|
PHẦN 10
Như vậy đây là 10 vị đệ tử lớn mà gọi là
thập đại đệ tử đó. Mỗi vị đều được cái đệ nhất, mà mỗi vị đều không kham
đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Để thấy rằng tinh thần ở đây là nêu lên ý
nghĩa, dù cho chúng ta xuất gia mà nếu chúng ta không đạt đến chỗ cứu cánh
bình đẳng, chân thật. Hai phần:
Pháp tức pháp tánh. Thân tức pháp thân.
Pháp tánh và pháp thân không đạt được hai cái đó thì chúng ta chưa đến chỗ
cứu cánh, bình đẳng, chân thật. Muốn đến chỗ cứu cánh, bình đẳng chân thật
thì đứng về thân phải đi thẳng vào pháp thân. Đó mới là cứu cánh.
Bây giờ tới các vị Bồ Tát. Thánh tại sao
còn rơi vào. Thánh có chia ra thánh thấp và thánh cao. Cũng như ở đây mấy
chú, tất cả mấy chú là Tăng hết mà sao có những ông Tăng chấp quá chừng.
Có những ông Tăng ít chấp. Nếu đã là Tăng thì phải giống hệt nhau chớ,
phải không? Tại sao lại có khác? Tại trình độ sai biệt. Bởi trình độ sai
biệt cho nên có khác nhau. Ở đây hai bên không có nghĩa là chống nhau.
Nhưng để khai triển từ cái tướng để đi thẳng vào tánh. Hỗ tương để mình
thấy từ thấp tiến lên cao, chớ không phải các Ngài thù nghịch nhau. Như
bây giờ các chú cãi ầm đó. Không phải? Nghĩa là thuật lại để thấy cái nhìn
của hàng Thanh Văn khác hơn cái nhìn của hàng Bồ tát. Thanh văn còn từ
tướng. Bồ tát đi thẳng vào tánh. Đó là tinh thần khai triển từ thấp tiến
lên cao. Chớ không phải hai bên có chỗ sai biệt.
Lúc nảy như tôi nói muốn tu thì từ thân
này mà tu, mới thấy được pháp thân. Như vậy nhờ cái báo thân hay là ứng
này mà đi thẳng vào pháp thân. Chớ không phải pháp thân nó có thể thị hiện
giáo hóa người ta được. Nhưng nếu nói pháp thân không có lợi ích gì thì
lại trật nữa. Vì pháp thân là cái thể. Ứng thân và hóa thân là cái dụng.
Từ cái thể khởi dụng. Cái dụng thấy như có lợi ích, nhưng lợi ích của dụng
chỉ là lợi ích hư dối để đưa tới chỗ chân thật cứu cánh là pháp thân. Như
vậy pháp thân mới là chỗ chân thật của người tu.
Chữ Bồ tát chúng ta biết hết rồi, khỏi cần
cắt nghĩa, chỉ cần biết rằng đây là qua tới hàng Bồ tát. Hàng Thanh văn là
đệ tử hiện hữu của Phật. Hàng Bồ tát thì có những vị Bồ tát có mặt trong
hội hoặc những vị Bồ tát từ tha phương đến. Cho nên đây nói Bồ tát mà
không nói đệ tử.
Khi ấy Phật bảo Bồ tát Di Lặc:
Thói quen mình cắt nghĩa Bồ Tát Di Lặc
phải không? Nhưng phải nhớ rằng, cũng như nói rằng mấy chú kêu Đại đức A
hay A Đại đức. Tiếng Việt mình kêu A Đại đức hay là Đại đức A? Từ tiếng
Việt thì phải chuyển lại, nhiều khi mình quen, coi như thói quen. Quan Âm
Bồ tát, Thế Chí Bồ tát quen rồi. Đúng ra thì Bồ tát Quán Âm, Bồ tát Thế
Chí. Đây cũng vậy, Bồ tát Di Lặc.
-Ông đi đến thăm bệnh Duy Ma Cật.
Ngài Di Lặc bạch Phật rằng:
-Thế Tôn! Con không kham đến thăm bệnh ông
ấy. Vì cớ sao? Vì con nhớ lại thuở xưa vì Thiên Vương ở cung Trời Đâu Suất
và quyến thuộc của họ nói hạnh bất thối chuyển địa (nhớ chỗ này cho rõ,
bất thối chuyển địa là tu hành không thối chuyển đó). Khi ấy ông Duy Ma
Cật đến bảo con rằng: “Ngài Di Lặc! Đức Thế Tôn thọ ký cho nhân giả một
đời thành Phật.
Vậy là dùng đời nào để được thọ ký cho
nhân giả một đời thành Phật. Vậy là dùng đời nào để được thọ ký ư là đời
quá khứ, đời vị lại hay đời hiện tại?
Nói rằng một đời được thọ ký, bây giờ đặt
câu hỏi một đời là đời nào? Là quá khứ, hay vị lai hay hiện tại. Đây mới
giảng trạch.
Nếu là quá khứ đó thì đời quá khứ đã diệt.
Nếu là đời vị lai thì đời vị lai chưa đến. Nếu là đời hiện tại thì đời
hiện tại không có dừng (hiện tại cũng sanh diệt luôn). Như lời Phật nói:
Này các Tỳ Kheo, nay chính ông khi này (đang lúc này) cũng sanh, cũng già,
cũng chết (chữ diệt là chết). Nay chính ông, cái hiện tại này cũng có
sanh, có già, có chết (dẫn câu đó làm chứng). Như vậy để thấy trong một
đời hiện tại mà có cả sinh, già, chết.
Tức là ngay trong một khoảnh khắc đó có cả
ba tướng: Sanh, già, chết. Như vậy làm sao nói hiện tại cho được. Như vậy
chúng ta mới thấy làm sao? Ở đây Ngài Di Lặc?, Ngài bẻ ở chỗ nói rằng một
đời nữa được thành Phật. Một đời nữa là đời nào? Đời quá khứ hay đời hiện
tại hay đời vị lai? Quá khứ thì đã diệt. Vị lai thì chưa đến. Rồi hiện tại
thì không dừng. Như vậy đời nào là được Phật thọ ký.
Như nói hiện tại, thì Phật trong kinh nói,
Ngài nói với các Ngài Tỳ Kheo thân ông hiện già, nó có sanh, có già cũng
có chết. Nếu nói thân mình hiện giờ sanh, già, chết thì đa số mình ít
thấy. Nhưng xét theo bây giờ ta nói trong tế bào mình nó có sanh, có già,
có chết hiện giờ không? Có những tế bào mới sanh, có những tế bào đã già,
có những tế bào bị loại ra. Như vậy ngay trong thân của mình hiện tại nó
đủ cả ba tướng: Sanh, già, chết. Như vậy làm sao có dừng mà nói cố định là
lúc nào. Nếu do vô sanh được thọ ký thì vô sanh đó là chánh vị. Ở ngôi
chân chính hay là ngôi vị chân thật. Ở trong ngôi vị chân chính đó cũng
không có thọ ký, cũng không được thành Phật. Vì chỗ ????[1][1]
Như cũng được. Chân như có thọ ký, có được thành Phật không? Như vậy chỗ
đó là chỗ không thọ ký, không thành Phật. Còn nếu ở chỗ sanh tức là nó nằm
ở trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Trong ba thời đều không có thật. Nói
rằng được thọ ký là thọ ký ở trong cái sanh hay là thọ ký ở trong cái vô
sanh, phải không? Sanh thì cũng không ổn. Vô sanh thì còn gì thọ ký và còn
gì thành Phật. Như vậy cũng không ổn. Vậy thì tại sao, hay thế nào? Ngài
Di Lặc nhận một đời thọ ký thành Phật ư! Ngài Di Lặc nhận rằng còn một đời
thọ ký thành Phật. Đó là đặt lại câu hỏi.
Sanh thì không được. Còn vô sanh cũng
không được. Là từ như sanh được thọ ký ư!
Là từ như sanh. Như sanh tức là như thật
hay chân như mà sanh được thọ ký ư!
Hay là từ như diệt được thọ ký ư! Như sanh
hay là như diệt. Nếu như sanh mà được thọ ký không được. Như diệt thọ ký
cũng không được.
Tại sao? Nếu do như sanh mà được thọ ký,
như không có sanh. Nếu do như diệt mà được thọ ký thì như không có diệt.
Bởi vì chánh vị là chân như. Nếu từ chân như mà thọ ký thì chân như không
sanh không diệt. Không sanh không diệt thì lấy gì để thọ ký.
Tất cả chúng sanh đều là như. Tất cả pháp
cũng như.
Tất cả chúng sanh đều như đó đứng về mặt
chân như mà nói thì tất cả chúng sanh là như. Tất cả pháp đều như.
Các vị thánh hiền cũng như. Cho đến Ngài
Di Lặc cũng như.
Nếu Ngài Di Lặc được thọ ký thì tất cả
chúng sanh ưng cũng phải được thọ ký vì tất cả đều như. Lý luận của Ngài
như vậy đó. Nếu từ như được thọ ký tức là từ chân như mà được thọ ký thì
tất cả chúng sanh như, hiền thánh như, Di Lặc như. Nếu trên cái như đó mà
được thọ ký, Ngài Di Lặc được thọ ký thì chúng sanh cũng được thọ ký.
Vì cớ sao? Phàm như thì không hai, nó cũng
không khác.
Vì chỗ chân như thì nó còn gì hai, còn gì
khác.
Nếu Di Lặc được vô thượng chánh đẳng chánh
giác thì tất cả chúng sanh đều cũng nên được. Vì cớ sao? Vì tất cả chúng
sanh tức là tướng Bồ đề. Ngài Di Lặc có tướng Bồ đề thì tất cả chúng sanh
cũng có tướng Bồ đề. Nếu Di Lặc được diệt độ thì tất cả chúng sanh cũng
phải được diệt độ. Vì cớ sao? Vì chư Phật biết tất cả chúng sanh cứu cánh
tịch diệt (tức là tướng Niết bàn) không lại, lại có diệt nữa.
Nghĩa là sao? Đã có sẵn tướng Niết bàn thì
làm sao có cái diệt lần thứ hai nữa. Niết bàn là tịch diệt, tất cả chúng
sanh đều có tướng Niết bàn, tức là đều có tướng tịch diệt. Bây giờ không
lẽ lại có tịch diệt lần thứ hai.
Thế nên Di Lặc không có đem pháp này mà
dạy bảo các chư Thiên, các Thiên tử. Thật không có phát tâm vô thượng
chánh đẳng chánh giác, cũng không có thối chuyển.
Vì Ngài Di Lặc đang dạy về hạnh bất thối
chuyển. Bây giờ đứng về mặt thể chân thật, là chân như đó, thì nó không có
tiến, không có lùi, không có sanh, không có diệt, không có đối đãi. Đã
không tiến, không lùi, không sanh, không diệt thì làm sao có phát tâm Bồ
đề. Làm sao có thôí chuyển Bồ đề mà ông dạy hạnh bất thối chuyển.
Này Di Lặc, phải khiến cho những vị Thiên
tử này bỏ cái kiến chấp phân biệt về Bồ đề.
Phân biệt Bồ đề là phân biệt gì? Phân biệt
có thối chuyển Bồ đề và có bất thối chuyển Bồ đề. Dạy hạnh bất thối chuyển
Bồ đề tức là có cái thối chuyển phải không? Thể Bồ đề có thối, bất thối
không? Cho nên nói rằng đừng có dùng kiến chấp này mà dạy các vị Thiên tử.
Vì cớ sao? Vì Bồ đề không có thể do thân
mà được. Cũng không có thể do thân mà được. Cũng không có thể do tâm mà
được. Tịch diệt là Bồ đề vì diệt các tướng.
Bồ đề không thể do thân được, không thể do
tâm được. Đây mới giải thích tại sao lại được Bồ đề.
Tịch diệt là Bồ đề vì diệt các tướng.
Chẳng quán là Bồ đề vì lìa các duyên.
Phần nhiều khi mình quán là mình phân tích
các duyên. Bây giờ nó đã lìa các duyên rồi, còn gì phân tích nữa.
Cho nên nói chẳng quán là Bồ đề vì lìa các
tướng. Chẳng hành là Bồ đề vì không có ức niệm.
Chữ hành này tức là tâm hành. Tâm hành đó
dứt rồi mới gọi là Bồ đề, vì lúc đó không còn có nghĩ, không còn có nhớ.
Đoạn là Bồ đề vì xả các kiến chấp. Lìa là
Bồ đề vì lìa các vọng tưởng.
Như vậy quí vị mới thấy chúng ta buông
vọng tưởng, không theo đó là lìa. Lìa cái đó là Bồ đề, chứ không gì lạ
hết.
Chướng là Bồ đề vì chướng các nguyện.
Câu này dễ hiểu hay khó. Thường thường
mình nói không chướng mới là Bồ đề. Tại sao ở đây nói chướng là Bồ đề, vì
chướng các nguyện. Chướng là ngăn trở. Thường thường nguyện là cái mong
mỏi hay là mong muốn. Tôi mong muốn thế nào đó, cái nguyện tôi như vậy.
Cái nguyện là cái mong muốn. Nhưng đến chỗ chân thật tịch diệt rồi còn
mong muốn hay không? Cho nên nó chận hết, ngăn hết những mong muốn. Ấy là
Bồ đề vì nó ngăn các cái nguyện.
Chẳng nhập là Bồ đề vì không tham trước.
Thường thường nói lục nhập. Tại sao thành
lục nhập? Vì đối với sáu trần còn tham trước. Nó dính với sáu trần cho nên
sáu trần mới vào. Đó là nói về lục nhập của thân. Còn nếu nói thân của
chúng ta, sáu căn cũng còn gọi là lục nhập. Bởi vì sáu căn mà mình còn
thích, còn ham được thân, còn thích được thân thì đó là tham trước. Không
còn tham trước thân, đó là Bồ đề, vì nó không còn tham trước nữa.
Thuận là Bồ đề vì thuận nơi như.
Mình tùy thuận với chân như đó là Bồ đề
thì Bồ đề là tùy thuận chân như.
Trụ là Bồ đề vì trụ pháp tánh.
An trụ nơi pháp tánh đó là Bồ đề.
Đến là Bồ đề vì đến là thật tế.
Bồ đề là chỗ thật tế không còn tướng đối
đãi sinh diệt nữa.
Bất nhị là Bồ đề vì lìa ý pháp.
Luôn luôn ý mình duyên với pháp trần là
hai chứ không rời hai được. Cho nên tới chỗ này là bất nhị. Tại sao? Vì nó
đã lìa ý pháp. Ý duyên với pháp trần. Tất cả những ý niệm chúng ta dấy
nên đều chạy theo pháp trần. Mà pháp trần là đối đãi, cho nên đều là hai.
Đây là bất nhị là Bồ tát vì lìa ý pháp.
Bình đẳng là Bồ đề vì nó bình đẳng như hư
không. Vô vi là Bồ đề vì nó không sinh, trụ và diệt.
Tướng nào còn nằm trong sanh, trụ, diệt
thì gọi đó là hữu vi. Bồ đề này không còn sanh, trụ, diệt cho nên gọi là
vô vi.
Tri là Bồ đề vì rõ biết tâm hành của chúng
sanh.
Nghĩa là khi đạt được Bồ đề rồi thì thấy
tâm hành của chúng sanh thế nào biết hết.
Chẳng hội là Bồ đề vì các cái không nhập.
Chữ hội này là hội họp. Nếu các nhập hội
họp thì có thân hay không có thân. Đó là thành thân. Bây giờ không còn bị
các nhập hội họp nữa thì đó là Bồ đề. Tức là giải thoát sinh tử. Còn có
các nhập chung họp thì còn thân sanh tử. Hết các nhập chung họp rồi tức là
giải thoát sinh tử. Giải thoát sinh tử đó là Bồ đề.
Chẳng hiệp là Bồ đề vì lìa phiền não tập.
Phiền não là do nhóm họp phải không? Phiền
não nhóm họp cũng như là tập đế đó. do phiền não nhóm họp. Bây giờ do nhóm
họp không còn nữa, ấy là Bồ đề vì lìa sự nhóm họp của phiền não.
Vô xứ là Bồ đề vì không có hình sắc.
Cái gì có hình sắc cho nên có xứ sở, có
chỗ nơi. Cái không có hình sắc thì đâu có chỗ nơi. Nên tôi thường hay dẫn,
tôi nói rằng người ta hỏi: “Chân tâm ở chỗ nào?”. Mấy chú nói làm sao?
Chân tâm nó ở trong hay ở ngoài hay chặng giữa. Nó đều không có chỗ. Nếu
nói chỗ là trật là sai. Vì nếu nó có chỗ tức là có nơi chốn. Có nơi chốn
tức là có hình sắc. Chân tâm thì không hình sắc, không nơi chốn. Nếu vừa
nói có nơi chốn thì nó đã trật rồi. Cho nên câu hỏi chỗ nào là câu hỏi
trật. Mình càng trả lời thì càng trật. Hiểu vậy thì mới thấy. Nên ở đây
nói rằng không có chỗ nơi là Bồ đề vì nó không có hình sắc.
Giả danh là Bồ đề vì danh tự là không.
Nghĩa là khi mình biết tất cả ngôn ngữ,
văn tự, tên tuổi... đều không thật, lúc đó là mình sống với Bồ đề vì biết
được văn tự nó không thật.
Như hóa là Bồ đề vì không có thủ xả.
Nếu thấy các pháp như huyễn, như hóa thì
lúc đó đâu có nhiễm, đâu có trước. Cho nên gọi là Bồ đề. Vì lúc đó không
có thủ là nhiểm. Xả là ghét. Tức là ưa thì thủ, ghét thì xả. Bây giờ mình
đã thấy các pháp như huyễn hóa rồi, không còn có cái thủ xả đó. đó là Bồ
đề.
Không loạn là Bồ đề vì thường tự tỉnh.
Tự tỉnh tức là lặng lẽ.
Thiện tịch là Bồ đề vì cái tánh nó thanh
tịnh.
Thiện là khéo, tịch là lặng lẽ. Tức là
khéo lặng lẽ. Đó là Bồ đề vì tánh nó thường trong sạch.
Không thủ là Bồ đề vì lìa các tha duyên.
Không khác là Bồ đề vì các pháp bình đẳng. Không có so sánh là Bồ đề vì
không có cái gì có thể thí dụ được. Vi diệu là Bồ đề vì các pháp khó biết.
Bởi vì nó mầu nhiệm, không thể suy lường
được, đó là Bồ đề. Cho nên nói vì các pháp khó mà biết được.
Bạch Thế Tôn! Khi ông Duy Ma Cật nói pháp
này, 200 Thiên tử được pháp vô sanh nhẫn. Cho nên con không kham đến thăm
bịnh ông ấy.
Như vậy đoạn này chúng ta thấy Ngài Duy Ma
Cật muốn giải thích cho chúng ta hiểu thêm cái nhất sanh bổ xứ của Đức
Phật thọ ký cho Ngài Di Lặc. Chữ thọ ký ở đây là nói rằng thọ ký một đời
nữa sẽ thành Phật. Một đời là gì? Bây giờ mình tìm lại coi một đời là đời
nào?
Trong ba thời thì không có cái thời thật.
Trong ba đời không có thật thì làm sao nói một đời. Rồi cho tới thọ ký.
Thọ ký thì căn cứ trên cái gì thọ ký? Nếu căn cứ trên chân như mà thọ ký
thì chân như không sanh. Không sanh thì làm sao có một đời. Còn như không
diệt thì làm sao có một đời. Như vậy tức là bên kia đứng về cái tướng sinh
diệt của kiếp người mà nói, là một đời, hai đời. Mà đã đứng về cái sinh
diệt của kiếp người, đó là tướng.
Bên này ông Duy Ma Cật đứng về chân như.
Chân như tức là tánh. Như vậy cái tướng chỉ cho cái giả danh, tạm nói, tạm
dùng, không thật. Cái tánh chân thật bất sanh, bất diệt đó mới là cái chân
thật. Cũng vậycho nên ông chuyển lại nói thọ ký thì một đời, hai đời...
cái đó là giả, không có thật. Vì vậy mà ông cật vấn còn chỗ chân thật là
bất sanh bất diệt. Bất sanh bất diệt thì còn có cái gì mà nói thành Phật,
phải không? Vì Phật đã sẵn. Phật đã sẵn rồi, thành cái gì. Chẳng lẽ thành
lần thứ hai nữa. Bởi vậy tới chỗ đó mà đã sẵn, thì Phật đã có sẵn đó. Thì
chúng sanh cũng sẵn có cái đó.
Ngài Di Lặc thành Phật thì chúng sanh ưng
cũng thành Phật, phải không? Vì tất cả đều có sẵn. Đó là cái ý để chỉ
thẳng về đây là cái chân như hay cái Phật tánh. Mà chân như Phật tánh thì
không có cái gì để gọi là thọ ký, để gọi là thành Phật hết. Nghĩa là mình
hết phiền não, hết tất cả những tập khí sinh tử thì Niết Bàn hiện ra. Hết
phiền não thì tính giác hiện tiền. Chớ không còn nói thọ ký thành Phật. Đó
là đứng về mặt lý tánh mà ông nói. Bây giờ đến một Bồ tát khác.
Phật bảo Hoa Nghiêm Đồng Tử:
-Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật.
Hoa nghiêm liền bạch Phật rằng:
-Bạch Thế Tôn! Con không kham đến thăm
bệnh ông ấy. Vì cớ sao? Vì con nhớ thuở xưa, khi con ra khỏi đại thành Tỳ
Xá Ly (có chỗ Tỳ Xá, Tỳ Da gì cũng được hết. Không có quan trọng) thì ông
Duy Ma Cật mới vào trong thành (Ông thì đi ra. Ông Duy Ma Cật đi vào). Con
liền chào (ở đây nói làm lễ thì nghe dễ hiểu lầm. Ông này cũng Bồ tát, mà
ông kia là cư sĩ. Ông Bồ tát này gặp ông kia đảnh lễ thì coi không được.
Cho nên nói liền chào ông), hỏi rằng:
-Cư sĩ từ đâu mà đến đây?
Ông đáp con rằng:
-Tôi từ đạo tràng đến.
Con mới hỏi:
-Đạo tràng là ở chỗ nào?
Ông đáp:
-Trực tâm là đạo tràng, vì không có hư
giả. Phát hạnh là đạo tràng vì hay biện sự (biện sự tức là hay làm mọi
việc phát hạnh, là khi khởi làm công tác là đạo tràng, vì khéo làm tất cả
việc). Thâm tâm là đạo tràng vì hay tăng trưởng hay tăng ích các công đức.
Bồ đề tâm là đạo tràng vì không có lầm lẫn. Bố thí là đạo tràng vì không
mong quả báo. Trì giới là đạo tràng vì được các nguyện đầy đủ. Nhẫn nhục
là đạo tràng vì đối với tâm chúng sanh không chướng ngại. Tinh tấn là đạo
tràng vì không có lười biếng. Thiền định là đạo tràng vì tâm nó điều nhu.
Trí tuệ là đạo tràng vì hiện thấy các pháp. Từ là đạo tràng vì bình đẳng
đối với chúng sanh. Bi là đạo tràng vì nhẫn chịu những sự đau khổ. Hỷ là
đạo tràng vì ưa thích các pháp. Xả là đạo tràng vì bỏ được, dứt được cái
tắng ái (tức là cái yêu ghét). Thần thông là đạo tràng vì thành tựu được
lục thông. Giải thoát là đạo tràng vì hay bội xã (hay bội là trói, xả là
bỏ). Phương tiện là đạo tràng vì hay giáo hóa chúng sanh. Tứ nhiếp pháp là
đạo tràng vì hay nhiếp phục chúng sanh. Đa văn là đạo tràng vì như cái
nghe mà thực hành. Phục tâm là đạo tràng vì chánh quán các pháp. 37 phẩm
trợ đạo là đạo tràng vì bỏ các pháp hữu vi. Tứ đế là đạo tràng vì không
dối thế gian. Duyên khởi là đạo tràng vì vô minh cho đến lão, tử đều không
cùng tột.
Chỗ này dễ hiểu không? duyên khởi là đạo
tràng vì vô minh cho đến lão, tử đều không cùng tận. Vô minh tức là cái
đầu. Mà lão, tử là cái cuối của 12 nhân duyên không cùng tận. Tại sao nói
duyên khởi là đạo tràng? Bởi vì nếu mình thấy 12 nhân duyên, nếu mê không
biết, nên nó dẫn mình sanh tử không cùng. Bây giờ mình biết 12 nhân duyên
là do duyên hợp mà có, chớ không thực, không tự tánh. Như vậy đó là đạo
tràng. Nên nói rằng duyên khởi là đạo tràng vì vô minh cho đến lão tử
không cùng tận.
Các phiền não là đạo tràng vì nó như thật.
Phiền não là đạo tràng. Như vậy phiền não có phải là đạo tràng không? Mấy
chú nổi giận lên có phải đạo tràng chưa? Nếu nổi giận mà nói đạo tràng thật
là khó hiểu, phải không? Nhưng mà sự thật khi phiền não dấy lên liền biết
phiền não là không thật, phiền não là không tự tánh, thì đó là đạo tràng
rồi, phải không? Người ta cứ muốn tìm cái chân chính ở ngoài cái tà ngụy.
Nhưng sự thật biết được cái tà ngụy đó là chân chính rồi. Ngay nơi phiền
não mà biết được phiền não nó không thật. Phiền não nó hư dối. Biết được
như vậy đó là đạo tràng. Như vậy nghe như khó hiểu mà đó là một lẽ thật.
Chúng sanh là đạo tràng vì biết vô ngã.
Chúng sanh như chúng bây giờ ai cũng có
thân. Mà khi có thân, ngay nơi thân này mình khởi chấp cái thân này là
thật, thì đó là chúng sanh mê muội. Ngay nơi thân này mà biết duyên hợp hư
dối, không có chủ, không có ngã, thì đó là vô ngã. Như vậy ngay nơi thân
chúng sanh mà thấy vô ngã. Chớ có cái vô ngã ngoài chúng sanh đâu. Cho nên
hiểu rồi thì chính cái dở đó mà mình biết thì nó trở thành hay. Ngay nơi
thân chúng sanh mà biết được thì nó là đạo tràng, chớ không có gì lạ hết.
Vì nó là vô ngã.
Tất cả pháp là đạo tràng vì biết các pháp
không?
Không là không tự tánh.
Hàng ma là đạo tràng vì không bị khuynh
động. Ba cõi là đạo tràng vì nó không có chỗ đến.
Trong ba cõi này mà mình không có tạo
nghiệp để sanh trong tam giới thì ba cõi là đạo tràng chớ gì.
Sư tử hẩu (hay sư tử hống) là đạo tràng vì
không có chỗ sợ. Ngũ lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp vì không có
các lỗi lầm. Tam minh là đạo tràng vì không các chướng ngại khác. Một niệm
biết tất cả pháp là đạo tràng vì thành tựu nhất thiết trí.
Như vậy mấy chú mới thấy nhất thiết trí là
gì? Tức là một tâm mà biết tất cả pháp. Gọi nó là nhất thiết trí.
Như thế này thiện nam tử, Bồ tát nếu nên
đối với các Ba La Mật, dùng các Ba La Mật mà giáo hóa chúng sanh. Các cái
đó tạo tác ra nào là giơ chân, hạ chân, phải biết đều là từ trong đạo
tràng mà lại. Đều là trụ ở chỗ Phật pháp vậy.
Như vậy đây là ông kết luận. Ông kết luận
rằng bây giờ các ông nên biết nếu Bồ tát dùng pháp lục Ba La Mật giáo hóa
chúng sanh, như vậy có làm ra cái gì. Đây kể từ giở chân hay là giở chân
lên, để chân xuống, bước đi nơi nào, nơi nào, đều là ở trong đạo tràng,
đều là trụ ở Phật pháp.
Khi nói pháp này thì 500 vị Trời, người
đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên con không kham đến
thăm bệnh ông ấy.
] |