[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]
Chương
2: Giải Nghi Về 3 Tăng Thượng
Chính Văn.-
Nếu các vị bồ
tát thành tựu giới tăng thượng, định
tăng thượng và tuệ tăng thượng
như vậy, công đức viên măn, tiền tài địa
vị đều đại tự tại, th́ tại
sao hiện thấy có người thiếu thốn tiền
tài địa vị? V́ thấy người ấy có
cái nghiệp nặng trở ngại cho tiền tài địa
vị, v́ thấy người ấy nếu được
cho tiền tài địa vị th́ chướng ngại
cho thiện pháp thượng thặng, v́ thấy người
ấy nếu thiếu thốn tiền tài địa vị
th́ chán bỏ hiện hữu, v́ thấy người
ấy nếu được cho tiền tài địa vị
th́ dồn chứa những nhân tố của pháp bất
thiện, v́ thấy người ấy nếu được
cho tiền tài địa vị th́ thế là gây ra bao
nhiêu nguyên nhân tổn hại người khác: v́ thế
mà hiện thấy có người thiếu thốn tiền
tài địa vị. Ở đây có 1 bài chỉnh cú:
Thấy có nghiệp rất nặng, thấy sinh ra chướng
ngại, thấy không chán hiện hữu, thấy dồn
chứa nhân ác, thấy tổn hại người khác,
nên hiện có những người không cảm ứng
với sự bố thí của bồ tát.
Tiết
1: Nói Thể Tướng
Chính Văn.-
Như vậy là đă
nói sự thù thắng của tuệ tăng thượng
rồi, c̣n sự thù thắng của đoạn đức
của sự tu tập làm sao thấy được?
Đoạn đức là niết bàn vô trú của bồ
tát. Thể tướng của niết bàn ấy là xả
bỏ tạp nhiễm mà không xả bỏ sinh tử,
chuyển y chỗ dựa của 2 phần (sinh tử và
niết bàn). Ở đây, sinh tử là phần tạp
nhiễm nơi y tha, niết bàn là phần thanh tịnh
nơi y tha, chỗ dựa của 2 phần là y tha thông
cả 2 phần. Chuyển y là chính y tha khi nổi lên sự
đối trị th́ chuyển bỏ phần tạp nhiễm
mà chuyển được phần thanh tịnh.
Lược Giải.-
Niết bàn nghĩa là
chính nơi y tha mà chuyển bỏ biến kế tạp
nhiễm, chuyển được viên thành thanh tịnh.
Niết bàn vô trú là bỏ tạp nhiễm (phiền
năo) mà không bỏ sinh tử, nên không trú nơi sinh tử
mà cũng không trú nơi niết bàn. Do vậy, niết
bàn là chuyển y.
Mục
1: Nói Chi Tiết
Chính Văn.-
Chuyển y như vậy
đại lược có 6 trạng thái. Một là chuyển
bằng sự bớt sức mạnh thêm khả năng,
là do thắng giải lực sống trong đa văn huân
tập, lại do có sự hổ thẹn, nên làm cho phiền
năo chỉ hiện hành một phần ít, c̣n một phần
không hiện hành. Hai là chuyển bằng sự thông
đạt, là các vị bồ tát đă nhập đại
địa, (từ địa thứ nhất) đến
địa thứ sáu, trước mắt chân thật
th́ hiển hiện, phi chân thật th́ không hiển hiện.
Ba là chuyển bằng sự tu tập, là (từ địa
thứ bảy) đến địa thứ mười,
c̣n có chướng ngại, hữu tướng không hiển
hiện mà chân thật th́ hiển hiện. Bốn là
chuyển bằng sự viên măn, là vĩnh viễn không
c̣n chướng ngại, hữu tướng không hiển
hiện, chân thật tối thanh tịnh th́ hiển hiện,
đă được tự tại đối với hữu
tướng. Năm là chuyển một cách thấp kém,
là các vị thanh văn chỉ thông đạt
được nhân không vô ngă, một bề chống
sinh tử, một bề bỏ sinh tử. Sáu là chuyển
một cách rộng lớn, là các vị bồ tát thông
đạt cả pháp không vô ngă, chính nơi sinh tử
mà thấy là thanh tịnh, dẫu đoạn tạp nhiễm
mà không bỏ sinh tử.
Lược giải.-
Sáu chuyển y, thứ
6 là đại thừa, thứ 5 là tiểu thừa.
Trong đại thừa lại có 4 chuyển y của 4 bồ
tát vị: giải hành vị, thông đạt vị, tu
tập vị, cứu cánh vị.
Mục
2: Nói Mất Được
Chính Văn.-
Nếu các bồ tát
ở nơi sự chuyển y thấp kém th́ có lỗi
lầm ǵ? Là không đoái hoài đến sự lợi
ích yên vui cho tất cả chúng sinh, trái bỏ tất cả
các pháp bồ tát, chỉ giải thoát như tiểu thừa
thấp kém: đó là lỗi lầm mất mát. Nếu
các bồ tát ở nơi sự chuyển y rộng lớn
th́ có công đức ǵ? Là lấy chuyển y của
đại thừa làm chỗ dựa nên được
tự tại trong sinh tử, thị hiện thân h́nh
chúng sinh trong tất cả nẻo đường sinh tử,
đem những phương tiện điều phục
khéo léo là đời sống thù thắng (của nhân
loại và chư thiên) và giáo pháp 3 thừa (thanh văn
duyên giác bồ tát) mà xây dựng cho chúng sinh được
giáo hóa: đó là công đức nhận được.
Tiết
1: Nói Về Chuyển Y Giải Thoát
Chính Văn.-
Ở đây có 4 bài
chỉnh cú: 1. Phàm phu che khuất chân thật nên một
bề hiển hiện hư vọng. Bồ tát xả bỏ
hư vọng nên một bề hiển hiện chân thật.
2. Nên biết hiển hiện với không hiển hiện,
chân thật với hư vọng, hễ chuyển y th́
giải thoát, tùy ư mà tự tại.
Tiết 2: Nói Về Niết
Bàn Vô Trú
Chính Văn.-
3. Đối với
sinh tử niết bàn, nếu nổi lên cái trí b́nh
đẳng, th́ bấy giờ do đó mà chứng
được sinh tử tức niết bàn. 4. Do vậy,
đối với sinh tử không phải xả bỏ
không phải không xả bỏ, cũng tức là đối
với niết bàn không phải chứng đắc không
phải không chứng đắc.
Chương
1: Nói Thể Tánh
Chính Văn.-
Như vậy là đă
nói sự thù thắng của đoạn đức của
sự tu tập, c̣n sự thù thắng của trí đức
của sự tu tập th́ làm sao thấy được?
Do 3 loại thân Phật mà biết sự thù thắng của
trí đức: một là do tự tánh thân, hai là do thọ
dụng thân, ba là do biến hóa thân. Tựu trung, tự
tánh thân là pháp thân của chư vị Như lai, do các
pháp tự tại chuyển chỗ y cứ; thọ dụng
thân là dựa vào pháp thân, ở tại chúng hội của
chư Phật nơi tịnh độ (154) , thọ dụng
pháp lạc đại thừa; biến hóa thân là cũng
dựa vào pháp thân, từ Đâu suất thiên cung thị
hiện ẩn mất, thọ sinh, thọ dục, vượt
thành xuất gia, đến chỗ ngoại đạo,
tu các khổ hạnh, chứng đại bồ đề,
chuyển đại pháp luân, nhập đại niết
bàn.
Tiết
1: Tổng Tiêu
Chính Văn.-
Ở đây có 1 bài
chỉnh cú ôn đà nam: Tướng, chứng đắc,
tự tại, y chỉ, nhiếp tŕ, sai biệt, đức,
thậm thâm, niệm, nghiệp, nói về (pháp thân của)
chư Phật.
Đoạn
1: Chuyển Y
Chính Văn.-
Pháp thân chư Phật
lấy ǵ làm sắc thái? Nên biết pháp thân đại
lược có 5 sắc thái. Thứ nhất là sắc
thái chuyển y, là chuyển diệt y tha thuộc phần
tạp nhiễm chướng ngại, chuyển
được y tha thuộc phần thanh tịnh, giải
thoát chướng ngại, tự tại với pháp.
Đoạn
2: Bạch Pháp Thành Tựu
Chính Văn.-
Thứ hai là sắc
thái bạch pháp thành tựu, là do 6 ba la mật viên măn
mà được 10 tự tại. Tựu trung, sống
lâu tự tại, tâm thức tự tại và đồ
dùng tự tại, là do viên măn thí ba la mật; nghiệp
tự tại và sinh tự tại là do viên măn giới
ba la mật; thắng giải tự tại là do viên măn
nhẫn ba la mật; nguyện tự tại là do viên
măn tiến ba la mật; thần lực tự tại, thống
nhiếp tất cả ngũ thông, là do viên măn định
ba la mật; trí tự tại và pháp tự tại là do
viên măn tuệ ba la mật (155) .
Đoạn
3: Vô Nhị
Chính Văn.-
Thứ ba là sắc
thái vô nhị, là có không không hai, v́ các pháp không thật
có mà chân không hiển lộ th́ thật có; là hữu
vi vô vi không hai, v́ không làm nghiệp và phiền năo, nhưng
tự tại thị hiện là vẫn có làm; là mâu thuẫn
đồng nhất không hai, v́ chỗ y cứ của chư
Phật th́ không dị biệt, nhưng vô lượng
chúng sinh hiện thành đẳng giác. Ở đây có 2
bài chỉnh cú: 1. V́ ngă chấp không c̣n, nên trong pháp
tánh không c̣n thấy có những cái thân riêng biệt.
Nhưng tùy theo cái thân chứng đắc riêng biệt
ngày trước, nên thiết lập ra khác nhau. 2. Khác
nhau v́ chủng tánh, v́ không rỗng, v́ viên măn, v́
không đầu (156) , chỗ y cứ là pháp tánh thanh tịnh
th́ không riêng biệt, nên chư Phật không phải
nhiều mà cũng không phải một.
Đoạn
4: Thường Trú
Chính Văn.-
Thứ tư là sắc
thái thường trú, v́ chân như th́ thanh tịnh, v́
bản nguyện dẫn ra, v́ việc đáng làm th́
không có cái thời kỳ kết thúc.
Đoạn 5: Bất
Khả Tư Nghị
Chính Văn.-
Thứ năm là sắc
thái bất khả tư nghị, v́ chân như thanh tịnh
chỉ chứng đắc từ bên trong, v́ không có sự
ví dụ nào của thế gian có thể ví dụ
được, v́ không phải là chỗ mà mọi tầm
tư có thể thấu đến.
Mục
2: Chứng Đắc
Chính Văn.-
Pháp thân như vậy
làm sao chứng đắc lúc đầu? Là do trí căn
bản vô phân biệt và trí hậu đắc vô phân
biệt vin theo ấn tượng tổng quát của
pháp đại thừa, khéo tu với 5 sắc thái tu tập
(157) , nơi tất cả bồ tát vị th́ tích tụ
tư lương phước trí, đến kim cang dụ
định th́ phá được chướng ngại
nhỏ nhiệm khó phá, định này vô gián thoát ly tất
cả chướng ngại nên chứng đắc chuyển
y.
Mục
3: Tự Tại
Chính Văn.-
Pháp thân do mấy thứ
tự tại mà tự tại? Đại lược do
5 thứ. Thứ nhất do sự tự tại về quốc
độ, về bản thân, về tướng hảo,
về âm thanh vô biên, về tướng vô kiến
đảnh, ấy là do chuyển chỗ y cứ của
sắc uẩn. Thứ hai do sự tự tại về
cái vui rộng lớn, không tội lỗi và không số
lượng, ấy là do chuyển chỗ y cứ của
thọ uẩn. Thứ ba do sự tự tại về
hùng biện tất cả danh thân, cú thân và văn thân,
ấy là do chuyển chỗ y cứ của tưởng
uẩn. Thứ tư do sự tự tại hóa hiện,
biến đổi, dẫn nhiếp đại chúng, dẫn
nhiếp bạch pháp, ấy là do chuyển chỗ y cứ
của hành uẩn. Thứ năm do sự tự tại
về đại viên cảnh trí, b́nh đẳng tánh
trí, diệu quan sát trí, thành sở tác trí, ấy là do
chuyển chỗ y cứ của thức uẩn.
Mục
4: Y Chỉ
Chính Văn.-
Pháp thân y cứ vào mấy
chỗ? Đại lược vào 3 chỗ. Thứ nhất
do những chỗ y cứ của Phật cư trú.
Ở đây có 2 bài chỉnh cú: 1. Chư Phật
được 5 thứ tánh hỷ là do đẳng chứng
pháp tánh, (các vị thanh văn) không được 5 thứ
tánh hỷ là do không đẳng chứng pháp tánh ấy;
nên ai cầu 5 thứ tánh hỷ th́ phải đẳng
chứng pháp tánh. 2. Một là năng lực vô lượng,
hai là sự thành vô lượng, ba là pháp vị viên
măn, bốn là nghĩa đức viên măn, được
4 sự tánh hỷ này th́ tối thắng, không tội
lỗi, năm là thấy thường vô tận (158) .
Thứ hai do những chỗ y cứ của thọ dụng
thân, chỉ để thành thục cho các vị bồ
tát. Thứ ba do những chỗ y cứ của biến
hóa thân, phần nhiều để thành thục cho các
vị thanh văn v/v.
Mục
5: Nhiếp Tŕ
Chính Văn.-
Nên biết pháp thân do
mấy Phật pháp nhiếp tŕ? Đại lược
do 6 Phật pháp. Một, do thanh tịnh, là chuyển a lại
da mà được pháp thân. Hai, do dị thục, là
chuyển sắc căn mà được trí diể thục.
Ba, do an trú, là chuyển sự ở nơi ngũ dục
mà được ở nơi 4 vô lượng tâm. Bốn,
do tự tại, là chuyển sự tự tại của
các nghiệp vụ tiếp thu mà được sự
tự tại của cái trí thần thông vô ngại qua
lại trong mọi thế giới. Năm, do ngôn ngữ,
là chuyển ngôn ngữ hư luận của mọi thứ
thấy nghe hay biết mà được sự tự tại
của cái trí hùng biện làm cho ḷng chúng sinh vui vẻ.
Sáu, do bạt tế, là chuyển sự cứu vớt mọi
thứ tai nạn lầm lỗi mà thành cái trí cứu vớt
tất cả tai nạn lầm lỗi cho tất cả
chúng sinh. Nên biết pháp thân được 6 pháp như
vậy của Phật thu giữ.
Mục
6: Sai Biệt
Chính Văn.-
Pháp thân chư Phật
nên nói khác nhau? hay nên nói không khác? V́ chỗ y cứ
(là pháp tánh thanh tịnh), v́ ư lạc (cùng muốn cứu
độ chúng sinh) và v́ việc làm (cứu độ
chúng sinh) không khác nhau, nên nên nói không khác; nhưng vô
lượng chúng sinh thành bậc đẳng giác, nên
nên nói có khác. Nói pháp thân như vậy th́ nói thọ
dụng thân cũng vậy: ư lạc và việc làm
không khác nhau, nên nên nói không khác; nhưng không phải
chỉ do chỗ y cứ không khác nhau, mà c̣n vô lượng
thân thể khác nhau (nên nên nói có khác). Nên biết biến
hóa thân nên nói như thọ dụng thân.
Đoạn
1: Nói Các Đức
Chính Văn.-
Pháp thân thích ứng với
mấy đức? Thích ứng với 20 công đức
tối thanh tịnh: 4 tâm vô lượng, giải thoát,
thắng xứ, biến xứ, vô tránh, nguyện trí, 4
trí vô ngại, 6 thần thông, 30 tướng đại
trượng phu, 80 tùy h́nh hảo, 4 tất cả tướng
thanh tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 bất hộ, 3 niệm
trú, bạt nhổ tập khí, sự không quên mất,
đại bi, 18 pháp bất cọng, nhất thế tướng
diệu trí. Ở đây có 16 bài chỉnh cú (nói về
20 công đức mới kê): 1. Kính lạy đấng
thương xót chúng sinh, phát khởi 4 thứ ư lạc:
muốn chúng sinh ḥa đồng cái vui, muốn chúng sinh
xa ĺa nỗi khổ, muốn chúng sinh không mất hoan hỷ,
muốn chúng sinh hưởng mọi lợi lạc (159)
. 2. Kính lạy đấng giải thoát hết thảy
chướng ngại, bậc thánh hơn cả thế
gian, tuệ giác cùng khắp các pháp, đấng tâm giải
thoát như vậy (160) .
Chính Văn.-
3. Kính lạy đấng
diệt được cho chúng sinh tất cả mê hoặc,
không c̣n thừa sót, tổn hại phiền năo, thường
xuyên thương xót những người c̣n có ô nhiễm
(161) . 4. Kính lạy đấng không c̣n dụng công,
không c̣n vướng mắc, không bị ngăn ngại,
thường xuyên tịch định, giải đáp gạn
hỏi (162) .
Chính Văn.-
5. Kính lạy đấng
đối với sự được nói là giáo pháp
sở y và nghĩa lư năng y, đối với sự
nói là ngôn từ và trí tuệ, đều sử dụng
tuệ giác vô ngại mà thường khéo thuyết
pháp (163) . 6. Kính lạy đấng v́ khéo giáo hóa chúng
sinh nên thị hiện phi hành, biết rơ ngôn âm, biết
rơ tâm hành, biết rơ quá khứ, biết rơ vị lai,
ra khỏi phiền năo (164) .
Chính Văn.-
7. Kính lạy đấng
khai đạo, chúng sinh nh́n thấy Ngài th́ ai cũng biết
chắc chắn đó là bậc Thiện sĩ, và nh́n
thấy chốc lát cũng tin tưởng sâu xa (165) . 8.
Kính lạy đấng chứng đắc (4 sự thanh
tịnh toàn bộ), đó là tùy ư giữ hay bỏ sự
sống lâu của thân mạng, biến hóa chất và
biến đổi h́nh của thế giới, định
tâm và trí giác hoàn toàn tự tại (166) .
Chính Văn.-
9. Kính lạy đấng
chế ngự ma vương, kẻ lừa dối chúng
sinh trong 4 sự: phương tiện, qui y, thanh tịnh
và xuất ly (167) . 10. Kính lạy đấng ngoại
đạo không thể thắng được, v́ tự
lợi th́ nói về trí đức và nói về đoạn
đức, lợi tha th́ nói về xuất ly và nói về
chướng ngại (168) .
Chính Văn.-
11. Kính lạy đấng
chế ngự đại chúng, bằng cách ở trong
đại chúng thuyết pháp một cách điều phục
sự chỉ trích của họ; Ngài lại rời bỏ
2 sự dơ bẩn là ưa khen ghét chê. Ngài không phải
giữ ǵn cái ǵ, cũng không có sự quên mất (169)
. 12. Kính lạy đấng không lúc nào không biến
giác chân lư, nên khắp trong mọi cử động
đi đứng nằm ngồi toàn là sự dụng của
trí giác viên minh (170) .
Chính Văn.-
13. Kính lạy đấng
không có sự lăng quên: trong sự lợi ích yên vui cho
chúng sinh, việc Ngài làm thường xuyên không lỡ
cơ hội và không vô hiệu quả (171) . 14. Kính lạy
đấng tâm ư lợi lạc chúng sinh, bằng cách
ngày đêm 6 buổi quan sát toàn thể thế giới,
sự quan sát đi đôi với tâm đại bi (172)
.
Chính Văn.-
15. Kính lạy đấng
hơn hết tất cả thanh văn duyên giác, do hành
do chứng do trí do nghiệp của Ngài (173) . 16. Kính lạy
đấng hủy diệt nghi hoạĂc cho hết thảy
mọi người ở khắp mọi nơi, v́ Ngài
đă chứng đắc trí đại bồ đề
đủ mọi phẩm chất, nghĩa là thủ
đắc tất cả 3 thân (174) .
Đoạn
2: Nói 6 Đức
Chính Văn.-
Pháp thân chư Phật,
ngoài sự thích ứng với các đức như trên,
lại c̣n thích ứng với 6 đức: tánh, nhân, quả,
nghiệp, tương ưng, chuyển hiện. Do đó
pháp thân chư Phật viên măn công đức vô thượng,
nên biết như vậy. Ở đây có 2 bài chỉnh
cú: 1. và 2. (Tánh là chứng đắc) viên thành thắng
nghĩa, (nhân là tu tập) tất cả các địa
mà xuất sinh, (quả là) đạt đến vị
trí trên hết tất cả chúng sinh, (nghiệp là) giải
thoát cho tất cả chúng sinh, (tương ưng là)
thích ứng với các đức vừa vô tận vừa
vô đẳng, (chuyển hiện là hiện biến hóa
thân th́) thế gian thấy được, (hiện thọ
dụng thân th́) đại hội bồ tát thấy
được, (nhưng tự tánh thân th́) không phải
nhân loại chư thiên v/v được thấy.
Mục
8: Sâu Xa
Chính Văn.-
Pháp thân chư Phật
rất sâu xa, cực kỳ rất sâu xa, trạng thái rất
sâu xa ấy làm sao thấy được? Ở đây
có 12 bài chỉnh cú: 1. Chư Phật th́ không thọ
sinh mà thọ sinh, không trú ở mà trú ở, việc
làm th́ toàn là không c̣n dụng công, và ăn là sự
ăn thứ tư (175) . 2. Không khác nhau mà cùng không số
lượng, không số lượng nhưng cùng làm một
việc như nhau, và việc làm có loại không thường
xuyên, có loại thường xuyên, nên Phật th́ đủ
cả 3 thân (176) .
Chính Văn.-
3. Sự hiện hành
đẳng giác th́ không phải có, sự giác ngộ
toàn bộ th́ không phải không; trong mỗi ư nghĩ có
vô số lượng chúng sinh do sự có với sự
không mà hiển lộ ra (là đức Phật) (177) . 4.
Không phải ô nhiễm mà không phải tách rời ô
nhiễm, do dục mà được xuất ly; biết
dục là không dục, ngộ nhập pháp tánh của dục
(178) .
Chính Văn.-
5. Chư Phật siêu
quá các uẩn mà an trú trong các uẩn: Phật cùng với
uẩn không phải đồng nhất không phải dị
biệt, không xả bỏ mà khéo vắng lặng (179) .
6. Chư Phật th́ việc làm viên dung như nước
vào biển cả, nên ta đă làm, ta đang làm, ta sắp
làm, chư Phật không có lối tư duy như vậy
(180) .
Chính Văn.-
7. Chúng sinh v́ tội
chướng mà không hiện thấy Phật, như
đồ bể th́ không có nước và được
mặt trăng hiện ra. Ánh sáng chánh pháp của Phật
tựa như mặt trời soi khắp thế gian,
(nhưng chúng sinh tội chướng th́ như người
mù không thấy được ánh sáng ấy). (181) . 8.
Hoặc thị hiện thành đẳng giác, hoặc thị
hiện nhập niết bàn, như lửa khi đỏ
khi tắt. (Nhưng lửa khi đỏ khi tắt mà)
không bao giờ không có, chư Phật cũng vậy, v́
Phật th́ thường trú (182) .
Chính Văn.-
9. Trong pháp phi thánh,
trong nhân loại và các nẻo ác, trong pháp phi phạn hạnh,
Phật an trú trong tự thể tối thắng (183) .
10. Phật hiện hành khắp nơi mà cũng không hiện
hành một nơi nào; thân Phật hiện hành mọi nơi,
sự đó không phải 6 giác quan biết được
(184) .
Chính Văn.-
11. Phiền năo bị
đàn áp chứ không bị hủy diệt, như
độc tố bị chú lực vô hiệu hóa. Nên bồ
tát để lại phiền năo, cho đến khi phiền
năo hết hẳn th́ chứng được trí toàn
giác của Phật (185) . 12. Phiền năo trở thành
giác phần, sinh tử mà làm niết bàn: v́ đủ
đại phương tiện như vậy nên Phật
th́ bất khả tư nghị (186) .
Chính Văn.-
Nên biết 12 bài chỉnh
cú như trên là nói sự sâu xa có 12 thứ: sự sâu
xa về sinh, trú, nghiệp và ăn, sự sâu xa về
an lập, số lượng và việc làm, sự sâu
xa về hiện thành đẳng giác, sự sâu xa về
ly dục, sự sâu xa về đoạn diệt các uẩn,
sự sâu xa về thành thục chúng sinh, sự sâu xa về
hiển hiện của Phật, sự sâu xa về thị
hiện thành đẳng giác và nhập niết bàn, sự
sâu xa về an trú, sự sâu xa về thị hiện bản
thân, sự sâu xa về đoạn diệt phiền năo,
sự sâu xa về bất khả tư nghị.
Đoạn 1: Nói Về
Niệm Phật
Chính Văn.-
Nếu các bồ tát
niệm pháp thân của Phật, th́ nên niệm bằng
mấy mặt? Đại lược mà nói, th́ bồ
tát niệm pháp thân của Phật bằng 7 mặt sau
đây. Một là chư Phật hoàn toàn tự tại
đối với tất cả các pháp, nên niệm Phật
như vậy, v́ Phật th́ thần thông vô ngại
đối với toàn thể các thế giới hệ.
Ở đây có 1 bài chỉnh cú: Chúng sinh vô lượng,
nhưng có người đủ mọi chướng ngại,
có người thiếu các yếu tố, lại có những
người bị 2 loại quyết định là nghiệp
chướng và báo chướng, đối với mọi
người như vậy th́ Phật không thể tự
tại. Hai là thân chư Phật thường trú, nên niệm
Phật như vậy, v́ Phật th́ chân như đă
vô gián thoát hết dơ bẩn. Ba là chư Phật tối
thắng, không tội lỗi, nên niệm Phật như
vậy, v́ Phật th́ tất cả phiền năo chướng
và sở tri chướng đều đă thoát ly. Bốn
là chư Phật không c̣n dụng công, nên niệm Phật
như vậy, v́ Phật th́ không c̣n dụng công mà mọi
việc Phật làm đều không ngừng nghỉ. Năm
là chư Phật hưởng thụ rất giàu vui, nên
niệm Phật như vậy, v́ tịnh độ của
Phật th́ rất giàu vui. Sáu là chư Phật rời
hết ô nhiễm, nên niệm Phật như vậy, v́
Phật th́ sống trong đời mà việc đời
không thể ô nhiễm. Bảy là chư Phật làm
thành việc lớn, nên niệm Phật như vậy,
v́ Phật th́ thị hiện thành đẳng giác, thị
hiện nhập niết bàn, v/v, tất cả chúng sinh
ai chưa thành thục th́ Phật làm cho thành thục,
ai thành thục rồi th́ Phật làm cho giải thoát.
Ở đây có 2 bài chỉnh cú: 1. và 2. Tự tại,
thường trú, thanh tịnh, không c̣n dụng công, cho
chúng sinh đại pháp lạc, sống khắp nơi mà
không bị ô nhiễm, lợi ích đồng đẳng
cho bao chúng sinh: chư Phật viên măn những mặt như
vậy, người có trí nên niệm chư Phật về
mọi mặt ấy.
Đoạn
2: Nói Về Tịnh Độ
Chính Văn.-
Sắc thái của Phật
độ thanh tịnh, làm sao biết được?
Như trong phẩm tựa của kinh Bách thiên, thuộc
bồ tát tạng, đă nói. Rằng đức Thế
tôn ở trong đại cung điện, nơi
được cấu trúc bằng 7 chất liệu quí
báu rực rỡ hơn hết, phóng ánh sáng lớn chiếu
khắp vô biên quốc độ (1. hiển sắc viên
măn), nơi có vô số khu vức được trang sức
tuyệt diệu và vị trí xen nhau (2. h́nh sắc viên
măn), nơi mà h́nh lượng tràn đầy một cách
vô giới hạn và khó ước tính (3. phần lượng
viên măn), nơi mà h́nh lượng ấy siêu việt lĩnh
vực 3 cơi (4. phương sở viên măn), nơi
được tạo thành bởi loại thiện căn
tối thượng và siêu việt thế gian (5. nhân
viên măn), nơi lấy tâm thức cực trong sạch
và cực tự tại mà làm bản thể (6. quả
viên măn), nơi đức Thế tôn đóng đô (7.
chủ viên măn), nơi các đại bồ tát vân tập
(8. phụ dực viên măn), nơi vô số 8 bộ thường
xuyên tùy tùng (9. quyến thuộc viên măn), nơi sống
bằng sự vui thích mùi vị chánh pháp quảng đại
(10. nhiệm tŕ viên măn), nơi xuất phát mọi sự
ích lợi chân thật cho chúng sinh (11. sự nghiệp
viên măn), nơi dứt tuyệt phiền năo, tai nạn
(12. nhiếp ích viên măn), nơi tách rời các loại
ma (13. vô úy viên măn), nơi được sự trang hoàng
của Phật, một sự trang hoàng vượt quá mọi
sự trang hoàng (14. trú xứ viên măn), nơi lấy
đại niệm, đại tuệ và đại hạnh
mà làm đường đi (15. lộ viên măn), nơi lấy
sự chỉ vĩ đại và sự quán tinh tế
mà làm cỗ xe (16. thừa viên măn), nơi lấy sự
không vĩ đại, sự vô tướng vĩ đại
và sự vô nguyện vĩ đại mà làm cửa vào
(17. môn viên măn), nơi kiến thiết trên hoa sen chúa
làm bằng ngọc lớn và trang trí bởi vô số lượng
công đức (18. y tŕ viên măn). Như thế đó
là nói về 18 sự viên măn (187) của Phật độ
thanh tịnh. Thêm nữa, thọ dụng Phật độ
thanh tịnh như vậy th́ một chiều sạch mầu,
một chiều yên vui, một chiều không tội, một
chiều tự tại.
Lược Giải.-
Tịnh độ
được nói ở đây là thọ dụng độ,
nói xác hơn là tha thọ dụng độ. Tịnh
độ ấy là Hoa tạng thế giới (tượng
trưng bằng đại cung điện) trên Liên hoa
đài tạng (tượng trưng bằng đài hoa
sen). Tịnh độ ấy có 18 sự viên măn và 4 sự
một chiều.
Mục
10: Nghiệp
Chính văn.-
Nên biết pháp giới
chư Phật, trong mọi th́ gian, làm được 5
việc. Một là cứu vớt tai nạn cho tất cả
chúng sinh, v́ chúng sinh gặp Phật th́ thoát được
mọi tai nạn đui, điếc, điên, cuồng,
v/v. Hai là cứu vớt đường dữ, v́ cứu
vớt chúng sinh ra khỏi chỗ dữ mà đặt vào
chỗ lành. Ba là cứu vớt sự phi phương tiện,
v́ làm cho ngoại đạo bỏ những phi
phương tiện cầu được giải thoát,
mà đem họ để vào giáo pháp của đức
Như lai. Bốn là cứu vớt thân kiến, v́ trao
cho họ con đường siêu thoát 3 cơi. Năm là cứu
vớt cỗ xe được đi, v́ cứu vớt
các vị bồ tát muốn đi theo các cỗ xe khác,
các vị thanh văn thuộc loại không cố định,
đem họ đặt cả vào trong đại thừa,
cho họ tu theo cỗ xe vĩ đại. Cũng nên biết
nghiệp dụng của chư Phật trong 5 việc này
là rất b́nh đẳng. Ở đây có 1 bài chỉnh
cú: V́ nguyên nhân, v́ thân thể, v́ chức nghiệp,
v́ khuynh hướng, v́ hoạt động, v́ 5 sự
này riêng biệt nên việc làm khác nhau. Thế nhân v́
5 sự này mà việc làm khác nhau, chư Phật không
có 5 sự này nên không phải việc làm của chư
Phật khác nhau.
Tiết
1: Về Nhất Thừa
Chính Văn.-
Nếu pháp thân, cái
thân thích ứng đầy đủ với công đức,
của chư Phật không phải chung có với thanh văn
và duyên giác, th́ v́ ư ǵ Phật nói về nhất thừa?
Ở đây có 2 bài chỉnh cú: 1. V́ dẫn dắt cho
một loại thanh văn và giữ ǵn cho một số
bồ tát, nghĩa là do những người không cố
định mà Phật nói về nhất thừa (188) .
2. V́ pháp tánh, vô ngă và giải thoát th́ đồng
đẳng, v́ những người thuộc loại không
cố định, v́ thủ đắc 2 ư lạc, v́
thanh văn và duyên giác có một số chỉ là hóa
thân, v́ sự rốt ráo, v́ 8 lư do này mà Phật nói nhất
thừa (189).
Tiết
2: Về Đồng Thời Có Nhiều Phật
Chính Văn.-
Như vậy là chư
Phật đồng nhất pháp thân, thế nhưng Phật
lại có nhiều vị, lư do có thể thấy
được là v́ sao? Ở đây có 1 bài chỉnh
cú: Trong một thế giới không thể có 2 đức
Phật, (nói như vậy vô lư), v́ đồng thời
có vô lượng người viên thành quả vị Phật
đà. Nếu nói vô lượng người ấy tuần
tự kế nhau thành Phật th́ vô lư, nên đồng
thời thành ra có nhiều Phật.
Tiết
3: Về Niết Bàn Không Niết Bàn
Chính Văn.-
Làm sao biết, trong
pháp thân, Phật không rốt ráo có nhập niết
bàn, cũng không rốt ráo không nhập niết bàn?
Ở đây có 1 bài chỉnh cú: V́ tất cả chướng
ngại đều đă giải thoát, nên Phật rốt
ráo có nhập niết bàn; nhưng việc làm của Phật
th́ không bao giờ kết thúc, nên Phật rốt ráo
không nhập niết bàn.
Tiết
4: Về Thọ Dụng Thân Không Phải Tự Tánh
Thân
Chính Văn.-
Tại sao thọ dụng
thân không phải chính là tự tánh thân? V́ 6 lư do. Một,
v́ thọ dụng thân là sắc thân có thể thấy
được. Hai, v́ thọ dụng thân th́ ở trong
vô số chúng hội của chư Phật khác nhau có
thể thấy được. Ba, v́ thọ dụng
thân tùy sự thấy của thắng giải mà tự
tánh không cố định có thể thấy được.
Bốn, v́ thọ dụng thân th́ mỗi cái thấy
khác nhau, tự tánh biến đổi có thể thấy
được. Năm, v́ thọ dụng thân th́ bồ
tát thanh văn, cùng với chư thiên v/v, mỗi chúng hội
xen lẫn với nhau có thể thấy được.
Sáu, v́ a lại da với các chuyển thức chuyển
y không khác nhau, sự phi lư ấy có thể thấy
được. Nên nói thọ dụng thân của Phật
chính là tự tánh thân của Phật là không đúng
lư (190) .
Tiết
5: Về Biến Hóa Thân Không Phải Tự Tánh Thân
Chính Văn.-
Tại sao biến hóa
thân không phải chính là tự tánh thân? V́ 8 lư do. (Một
và Hai), v́ các vị bồ tát từ lâu xa đến
nay đă được định bất thoái, vậy
sinh trong Đâu suất và sinh trong nhân loại th́ không
đúng lư. (Ba), v́ các vị bồ tát từ lâu xa
đến nay thường nhớ đời trước,
vậy không biết chính xác về văn học toán học,
các kyՠnghệ gồm có kyՠnghệ ấn loát, về
hưởng thụ trần dục, th́ không đúng lư.
(Bốn), v́ các vị bồ tát từ lâu xa đến
nay đă biết giáo pháp ác thuyết và giáo pháp thiện
thuyết, vậy đến hỏi ngoại đạo
th́ không đúng lư. (Năm), v́ các vị bồ tát từ
lâu xa đến nay đă khéo biết chánh pháp tam thừa,
vậy tu khổ hạnh của tà kiến th́ không
đúng lư. (Sáu), v́ các vị bồ tát bỏ cả vạn
ức đại lục Thiệm bộ, chỉ thành
đẳng chánh giác và chuyển chánh pháp luân nơi một
chỗ th́ không đúng lư. (Bảy), nếu nói không cần
thị hiện thành đẳng chánh giác, chỉ đem
hóa thân mà làm việc Phật ở mọi nơi khác,
vậy th́ đáng lẽ chỉ thành đẳng chánh
giác ở Đâu suất, và tại sao không qui định
trong tất cả mọi đại lục Thiệm bộ
cùng lúc đều có Phật xuất hiện; đă
không qui định như vậy th́ không giáo cũng không
lư. Dầu có nhiều hóa thân cũng không trái ǵ với
lời nói không có 2 đức Như lai cùng xuất hiện
(trong một thế giới), như 2 vị luân vương
không cùng xuất hiện (một lúc một chỗ), v́
lẽ một 4 đại lục cũng nói là một
thế giới. Ở đây có 1 bài chỉnh cú: Hóa
thân của Phật, (và những hóa thân khác) (190B) , nhiều
chỗ nhập thai cùng lúc, v́ để biểu thị
đây là đấng Nhất thế chủng trí thành
đẳng chánh giác. (Tám), v́ lợi lạc cho hết
thảy chúng sinh mà phát nguyện tu hành, chứng đại
bồ đề, vậy rốt ráo niết bàn th́ không
đúng lư, v́ hạnh nguyện không hiệu quả th́
thành ra có lỗi (191) .
Lược Giải.-
Đoạn này chống
lại lư thuyết tiểu thừa nói hóa thân đă
là pháp thân. Đức Phật mà nay gọi là đức
Phật trong lịch sử, đại thừa nói là
hóa thân, chưa phải pháp thân.
Tiết
6: Về 2 Thân Là Thường
Chính Văn.-
Thọ dụng thân và
biến hóa thân của Phật đă là vô thường,
th́ tại sao trong kinh nói thân Phật là thường? V́
2 thân nương dựa pháp thân, mà pháp thân là thường.
Thêm nữa, v́ thọ dụng thân th́ thường hằng
thọ dụng đại thừa pháp lạc, không có
ngừng nghỉ, nhưng, như nói thường hưởng
vui vẻ (mà thật không phải hưởng luôn); v́
biến hóa thân th́ luôn luôn hóa hiện lợi ích chúng
sinh, không có vĩnh tuyệt, nhưng, như nói thường
cho người ăn (mà thật không phải cho luôn), sự
thường của thân Phật nên biết cũng là
như vậy.
Tiết
7: Về Biến Hóa Thân Không Thường Trú
Chính Văn.-
Do 6 lư do mà biến
hóa thân của chư Phật thị hiện không thường
c̣n. Một là việc làm đă hoàn tất, chúng sinh
thành thục đă giải thoát cả. Hai là muốn
làm cho người bỏ cái tâm lư không ưa niết bàn,
thường cầu cái thân thường trú của Phật.
Ba là muốn làm cho người bỏ cái tâm lư khinh thường
đức Phật, ư thức chánh pháp sâu xa. Bốn là
muốn làm cho người khát ngưỡng đức
Phật một cách sâu xa, nếu để họ thấy
luôn th́ sinh ra nhàm chán. Năm là muốn làm cho người
bản thân tinh tiến, biết đấng nói chánh
pháp th́ khó mà gặp được. Sáu là muốn làm
cho người cấp tốc thành thục, bản thân
tinh tiến, không cởi bỏ cái ách chánh pháp. Ở
đây có 2 bài chỉnh cú: 1. và 2. V́ việc làm đă
xong xuôi, v́ để cho người bỏ cái tâm lư
không ưa niết bàn, bỏ cái tâm lư khinh thường
đức Phật, mà khát ngưỡng đức Phật
một cách sâu xa, mà trong tâm tự sinh tinh tiến, v́
làm cho người cấp tốc thành thục, v́ những
lư do ấy mà chủ trương biến hóa thân của
Phật không rốt ráo thường trú.
Tiết
8: Về Thành Phật Là Phải Có Dụng Công
Chính Văn.-
Pháp thân chư Phật
vô thỉ đến giờ phi diể biệt, phi số
lượng, như vậy không cần v́ chứng đắc
pháp thân ấy mà chúng sinh phải dụng công!? Ở
đây có 1 bài chỉnh cú: Phật chứng đắc
pháp thân phi dị biệt, phi số lượng, sự
chứng đắc ấy là nhân tố cho chúng sinh. Nếu
chúng sinh loại bỏ sự tinh tiến dụng công,
th́ sự chứng đắc ấy chẳng bao giờ
thành nhân tố ǵ cả. Do đó, loại bỏ nhân tố
tinh tiến dụng công th́ không đúng lư.
*
Chính Văn.-
Nhiếp đại thừa,
một phẩm trong kinh Đại thừa a t́ đạt
ma, tôi là Vô trước, đă lược giải hoàn
tất.
dịch:7/6-19/7/2535.
duyệt: 22/7/2535.
[Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5][Phần 6][Phần 7][Phần 8][Phần 9][Phần 10][Phần 11][Phấn 12][Phần 13][Phần 14][Phần 15][Phần 16][Phần 17][Phần 18][Phần 19][Phần 20][Phần 21][Phần 22][Phần 23][Phần 24][Phần 25]