|
PHẦN 2
Đó là một cái đoạn quí vị thấy nó có hai
phần: Sự và Lý. Sự là nói rằng mỗi ông Trưởng giả đem lọng báu của mình
tới hiến dâng lên Phật. Mà đây tới 500 ông. Tức là có tới 500 cái lọng.
Mỗi ông dâng cái lọng rồi thì do thần lực của Phật hóa hiện thành một cái
thôi. 500 cái thành có một cái. Mà khi lọng báu thành một rồi thì trong
cõi tam thiên đại thiên thế giới này, núi, sông, đất liền gì gì, đều thấy
hiện trong đó hết, phải không? Cho tới hình ảnh cung trời, cũng các vị
thần, cho tới 10 phương chư Phật nói pháp ở cõi nước xa mấy cũng hiện
trong đó. Thì như vậy mới thấy, về phần sự thì bao nhiêu lọng báu nhỏ,
Phật dùng thần lực biến thành cái lọng báu lớn. Thành lộng báu lớn rồi thì
cả Tam thiên đại thiên thế giới này có cái gì đó đều hiện đủ ra hết. Đó là
thấy đủ hết không thiếu. Chẵng những trong tam thiên đại thiên thế giới mà
cả mười phương chư Phật ở các cõi nước khác xa nói pháp cho chúng sinh
nghe. Nhìn trong đó cũng thấy luôn. Đó là nói về sự.
Còn nói về lý, trong bản kinh này đặt
trọng là Tâm. Như hồi nãy tôi nói tâm tịnh thì độ tịnh. Bao nhiêu cái lọng
riêng của các ông Trưởng giả đó dụ cho tâm riêng. Mà khi tâm nó còn riêng
tư thì lúc đó nó không có cái diệu dụng. Khi tâm nó không có cái diệu
dụng. Khi tâm nó đã họp nhất rồi, lúc đó là thanh tịnh. Thanh tịnh thì
mười phương cõi Phật cho tới trong thế giới này, có cái gì cũng hiện sáng
ở trong đó hết. Cho nên nói tâm tịnh thì quốc độ tịnh. Khi tâm mình thanh
tịnh rồi, tất cả những cái gì ở đâu, ở xa mấy nó đều hiện vô đó. như đây
là một bằng chứng cụ thể chớ không phải mình nói một cách xa vời.
Thí dụ: Như đức Phật, Ngài tu dưới cội Bồ
đề. Khi tâm Ngài hoàn toàn thanh tịnh rồi, Ngài nhìn ra, Ngài thấy xa như
là 10 phương các cáu tí mù tí mú gì, Ngài cũng thấy hết. Cho nên. Cho nên
Ngài mới nói hằng hà sa số thế giới đó. Thế giới nhiều như cát sông Hằng.
Mà lúc đó có cái phương tiện nào để Ngài thấy không? Hay tâm Ngài tịnh rồi
Ngài thấy. Vậy thì do tâm Ngài thanh tịnh cho nên Ngài thấy vô số thế giới
bên ngoài. Cũng do tâm Ngài tịnh rồi, Ngài thấy những vi trùng tí ti. Như
vậy rõ ràng tâm tịnh rồi thì tất cả đều hiện, thấy được hết. Đó là những
đều thực chớ không phải tưởng tượng. Bởi vậy chúng ta tu không có mơ ước
thần thông mà chỉ phải tiêu diệt những phiền não để cho tâm thanh tịnh.
Tâm mình thanh tịnh thì mọi cảnh bên ngoài, những gì cần biết thì liền
thấy, liền biết, không nghi ngờ nữa. Đó, bởi vậy chủ yếu của đạo phật là
đi tới cái gốc tâm thanh tịnh thì mới thành cõi Phật thanh tịnh. Chớ mình
mơ ước cõi Phật mà lúc đó mình không có tu, không có điều phục cái tâm
mình để thanh tịnh, thì mơ ước chỉ là viễn vông.
Khi ấy tất cả đại chúng xem thấy thần lực
của Phật liền tán thán là điều chưa từng có. Chấp tay lễ Phật, chiêm
ngưỡng dung nhan của Phật. Con mắt không có chớp. Ông Trưởng giả Bảo Tích.
Con ông Trưởng giả thì nghe không có được
chút nào hết.
Trưởng giả Bảo Tích liền ở trước Phật dùng
bài tụng để tán thán rằng:
Đây là bài tụng của Ông.
Con mắt rộng đẹp như hoa sen.
Tịnh, Tu, Quảng ba chữ. Tịnh là Tập, Tu là
sửa sang. Quảng là rộng. Nhưng mà mình nói con mắt đẹp đẽ là đủ rồi.
Con mắt đẹp đẽ như hoa sen.
Tâm trong sạch đã qua hết các thiền định.
Đã lâu chứa chất nghiệp thanh tịnh.
Xưng là vô lượng hay khen là vô lượng.
Dẫn đường cho chúng để được yên lặng.
Cho nên con kính lễ.
Bốn câu này là giải thích cái gì? Là Ngài
tán thán Phật.
Câu thứ nhất: là tán thán về sắc thân của
Phật nó đẹp đẽ. Nhưng mà trên đây là tán thán con mắt người khác. Bởi vì
quí vị nhớ, người thông minh người ta nhìn cho mắt, họ thấy làm sao. Nó
trong và sáng phải không? Con mắt trong sáng. Còn người ít thông minh thì
nhìn con mắt thấy nó làm sao. Nó đục đục, nó lờ đờ, vậy thôi. Chớ nó không
trong không sáng. Vì Phật là giác ngộ cho nên phần trí tuệ nó biểu lộ ở
con mắt. Con mắt trong mà sáng. Đó ở đây tán thán con mắt Phật. Tức là tán
thán về hình tướng.
Rồi kế đó, câu thứ hai: là tán thán tâm
của Ngài. Bởi vì tâm của Ngài nó đã hoàn toàn thanh tịnh, cho nên Ngai qua
hết các thiền định. Tại sao tâm thanh tịnh lại qua các thiền định? Bây giờ
chúng ta ngồi thiền để làm gì? Để hàng phục tâm. Và để gì nữa? An trụ tâm.
Mà nếu tâm chúng ta đã hàng phục, đã an trụ rồi thì ngồi thiền làm chi
nữa. Cho nên nói tâm Ngài đã thanh tịnh. Cho nên Ngài đã qua hết các thiền
định. Đó là tán thán về tâm của Ngài.
Đây câu thứ ba là tán thán cái nghiệp của
Ngài. Ngài đã lâu rồi, Ngài tích lũy nghiệp thanh tịnh. Cái nghiệp là
nghiệp thanh tịnh. Nó được vô lượng.
Rồi câu thứ tư là tán thán về cái gì? Là
giáo hóa. Dẫn đường chúng sinh đi đến chỗ tịch tịnh. Cho nên con đảnh lễ
Ngài.
Như vậy chỉ có bốn câu thôi mà chúng ta
thấy tán thán đủ. Nào là tán thán thân, tán thán tâm, tán thán cái nghiệp
và tán thán luôn cả sự giáo hóa, hướng dẫn.
Rồi bốn câu kế:
Đã thấy đại thánh dùng thần
biến,
Khắp hiện mười phương vô lượng
cõi.
Trong ấy chư Phật diễn nói
pháp,
Khi ấy tất cả phải thấy nghe.
Chữ “ư thị” là khi ấy. Nhớ ư thị là khi ấy
nha. Bốn câu này là tán thán thần lực của Phật. Khi Ngài dùng thần lực để
họp các lọng thành một cái đó. Khi họp thành một cái rồi thì mười phương
cõi nước vô lượng đều thể hiện chư Phật ở trong mười phương nói pháp...
Tất cả đều nhìn thấy sẵn ở trong lọng hết. Khi ấy nhìn cái lọng đều thấy
sẵn hết. đó là tán thán thần lực của Phật.
Cái sức pháp lực của đấng pháp vương siêu
vượt cả quần sanh.
Thường dùng pháp thí, tài thí mà thí cho
tất cả.
Hay khéo phân biệt tướng của các pháp.
Nơi nghĩa đệ nhất nó không động.
Đến bốn câu này là tán thán Phật khéo nói
pháp. Ngài là đấng pháp vương dùng sức pháp của Ngài, khéo nói để dẫn dắt
hay là vượt hơn tất cả mọi chúng sinh. Ngài thường dùng cả tài thí và pháp
thí để mà lợi ích cho mọi người, rồi Ngài lại khéo phân biệt tướng của các
pháp. Tuy rằng khéo phân biệt tướng của các pháp mà đối với nghĩa đệ nhất
không có động.
Thường thường khi phân biệt thì động hay
không động? Phân biệt thì động. Mà tại sao Ngài phân biệt pháp tướng mà
nghĩa đệ nhất không động. Như bây giờ tôi nói, tôi ví dụ như cái nhà. Bây
giờ tôi phân tích cái nhà. Cái nhà này nó không tự có, mà nó do gạch, do
xi măng, do cát, do nước, rồi do tôn, do gỗ... do những cái đó họp lại
thành cái nhà. Phân tích như vậy thì cái nhà không thực có. Bởi nhà không
thực có nên cái nhà này tự tánh là không, phải không? Tôi phân tích như
vậy đó, nó có động tới tự tánh không hay không? Đối với tự tánh không có
bị động không? Như vậy thì phân tích để cho người ta thấy rõ cái nhà không
có tự tính. Không có tự tính đó là thấy tánh không. chớ không phải do phân
tích đó mà động cái tánh không. Mà tánh không tức là đệ nhất nghĩa.
Đã đối với các pháp được tự
tại.
Thế nên con đảnh lễ pháp vương
này.
Hai câu này Ngài tán thán là Phật đã được
tự tại đối với các pháp. Cho nên Ngài đảnh lễ đấng pháp vương.
Nói pháp chẳng có cũng chẳng
không.
Do nhân duyên cho nên các pháp
sanh.
Vô ngã, vô tạo, vô thọ giả.
Mà nghiệp thiện ác cũng không
mất.
Câu này là khen ngợi Phật nói pháp. Cái
pháp Phật nói nó không thuộc về có cũng không thuộc về không. Vì sao không
thuộc có cũng không thuộc không. Vì do duyên cho nên các pháp sanh. Bởi
nhân duyên các pháp sanh cho nên không phải thật có cũng không phải thật
không. rồi đến vô ngã không tạo tác, không có thọ giả mà nghiệp thiện ác
không mất. Đó, các pháp Phật nói nó khéo léo như vậy.
Bốn câu này dễ hiểu không? Nói rằng do
nhân duyên nên pháp chẳng phải có cũng chẳng phải không. Bây giờ dùng cái
thí dụ nào xa xôi thì khó hiểu. Bây giờ tôi dùng cái thí dụ cụ thể nhất.
Thí dụ như bàn tay của tôi, khi mình xòe 5 ngón ra, rồi nắm lại, thì gọi
là gì? Là nắm tay. Nắm tay này tự có hay là do nhân duyên hợp. Như vậy nắm
tay này có là do nhân duyên hợp, phải không? Trước khi năm ngón chưa co
lại thì có nắm tay không? Bây giờ, nếu trong khi co lại, rồi buông ra thì
nắm tay còn không? Như vậy trong khi năm ngón tay co thì tạm gọi là nắm
tay. Nắm tay nguyên trước không, sau không. Trong khi co lại thì tạm có,
phải không? Trước không, sau không. Đó thì nói nó như là không nhưng mà
khi co lại tạm có thì nó không phải là không. Như vậy khi chúng ta co năm
ngón lại rồi thì tạm gọi là nắm tay. Nhưng bây giờ nếu phân tích, ngón
cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp, ngón út, từng ngón thì kiếm nắm tay có
không? Cũng không. Như vậy cái thể nắm tay nó là không. Nhân duyên hợp thì
tạm có. Như vậy nói nắm tay là có hay là không? Như vậy nói có nói không
đều không được. Mà nói nó phải sao? Chẳng phải có mà cũng chẳng phải
không, phải không? Chẳng phải có, vì trước không có, sau không có. Duyên
hợp phân tích ra cũng không thấy thật nắm tay. Không có tự thể nắm tay nên
nói chẳng phải có, phải không. Nhưng khi duyên hợp thì tạm thấy có nắm
tay, thì không phải không.
Như vậy thì pháp Phật nói lý nhân duyên nó
như vậy. Cái gì mà hiện có đây đều do nhân duyên. Do nhân duyên thì không
phải thật có mà cũng không phải thật không. không phải thật có không phải
thật không thì nó làm sao? Nó có như huyễn như hóa phải không. Như vậy thì
cái có đó là hư dối không thật. Mà bây giờ mình có chịu nó không thật
không? Chịu không? Đúng thấy được cái lý nhân duyên thì các pháp không
thật. Mà thấy lý nhân duyên ngu hay là trí. Ngu hay trí? Là trí. Còn không
thấy đúng lý nhân duyên đó là ngu phải không? Mà bây giờ các pháp do duyên
hợp là không thật. Mà mình thấy thật là mình làm sao? Vậy mà mấy chú có
chịu ngu đâu, phải không? Cứ tưởng mình thông minh lắm phải không? Bởi vì
do nhân duyên hợp thì nó không phải thật có mà cũng không phải thật không.
Bây giờ mình nói nó thật có, là đã ngu rồi phải không? Đó là không thấy
được lý nhân duyên. Như vậy cho nên cái pháp của Phật nói nó rất là khó
hiểu vì nó trái với cái ngu của phàm phu. Tại mình ngu nên mình khó hiểu
phải không? Chớ nếu mình thông minh như các vị Bồ Tát nghe cái hiểu liền.
Đó là cái thứ nhất.
Đến cái khó thứ hai nữa nè! Cái pháp của
Ngài nói là vô ngã. Tức là không có ta, không có người tạo tác, cũng không
có người thọ nhận. Mà cái nghiệp thiện ác không mất đó, thì thường thường
nói, bây giờ mình hay nói với nhau làm sao. Mình làm lành thì đời sau
hưởng phước lành, phải không? Mình đời này làm lành thì đời sau thì đời
sau hưởng phước lành. Như vậy đời này mình làm lành, đời sau hưởng phước
lành thì dễ hiểu quá. Như vậy có mình đời này làm, rồi cũng có mình đời
sau hưởng, phải không? Nhưng mà Phật nói mình không thật. Vô ngã là đâu có
ta thật, không có ta thật thì làm điều lành rồi đời sau ai hưởng. Mà không
có ta thật thì ai làm lành. Không có người làm cũng không có người hưởng
mà tại sao cái nghiệp báo không mất. Không làm không hưởng tức là nghiệp
báo mất tiêu chứ gì, phải không? Nói như vậy thì thật là khó hiểu.
Bây giờ tôi thí dụ gần nhất. Thí dụ như
bây giờ bản thân mình hiện tại đây, cái gì là mình. Mấy chú chỉ giùm tôi
đi. Cái gì là ta? Cái ta bây giờ thật là khó mà chỉ. Ngay thân này chỉ cái
gì là ta, chỉ không được. Nhưng mà lúc nào mình cũng nghĩ mình có cái ta
làm chủ cái thân này. Nhưng bây giờ cái ta là cái gì. Mà thật là mình làm
chủ thân này chưa. Đó là một cái.
Bây giờ tôi hỏi mấy chú, tại sao mấy chú
ăn? Tại mình muốn ăn hai tại bao tử trống nó đòi. Nếu mà nói tại mình muốn
ăn đó thì có cái món nào mà mình thích nhất, rồi khi đó có ai cho mình ăn
cơm no đầy, rồi người khác đem cái món mình thích nhất ra, mình có muốn ăn
không? Nếu tại mình thì cái gì mình thích thì mình phải ăn. Nhưng bây giờ
cái bao tử đầy rồi thì có thích thì thích, chớ nuốt không vô phải không?
Như vậy thì mình muốn ăn hay bao tử muốn. Đó, như vậy mới thấy rõ ràng
rằng cái bao tủ khi nó trống, nó đòi hỏi thì mình muốn ăn phải không? Như
vậy mình muốn hay bao tử muốn? Nhưng mà lúc nào cũng nói mình hà. Tôi muốn
ăn. Chớ sự thực ra, do bao tử trống. Như vậy chúng ta mới thấy khi chúng
ta ăn, những thức ăn vô, chúng ta có muốn nó chế biến ra máu, ra gì gì đó,
bằng cách nào không? Cứ dồn đại vô đó rồi tự nó làm sao nó làm cũng không
biết nữa.
Bây giờ tôi thí dụ. Thí dụ như bây giờ ở
đây có ông trụ trì hay ông tri sự, ngoài kia có một số con nít nó vô nó xé
rào. Nó vô bẻ “Điều” hay làm gì đó. Rồi ông tri sự thấy, tức là làm sao?
Mới điều hành chúng ra đuổi nó ra phải không? Điều hành chúng chạy ra
đuổi. Thấy nó xé rào của mình, mình đuổi nó ra. Như vậy mình là chủ, ai
xâm phạm mình liền biết. Biết thì mình liền đuổi ra.
Bây giờ đây cơ thể mình, mấy con vi trùng
ở ngoài nó xâm phạm mình có hay không? Rồi mình có điều động các vi trùng
của mình lại để diệt nó không? Không biết gì hết trơn. Ở trỏng nó làm sao
làm, mình chớ có biết, phải không? Rồi ăn đồ ăn vô nó chế biến làm sao
mình chớ có hay. Chớ phải chi ăn vô rồi mình ấn cái nút nào đó, để cho nó
được tiết chất gì. Ấn cái nút gì để tiết chất gì, để tiêu hóa, rồi nó bổ
dưỡng. Như vậy mình mới là chủ chớ, phải không? Cái này nó làm cái gì mình
không biết hết. Rồi tới chừng nó ra thì hay vậy thôi. Rồi nó thành cái gì
thì thành. Như vậy chủ ở chỗ nào chớ. Có chủ không? Mà không chủ thì làm
sao có ta. Ngã là chủ đó.
Tuy nó không chủ như vậy mà nếu mấy chú cứ
uống rượu hoài thì lâu nó có ghiền không? Ghiền không? Hút thuốc mãi thì
có ghiền không. Tuy không chủ mà nghiệp không mất phải không? Không chủ mà
nghiệp không mất. Nghĩa là làm cái nghiệp gì thì kết quả nó đi tới đó.
Như vậy mới thấy rõ rằng không có ngã,
không tạo tác, không thọ giả mà nghiệp không mất. Đó là một cái đặc biệt.
Mình lâu nay mình si mê, mình cứ tưởng mình là chủ. Khi mình tưởng mình là
chủ đó thì thực ra cái tưởng tượng thôi. Cái giả tưởng chớ không có thực.
Vì thực ra con người mình, mình đâu biết rõ nó phải không? Mình chỉ biết
khái quát nó vậy thôi. Rồi ở trong đó mọi sinh hoạt của nó mình đều không
biết hết. Rồi nhu cầu nó đòi cái gì đó thì, thí dụ bây giờ nghe khô ở
trỏng, khát nước thì mình cứ uống vô, cho ở trỏng có nước nôi cho mát mẻ,
nó hoạt động. Rồi nhu cầu nó thiếu lương thực của cái bao tử thì dồn vô.
Như vậy là đều do cái nhu cầu ở trỏng rồi mình làm theo cái cái nhu cầu
đó. Chớ mình có chủ gì đâu. Bây giờ mấy chú thử làm chủ cái coi. Khi bao
tử trống rỗng không thèm ăn. Không thèm ăn vô thử coi chịu nổi không? Rồi
khi mình vô đầy rồi, nó muốn ra đừng thèm cho nó ra. Chịu nổi không? Thử
làm thử coi. Mấy cái đó đâu làm chủ được phải không? Nghĩa là nó tới giai
đoạn đó, nó đòi vô thì phải cho nó vô. Nó đòi ra phải cho nó ra. Chớ mình
không làm chủ gì hết. Như vậy mới thấy rõ là không có chủ. Mà không có chủ
tức là vô ngã chứ gì. Đó, đã vô ngã thì ai là tạo tác, ai là người thọ.
Nhưng mà cái nghiệp gì mình tạo thì nó không mất. Cái thói quen nào mình
tập thì nó thành công. Nó mắc kẹt ở đó. Như vậy mới thấy cái ý nghĩa của
đạo Phật thật là khó. Vì nó tế nhị quá. Đó là bốn câu tán thán pháp của
Phật nó rất là nhiệm mầu khó hiểu. Rồi kế.
Mới ở cội Bồ đề mà thành Phật hay là mới ở
cội Bồ đề dùng sức mà hàng phục chúng ma được diệt cam lồ giác thành đạo.
Mấy câu này nghe rất là khó.
Đã không tâm ý không thọ hành mà phải hàng
phục các ngoại đạo.
Nói rằng đức Phật khi Ngài tu ban đầu dưới
cội Bồ đề, Ngài mới dùng sức để hàng phục ma quái. Như mình đọc trong sử
hay nói rằng: Ngài hàng phục ma vương đó. rồi chữ “Đắc cam lồ giác diệt
giác đạo thành”. Đắc cam lồ diệt là làm sao? Bởi vì trong Tứ Đế, Diệt đế
là Niết bàn. Diệt đế tức là vị cam lồ. Mà được Diệt đế rồi thì mới giác
ngộ mới thành đạo. Như vậy thì mình mới thấy chỉ có mấy chữ thôi mà nói
quá rộng. Bởi khi Ngài ngồi dưới cội Bồ đề dùng sức hàng phục ma quái. Khi
hàng phục ma quái rồi, được cái Diệt. Diệt đó là được cái tâm thanh tịnh.
Đó là cái vị cam lồ. Nhân đó Ngài mới giác ngộ mới thành đạo. Ngài đã
không còn có cái tâm ý, không còn có cái thọ hành. Thọ hành tức là nghiệp
đó. mà phải hàng phục được các ngoại đạo. Thường thường thì muốn hàng phục
ai, muốn lý luận với ai thì trước mình phải làm sao. Trước mình phải suy
nghĩ, phải không? Mình tìm lý này, lẽ kia để mà mình cố chinh phục họ. Đó
là tâm ý sử dụng trước nhưng mà với Phật thì cái ý nghiệp Ngài đã hết. Đã
thanh tịnh tất cả. Những tâm phiền não không còn. Như vậy lấy cái gì mà
Ngài hàng phục ma quái hay là hàng phục ngoại đạo. Tuy rằng tâm ý không
còn suy nghĩ phân biệt mà Ngài hàng phục được ngoại đạo. Đó là cái đặc
biệt. Cho nên thường gọi là thời trí đó. Ngài không cần suy nghĩ trước.
Nhưng mà vừa tới, người ta đề ra cái gì là Ngài thấy rõ vấn đề đó. Ngài
liền bẻ họ. Chớ không phải như mình phải nằm suy nghĩ năm tháng, ba tháng
gì. Rồi để mà lập lý luận, mà tới bàn với người ta. Không phải vậy. Bởi
vậy cho nên nói cái đặc biệt của Ngài đó, là khi mà giác ngộ rồi thì tâm ý
Ngài đã trong sạch. Nghiệp không còn. Như vậy mà Ngài khéo hay hàng phục
hết thảy các ngoại đạo.
Ba phen chuyển pháp luân ở đại thiên. Cái
pháp luân kia xưa nay thường thanh tịnh. Trời, người được đạo này.
Tức là được đạo do chuyển pháp luân đó, là
chứng quả.
Tam bảo nơi đây hiện thế gian.
Hay là tam bảo khi ấy hiện thế gian. Đây
là tán thán đức Phật ở vườn Lộc Uyển. Ngài khéo chuyển pháp luân hay là
tam chuyển pháp luân. Rồi những vị có mặt ở đó là người, là trời... Nhờ đó
mà chứng được đạo. Từ đó mới đủ tam bảo hiện thế gian. Tại sao nói rằng
chuyển pháp luân ở đại thiên. Thường thì chúng ta thấy Ngài chuyển pháp
luân ở vườn Lộc uyển, với năm anh em Kiều Trần Như thôi phải không? Chớ
đâu có chuyển khắp hết mà nói là cả đại thiên. Nhưng mà nếu đọc sử thì mấy
chú thấy, khi Phật chuyển pháp luân tại vườn Lộc Uyển rồi thì cái tiếng đó
vang lên, chư thiên ở các cõi trời đều lập lại cái đó phải không? Lập lại
tiếng đó cho đến vang khắp cả cõi Trời, tới cõi Phạm Thiên. Bởi vậy cho
nên nói rằng chuyển pháp luân cả đại thiên là vậy. Nghĩa là khi Phật nói,
thuyết pháp ở vườn Lộc Uyển, năm anh em ông Kiều Trần Như nghe pháp Tứ đế
đó. Nghe cái đó rồi thì chư Thiên, Long Thần, Thổ Địa mới diễn tiếng đó
lại. Rồi nó vang lên ở trên các cõi đều diễn tiếng đó mà nó trùm cả tới
cõi Trời Phạm Thiên.
] |