|
PHẦN 11
Chỗ này làm cho chúng ta sáng thêm về ý
nghĩa đạo tràng. Thường thường nói đạo tràng là cái gì? Chữ tràng là
trường, là chỗ, là nơi mà mình tụ hội lại để nghe kinh, để học đạo, để
tụng, để ngồi thiền... chỗ đó thường gọi là đạo tràng phải không? đạo
tràng là nơi tụ hội để học đạo, để tu thì gọi đó là đạo tràng. Thường nếu
mình nghe nói người đó từ đạo tràng ra, thí dụ có người ở trong thành phố
ra, họ tới trước cửa Thường Chiếu. Ra tới đó thấy có người ở trong cổng
Thường Chiếu đi ra. Hỏi huynh ở đâu lại. Nói làm sao? Nói tôi ở trong đạo
tràng Thường Chiếu mới ra, phải không? Nói đạo tràng tức là chỗ tu. Từ chỗ
tu mà ra. Còn cái này một ông từ trong thành đi ra, ông nọ ngoài thành đi
vào, không có chùa chiền, không có tịnh xã, không có gì hết, mà đi vào
chợ. Hỏi ông từ đâu vào, nói từ đạo tràng vào. Như vậy cái đạo tràng của
ông Duy Ma Cật khác với cái đạo tràng mà quan niệm các người tu bây giờ
hay người tu thuở đó. Như vậy cái đạo tràng của chúng ta thấy là đạo tràng
hình tướng. Chỗ hội hợp tu hành thì gọi đó là đạo tràng. Còn đạo tràng của
ông Duy Ma Cật thấy là đạo tràng gì? Đạo tràng ở ngay trong tâm hạnh của
mình, phải không? Trong tâm mình mà làm những điều tốt, làm những điều
hay, ứng dụng những pháp để được tỉnh giác thì đó là đạo tràng. Dù đi đâu,
dù ở chỗ nào mà mình đều sống được với những cái đó thì chỗ nào cũng là
đạo tràng hết. Còn nếu mình ngồi thiền ở trên chùa, đó là đạo tràng không?
Là đạo tràng rồi. Nhưng lúc đó tâm mình nghĩ xấu, nghĩ bậy thì lúc đó phải
đạo tràng không? Vậy thì đạo tràng của chúng ta chỉ là đạo tràng hình
thức. Chớ còn chưa đi sâu trong vào tâm tánh.
Còn ông Duy Ma Cật nói đạo tràng là đi
thẳng vào tâm tánh. Cho nên ông mới dẫn những điều ông nói trực tâm là đạo
tràng, rồi phát hạnh là đạo tràng. Hai câu đó quí vị thấy, trực tâm là đi
thẳng vào tâm ngay thẳng, đó là đạo tràng. Phát hạnh đó là việc làm. Khởi
làm những điều thiện, đó là đạo tràng. Rồi thâm tâm là đạo tràng. Bồ Đề
tâm là đạo tràng. Rồi Bố Thí là đạo tràng. Trì giới là đạo tràng. Chó tới
lục độ đều là đạo tràng hết. Như vậy cho tới hàng ma nè, cho tới giảng
pháp, giảng kinh... lúc nào cũng là đạo tràng.
Nói tóm lại cho dễ hiểu, đạo tràng của ông
Duy Ma Cật là đạo tràng của tự tâm, đạo tràng của hành động chân thật, từ
tâm chân thật phát hiện. Như vậy những cái đó điều là đạo tràng. Đạo tràng
đó rất là bao la, rất là rộng rãi, phải không? Bởi vì ở đâu mà chúng ta
tâm được thanh tịnh, tâm hợp với đạo lý, ở đó có đạo tràng. Ở đây mà chúng
làm lợi ích cho chúng sanh, làm lợi ích cho mọi người mà không có ngã,
không có người thì chỗ đó cũng là đạo tràng.
Như vậy hiểu được nghĩa đạo tràng này
chúng ta mới thấy, người tu có khỉ ở chỗ vắng vẻ, ở trong chùa, ở những
ngôi tịnh xá để tâm an lành tu. Nhưng cũng có khi mình phải đi giáo hóa
nơi này nơi nọ, ở chỗ chợ búa, xóm làng. Nhưng nếu ở trong chùa, ở tại
tịnh xá mà mình được thanh tịnh, tâm ý trong sạch, việc làm trong sạch thì
đó là đạo tràng. Đi ra chợ búa, vào xóm làng mà tâm thanh tịnh, việc làm
thanh tịnh thì ở đó cũng đạo tràng. Đừng vì chấp phải ở chùa, phải ở tịnh
xá mới đạo tràng. Ra chợ búa, vào làng xóm không phải đạo trang. Nếu mình
chấp như vậy đó là bệnh, phải không? Cho nên hành động của Bồ Tát là luôn
luôn mỡ rộng. Chỉ nhắm vào tâm. Bởi nhắm vào tâm cho nên có khi hành động
ở chỗ không hợp đạo lý mà vẫn thấy đạo lý. vì các Ngài không kẹt, không
mắc. Hiểu vậy mới thấy ý nghĩa của đoạn này.
Phật bảo Bồ Tát Kỳ Thế:
-Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật.
Bồ Tát Kỳ Thế bạch Phật rằng:
-Bạch Thế Tôn! Con không kham đến thăm
bệnh ông ấy. Vì cớ sao? Con nhớ lại thuở xưa con ở trong tịnh thất. Khi đó
Ma Ba Tuần đem 1 muôn 2000 Thiên nữ, dáng giống như là Đế Thích, đánh
nhạc, ca hát, đi đến chỗ của còn cùng những quyến thuộc của nó, đầu lễ
dưới chân con, chấp tay cung kính đứng qua một bên. Con nghĩ nó là Đế
Thích nên nói rằng: Lành thay! Kiều Thi Ca. Tuy có cái phước được như vậy.
không có nên tự buông lung. Phải quán ngũ dục là vô thường đề gốc lành nơi
thân, mạng, tài mà tu pháp kiên cố.
Liền khi ấy chúng nói với con rằng:
-Này Chánh Sĩ! nên nhận 1 muôn 2000 Thiên
nữ này có thể đủ để quét dọn cái thất của Ngài.
Còn nói rằng:
-Kiều Thi Ca! Không nên đem vật phi pháp
mà cúng dường cho Sa môn Thích Tử. Đây không phải chỗ ta nên nhận.
Con vừa nói rồi thì khi ấy có ông Duy Ma
Cật đến bảo con rằng:
-Không phải là Đế Thích. Âúy là ma nó đến
nhiễu loạn ông vậy!
Như vậy đoạn này là Ngài Kỳ Thế tuy là Bồ
Tát rồi, nhưng Ngài con tu hạnh rất thanh tịnh ở chỗ thất vắng. Tâm hồn Bồ
Tát nhưng chưa nhập thế, còn yên tu thanh tịnh. Cho nên ma đánh lừa Ngài.
Nó tới giả ra Thiên Đế Thích. Ngài tưởng thiệt là Thiên Đế Thích. Nó thưa
hỏi xong xuôi, nó còn đem 1 muôn 2000 Thiên nữ cúng dường cho Ngài. Ngài
nghĩ mình là người tu. Như vậy Bồ Tát này là Bồ Tát xuất gia phải không?
Cho nên nghiêm trì giới luật, nói không được ông đem nhưng người này cúng
cho ta là phi pháp. Ta không nhận. Lúc đó gặp ông Duy Ma Cật, tức là ông
già bụi đời. Cho nên gặp ông thì ông nhận hết. Khi gặp ông rồi, ông liền
giảng trạch cho Ngài Kỳ Thế biết rằng đó không phải là Thiên Đế Thích, mà
là Ma Ba Tuần. Để cho Ngài biết Ngài đã lầm. Bây giờ đây là ông bắt đầu
nói chuyện với ma.
Ngài Duy Ma Cật liền nói với ma rằng:
-Những người nữ này có thể đem cho tôi.
Như tôi thì mới đáng mà nhận (Đáng thọ nhận).
Ma liền hoảng sợ, nghĩ rằng ông Duy Ma Cật
đâu không làm não hại ta. Muốn ẩn hình đi (tức muốn tàng hình trốn đi) mà
không thể ẩn. Dùng hết thần lực của nó cũng không thể đi được. Liền nghe
trong hư không có tiếng rằng:
-Ba Tuần, hãy đem những người nữ này cho
đi (nghĩa là cho ông đó) thì mới có thể đi được.
Ma vì sợ nên mới miễn cưởng mà cho (sợ quá
miễn cưỡng cho. Khi ma cho thì Ngài nói làm sao.). Khi ấy Ngài Duy Ma Cật
mới bảo những người nữ ấy rằng:
-Ma đã đem các chị cho tôi rồi. Này các
chị đều phải phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Mình giải nghĩa có đầu đuôi gốc ngọn. Lát
chị, lát ngươi, nghe lộn xộn. Ăn nói không có trật tự, phải không? Nếu là
chị thì chị hết. Ngươi thì ngươi hết. Gặp chữ “tỷ” thì gọi là chị. Gặp chữ
“nhĩ” thì gọi là ngươi. Cũng nói với mấy người đó thôi mà sao lộn xộn vậy.
Cho nên ở đây phải biết rõ.
Liền tùy căn cơ thích hợp mà vì nói pháp,
khiến cho các vị đó phát đạo ý. Lại nói rằng:
-Các chị đã phát đạo ý, có pháp lạc có thể
tự vui. Không nên lại vui theo ngũ dục nữa.
Các Thiên nữ liền hỏi rằng:
-Những gì là pháp lạc?
Ngài đáp rằng:
-Cái lạc thường tin nơi Phật. Cái lạc vốn
nghe pháp. Cái lạc cúng dường chúng Tăng.
Như vậy 3 cái vui đầu của người học đạo.
Cái vui thứ nhất là tin Phật. Cái vui thứ 2 là nghe pháp. Cái vui thứ 3 là
cúng dường chúng Tăng. Đó là ba cái vui. Ba cái vui đầu là vui về Tam bảo.
Rồi tới cái vui kế, vui lìa ngũ dục.
Vui quán ngũ ấm như là quán tặc. Vui quán
tứ đại như là rắn độc. Vui quán nội nhập như là cái xóm rỗng1 (hay là cái
nhóm rỗng).
Mấy cái vui này là vui gì? Ba cái vui
trước là vui đối với tam bảo. Vòn vui lìa ngũ dục. Vui quán 5 ấm như quán
tặc. Vui quán tứ đại như rắn độc. Vui quán các nhập hay là nội nhập như là
nhóm rỗng. Cái vui đó là vui về cái gì? Vui nhìn vào cái thân của mình.
Thân của mình đầu tiên thì phải làm sao? Lìa ngũ dục. Lìa ngũ dục đó là
vui. Rồi vui xét thấy thân 5 ấm này như oán tặc, tức là như giặc thù. Năm
ấm làm sao như giặc thù? Bởi vì thân 5 ấm này luôn luôn là phiền nhiễu,
luôn luôn là khổ đau. Cho nên nói không có cái gì là vui thích. Không có
cái gì đáng cho mình phải mến yêu, mà mình lại lầm sanh ra mến yêu nó. Cho
nên phải quán thân năm ấm này như là oán tặc. Rồi vui quán tứ đại như 4
con rắn độc, nó chực hại nhau. Mình hằng quán thích quán như vâỵ, đó là
vui. Rồi vui quán nội nhập, tức là lục nhập của mình, như là một nhóm rỗng
vậy thôi, không có cái gì thật hết.
Như vậy trong mấy cái vui, cộng lại mấy
cái? Vui lìa ngũ dục là một. Vui quán 5 ấm như oán tặc là 2. Quán tứ đại
như rắn độc là 3. Vui quán lục nhập như nhóm rỗng là 4. Bốn cái vui này là
nhìn thẳng vào thân của mình.
Vui tùy hộ đạo ý. Vui làm lợi ích cho
chúng sanh. Vui cung kính bậc sư trưởng.
Ba cái vui này về cái gì? Tùy hộ đạo ý tức
là vui tùy hỷ. Ai có tâm đạo mình bảo bọc cho họ để tâm đạo không bị mất,
không bị lui sụt. Đó cũng là cái vui của mình. Vui làm lợi ích cho chúng
sanh. Rôi vui cung kính các bậc sư trưởng. Hay là vui cúng dường cung kính
các bậc sư trưởng. Đó là ba cái vui bên ngoài, thầy bạn. Rồi tới cái
Vui rộng làm việc Bố thí. Cái vui để gìn
giữ giới cho được vững vàng. Cái vui nhẫn nhục được như hòa. Cái vui siêng
năng làm các căn lành. Cái vui thiền định không có loạn. Cái vui lìa cấu
được trí tuệ sáng suốt.
Mấy cái vui này thuộc về vui gì. Cái gì?
Là cái vui lục độ phải không? Thứ nhất là vui Bố thí. Thứ hai là vui Trì
giới. Thứ 3 là vui Nhẫn nhục. Thứ 4 là vui Tinh tấn. Thứ 5 là vui Thiền
định. Thứ 6 là vui Trí tuệ. Mỗi khi làm một pháp đều có lợi ích của riêng
nó. Cho nên Thiền định thì tâm không loạn. Trí tuệ thì lìa được cấu.
Vui rộng phát tâm Bồ đề rộng rãi. Cái vui
hàng phục các ma. Vui đoạn các thứ phiền não. Vui là thanh tịnh cõi nước
Phật. Cái vui thành tựu những tướng tốt. Cho nên tu các công đức cái vui
trang nghiêm đạo tràng.
Như vậy mấy cái vui? Vui khi phát Bồ đề
tâm rộng lớn. Vui hàng phục các ma. Rồi vui đoạn trừ phiền não. Vui là
thanh tịnh cõi nước Phật. Vui thành tựu các tướng tốt. Vui trang nghiêm
đạo tràng. Mấy cái vui đó là vui tu những công đức để được dứt hết phiền
não. Dứt hết các ma và trang nghiêm cõi Phật, trang nghiêm đạo tràng.
Vui nghe những pháp thâm sâu mà không sợ.
Vui ba môn giải thoát chẳng ưa việc phi thời.
Hai cái vui này, vui nghe pháp mà thích
tam giải thoát môn (tam giải thoát môn là không, vô tướng, vô nguyện).
Vui gần những người đồng học. Vui đối với
những người không phải đồng học mà tâm không giận cũng không có ngại. Vui
đem sự bảo hộ những người ác tri thức. Vui gần gũi những thiện tri thức.
Mấy cái vui này nó hơi khó. Vui thứ 1 gần
gũi bạn đồng học thì dễ phải không? Cái vui thứ 2 là những người không
phải là bạn đồng học mà tâm không có sân, cũng không có ngại với họ nữa.
Vui đó dễ hay khó. Người đó không phải là bạn đồng học tức người không
phải cùng một tư gống mình, cùng một tâm trọng tu hành giống mình. baay
giừo họ ngược ngạo với mình, mình sống chung với họ, mình không giận, cũng
không có chướng ngại gì hết. Vui đó dễ hay khó? Cái đó ráng tập vui đó.
Vui đó mới là vui tiến bộ dữ à! Kế đó vui đem bảo bọc cho những người ác
tri thức nữa. Thiện tri thức mình bảo bọc phải rồi, bổn phận phải không?
Aïc tri thức mình cũng bảo hộ họ nữa. Như vậy cái vui đó dễ hay khó? Người
mình biết là ác tri thức đó, mình làm sao? Mình ghét. Tìm cách này cách nọ
cách kia, mình tống họ đi phải không? Họ đi được là vui. Bây giờ họ ở mình
mình phải vui với họ đó dễ hay khó. Như vậy mà vui được đó mới thật là học
hạnh của Bồ tát. Các khó làm của người tu theo hạnh Bồ tát là ở chỗ đó.
Những cái thông thường, hợp đạo, hợp lý mình vui thì phải. Cái không hợp
đạo lý mà mình cũng vẫn vui với họ. Điều đó hết sức là khó.
Như vậy hai phần ở đây thấy rõ. Phần thứ
nhất là gần những bạn đồng học, đó là người thuận chiều. Phần thứ 2 là
những người không đồng học mà mình cũng không giận, không ngại, đó là cái
nghịch chiều. Rồi tới cái sau là đối với thiện tri thức thì mình gần gũi.
Thân cận, gần gũi đó thuận chiều. Ác tri thức mà mình vẫn bảo hộ họ, đó là
nghịch chiều. Như vậy hai chiều thuận và nghịch mình vẫn xử sự đều tốt
hết. Đó mới là tâm của Bồ Tát.
Vui tâm hỷ thanh tịnh. Vui tu vô lượng đạo
pháp (hay là đạo phẩm). Ấy là pháp vui của những vị Bồ Tát.
Như vậy các pháp vui của Bồ Tát, ở đây quí
vị thấy mình dễ được cái pháp vui đó không? Nghĩa là vui tâm tùy hỷ được
thanh tịnh. Vui tu hết vô lượng đạo pháp. Cái đó tương đối cũng dễ. Còn
mấy cái trên thật là khó. Nhưng muốn được nguồn vui đó mình phải ráng hằng
ngày, hằng tháng, hằng năm huân tập những tính tốt. Những tính tốt: Nhẫn
nhục, nhu hòa để tránh những điều trái mà mình không bị chướng.
Khi ấy Ba Tuần mới bảo những Thiên nữ
rằng:
-Tôi muốn cùng các vị trở về Thiên cung.
Các vị Thiên nữ mới nói:
-Đã đem chúng tôi cho ông Cư sĩ này rồi,
có pháp vui, chúng tôi rất là vui. Không có trở lại vui cái vui ngũ dục
nữa.
Mới giảng sơ mấy bà đã được vui rồi, phải
không? Còn quý vị nghe có vui chưa? Như vậy thì thua, thua mấy bà Thiên nữ
ở trên kia. Cho nên phải biết, cái pháp Bồ Tát nó khó nhưng người có tâm
dễ nhận dễ hiểu đó là cũng có chủng tử tốt rồi. Nhiều khi chúng ta cứ môt
bề nói họ là ma thì cho họ là đủ thứ xấu hết. Nhưng biết đâu ma phát tâm
cũng tốt vậy. còn nhiều khi mình tu mình tốt. Cũng có khi mình cũng có
phát tâm xấu vậy, phải không? Cho nên đừng lầm cho ma 1 bề xấu hết. Có khi
nó cũng tốt.
Ma vương liền nói với cư sĩ:
-Ông có thể xã những người nữ này (Bây giờ
ông mới lấy đạo lý nói đây). Tất cả những cái gì mình có mà đem thí cho
người, ấy mới gọi là Bồ Tát.
Nếu ông tu Bồ Tát hạnh thì tất cả cái gì
mình có nên thí cho người mới gọi là Bồ Tát. Bây giờ thôi thí hết mấy
người nữ này trả về cho tôi, Ngài mới là Bồ Tát hạnh chớ.
Ông Duy Ma Cật liền bảo:
-Tôi đã xả rồi. Ông hãy đem những người đó
đi, khiến cho tất cả chúng sanh được cái pháp nguyên đầy đủ.
Tôi xả, muốn nguyện cho tất cả chúng sanh
đều được pháp nguyện đầy đủ.
Khi ấy những vị Thiên nữ hỏi ông Duy Ma
Cật rằng:
-Chúng tôi làm sao mà ở trong cung ma
được?
Ông Duy Ma Cật mới nói:
-Vì phát Bồ Đề tâm rồi. Mà pháp Bồ Đề tâm
thì ra khỏi cung ma chớ ở cung ma sao được. Này các chị, có pháp môn tên
là Vô Tận Đăng. Các chị phải học Vô Tận Đăng đó. Thí như có ngọn đèn sáng,
rồi mồi trăm ngàn ngọn đèn, những chỗ tối đều sáng. Sáng trọn không cùng
tận. Như thế các chị phàm một vị Bồ Tát đã mở được đạo (tức là đã khai mở
con đường đạo) thì trăm ngàn chúng sanh khiến đều được phát tâm vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Đối với đạo kia ý cũng không có diệt hết. Tùy chỗ
nói pháp mà tự tăng trưởng lợi ích tất cả pháp lành, ấy gọi là Vô Tận
Đăng.
Bây giờ ông mới giảng pháp Vô Tận Đăng cho
mấy vị ma nữ này biết. Tuy rằng ở trên cung ma nhưng một người đã sáng,
thì giống như một ngọn đèn đã thắp sáng thì có trăm ngàn ngọn đèn khác đem
tới mồi đều sáng, phải không? Một ngọn đèn sáng, thì trăm ngàn ngọn đèn
khác mồi cũng được sáng. Mà trăm ngàn ngọn đèn mồi đều sáng, thì còn chỗ
nào tối không? Tất cả chỗ tối đều sáng hết. Như vậy gọi đó là Vô Tận Đăng.
Bây giờ quí vị đã phát tâm Bồ Đề rồi thì lên cung ma hướng dẫn người ta.
Khai đạo tức là hướng dẫn người ta cho được trăm ngàn chúng sanh phát tâm
vô thượng Bồ đề nữa.
Như vậy đối với đạo ý của những người đó
nó không có diệt hết. Tùy chỗ nói pháp làm cho tăng trưởng những điều
lành. Đó gọi là Vô Tận Đăng.
Các chị tuy ở trong cung ma, do pháp Vô
Tận Đăng này khiến cho vô số Thiên tử, Thiên nữ phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác để mà đền ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng
sanh vậy.
Như vậy ở ngay trong cung ma mà đem pháp
Phật này để giáo hóa cho người ta đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Vậy là đền ơn Phật, là làm lợi ích cho chúng sanh. Đó vẫn là tốt,
vẫn làm đạo được.
Khi ấy Thiên nữ đầu lễ dưới chân ông Duy
Ma Cật rồi đi theo ma trở về cung, bổng nhiên chẳng hiện.
Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật có thần lực
trí tuệ biện tài tự tại như thế cho nên con không kham đến thăm bệnh ông.
Như vậy đoạn này có ý nghĩa thế nào? Bởi
vì lâu nay chúng ta có quan niệm kêu bằng hơi chấp cứng, chấp chặt, cái gì
là ma là cía đó đáng ghét, đáng sợ, phải không? Có ai không sợ ma không?
Bởi vì ma là cái gì đáng ghét, cái gì đáng sợ. Tưởng chừng ma không bao
giờ phát tâm Bồ đề được. Tưởng không bao giờ ma chịu tu phải không? Mình
luôn luôn nói phá sự tu. Phá tu thì làm gì ma tu được. Nhưng ở đây cái
hình ảnh ma phát tâm Bồ đề để cho chúng ta thấy rằng, ma là ngầm nói lên
những người xấu, người ác. Những kẻ xấu, ác, chúng ta cứ quan niệm người
nào xấu, người nào ác là người đó không thể tu. Nhưng đó là tại mình chưa
có phương tiện phải không? Bởi mình chưa đủ phương tiên. Cũng như ở đây
Ngài Kỳ Thế cũng là Bồ tát nhưng nó nói gạt Ngài, Ngài cũng bị gạt tỉnh
bơ, phải không?
Còn ông Duy Ma Cật cũng là hạnh Bồ tát
nhưng thấy nó liền biết. biết liền ngay trong khi nói tới, nó phá, nó làm
nhiễu loạn Bồ tát. Ngược lại Ngài Duy Ma Cật giáo hóa nó trở thành phát
tâm Bồ đề. Như vậy ma thật xấu hay là không xấu. Sở dĩ ma 1 bề nhiễu loạn
chúng ta là tại sao? Tại vì chúng ta không có cái phương tiện phải không?
Không có đủ sức thần thông phương tiện để chuyển hóa nó, cho nên nó phá
chúng ta. Ngược lại chúng ta có đủ phương tiện thì chúng ta chuyển nó
được.
Như vậy qua câu chuyện này chúng ta lại
càng thấy rõ hơn những người chung quanh mình. có nhiều người cho là xấu,
là ác, không thể xài được. Cái đó lỗi tại họ mà cũng lỗi tại ai nữa? Tại
sao mình lỗi? Tại mình chưa đủ trí tuệ, tài năng để chuyển họ. Chớ nếu ai
đủ trí tuệ, tài năng thì cũng chuyển họ được. Như vậy họ là bẩm sinh không
tốt rồi chúng ta chũng thiếu tài ba nữa, phải không? Như vậy họ 1 phần
lỗi, mình cũng 1 phần lỗi, chứ đừng đổ trút cho họ hết. Cái thứ này xài
không được. Không phải vậy. cũng có cái lỗi là mình không nổi hay là mình
không đủ khả năng để chuyển hóa họ.
Như vậy quý vị thấy 2 vị Bồ tát, ông Bồ
tát xuất gia, ông Bồ tát cư sĩ, phải không? Mà ông Bồ tát xuất gia bị nó
gạt. Ông Bồ tát cư sĩ lại giáo hóa được nó. Như vậy đâu phải là 1 bề ma
chỉ có hại người thôi. Ma nếu khéo chuyển thì nó cũng phát Bồ đề tâm được
vậy. Cho nên dù cho kẻ trộm, kẻ cướp, những kẻ xấu xa, nếu chúng ta có đủ
phương tiện, có đủ đức độ, cũng có thể cảm hóa nó được, chứ không phải là
kẻ thường thôi. Còn cảm hóa không được là chứng tỏ ta chưa đủ tài năng đức
độ. Chứ không phải một bề trút tội trên đầu họ hết, mà mình cũng có một
phần trách nhiệm trong đó. Hiểu như vậy, thấy như vậy mình mới là người
sáng suốt, là người thực công bình.
] |