểu hiện như thế. 6. Trí vô phân biệt mà hiện hành th́ mọi sự không hiển hiện, mà sự không th́ thức cũng không (153) .

 

Mục 2: Dẫn Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Nói Về Không Phải Chỗ

Chính Văn.-

Tuệ ba la mật với trí vô phân biệt không khác ǵ nhau, như nói bồ tát đứng nơi bát nhă ba la mật không thích ứng 5 chỗ th́ tu tập viên măn 5 ba la mật khác. Như thế nào gọi là không thích ứng 5 chỗ mà tu tập viên măn? Là do xa ĺa 5 chỗ sau đây. Một là xa ĺa chỗ chấp ngă của ngoại đạo. Hai là xa ĺa chỗ phân biệt của bồ tát chưa thấy chân như. Ba là xa ĺa chỗ nhị biên của sinh tử với niết bàn. Bốn là xa ĺa chỗ mừng đủ của sự chỉ dứt phiền năo chướng. Năm là xa ĺa chỗ niết bàn vô dư y không c̣n đoái hoài ǵ đến lợi ích yên vui cho chúng sinh.

Tiết 4: Nói Thù Thắng

Chính Văn.-

Trí thanh văn với trí bồ tát khác ǵ nhau? Do 5 sắc thái sau đây mà khác nhau, nên biết như vậy. Một là khác v́ không phân biệt, tức không phân biệt các pháp 5 uẩn v/v. Hai là khác v́ không phải phần ít, tức thông đạt chân như, nhập vào lĩnh vực tất cả chủng loại, phổ độ tất cả chúng sinh, chứ không phải chỉ có phần ít mà thôi. Ba là khác v́ vô trú, tức lấy niết bàn vô trú làm chỗ cư trú. Bốn là khác v́ rốt ráo, tức trong niết bàn vô dư y mà không có cùng tận. Năm là khác v́ vô thượng, tức trên cái trí vô phân biệt của đại thừa này không c̣n thừa nào hơn nữa. Ở đây có 1 bài chỉnh cú: Những bậc lấy đại bi làm bản chất, th́ do cái trí có 5 sắc thái hơn cả, mà trong sự thành măn thuộc lĩnh vực thế gian hay sự thành măn thuộc lĩnh vực xuất thế, nên nói rằng những bậc ấy tối cao xa.


[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]

[Trang chủ][Kinh sách]