THIỀN TÔNG TRỰC CHỈ
|
A. MẬT TRUYỀN THAM THIỀN YẾU PHÁP Hạ thủ công phu tu thiền, điều cốt yếu thứ nhất phải lập chí vững chắc. Bởi v́ chí là vị nguyên soái của khí lực. Nếu người lập chí vững chắc, như thống lănh trăm vạn quân, uy thế dậy trời, c̣n việc ǵ chẳng thành. Người hay sợ khó là tại lập chí không vững. Người chạy theo cảnh cũng tại lập chí không vững. Người nghe chê khen bèn dời đổi, giữa đường tự lùi, trước siêng sau lười, đều là chí không vững. Tôi thường tuyển đọc sách Tâm pháp, mở đầu sách đă thấy nói : “Lập chí nếu vững đổi khó thành dễ”. Nay đối với công phu tu thiền cũng như thế. Chí vững th́ sự ắt thành, tôi mượn việc đời để bàn điều này, ví như vua Việt phục thù vua Ngô, Trương Lương trả hận nước Hàn, Địch Nhân Kiệt tái hưng nhà Đường, thảy đều do chí quyết định mà việc được thành công đúng sở nguyện. Phật Pháp cũng như thế. Ngạn ngữ nói : “Người nam không chí như sắt lụt không cứng, người nữ không chí như cỏ thối không tươi”. Công phu tu thiền chí này rất là tối yếu. Đại sư Trung Phong ca rằng : Cũng không khó cũng không dễ, Chỉ quư nam nhi có thật chí, Thật chí sức đạo mới vững mạnh, Sức mạnh tiến đạo như tṛ chơi. Đây là phương pháp ứng nghiệm vậy. * Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ. Cần biết, phàm phu một niệm giác, tức một niệm là Phật. Phật một niệm chẳng giác, tức một niệm là phàm phu. Bởi v́ giác tức là Phật, Phật tức là giác. Phật với phàm phu chỉ tại giác cùng chẳng giác mà thôi. Tâm người có giác tức là có Phật. Giác hay mở cửa lục độ, hay vượt qua kiếp hải ba a-tăng-kỳ, khắp làm lợi ích như cát bụi, khuếch trương phước tuệ, được sáu thứ thần thông, tṛn đầy quả Phật trong một đời. Cảnh khổ trong địa ngục, nào vạc dầu sôi, sông băng, nghe đến giác liền biến thành hương lâm (rừng hương); uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng, nghe đến giác thảy đều sanh Tịnh độ. * Hạ thủ công phu tu thiền, tôi có một câu diệu quyết, chỉ bốn chữ Kiên Tŕ Chánh Giác. Cốt biết tín lực là kiên, nghĩa là kiên cố không biến đổi. Niệm lực là Tŕ, nghĩa là nắm giữ lâu mấy cũng không chán. Chánh giác là tṛn sáng soi khắp, không lệch chẳng thiếu. Người hay phát Chánh giác th́ bản tánh tự nhiên hiển lộ, tất cả vọng tâm chẳng đợi đuổi dẹp mà tự hàng phục. Ví như ánh sáng mặt trời vừa soi th́ tối tăm hết sạch. Đây tuy bốn chữ, kỳ thật chỉ một chữ Giác. Một chữ Giác này đều do Định Tuệ mà được. Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Niệm khởi liền giác, giác nó liền không. Diệu pháp tu hành chỉ tại nơi đó. Ví như biết là giấc mộng th́ không c̣n mê. Người biết được cái giác này, cần yếu chấn khởi tinh thần như vị tướng quân đang ở trong trận, như vị quan ṭa tại pháp đ́nh, không được dính một mảy hôn trầm. * Hạ thủ công phu tu thiền cần phải lập chí cho vững, lại cần “thường hằng”. Nếu không thường hằng phần nhiều đến giữa đường bỏ cuộc, hoặc được chút ít rồi tự dừng, đều là tự bỏ. Thật đáng tiếc ! * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ gián đoạn. Nếu siêng tu một tháng đă lên bậc Thượng thừa, chỉ có gián đoạn năm, mười ngày th́ bậc Thượng thừa kia chẳng biết ở đâu ? Lại chẳng được vịn vào sự siêng năng của tháng trước mà sanh ỷ lại. * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ hôn trầm tán loạn. Cái hôn trầm tán loạn này đều do chính ḿnh lập chí không vững, ḷng tin đạo không thiết tha mà đến như thế. Thật là đáng tiếc ! Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn tại “tự tham tự ngộ”. Dù cho thân thiết như cha con thầy bạn đều không thể thay thế được, cũng không phải như kỹ nghệ ở thế gian có thể truyền trao cho được. Ví như người khác ăn cơm th́ chỉ người ấy bụng được no, chớ bụng ḿnh vẫn đói. Đại sư Huệ Tư nói : “Nguồn đạo chẳng xa, tánh biển chẳng cách, chỉ chính ḿnh cầu, chớ từ nơi người mà t́m, t́m cũng chẳng được, dù được cũng chẳng chân”. Đây có thể gọi là cầu người chẳng bằng cầu nơi ḿnh vậy. * Hạ thủ công phu tu thiền ngày đêm hai mươi bốn giờ đều là giờ dụng công phu. Nếu canh năm ngủ thức dậy, hoặc gần sáng dậy sớm, áp dụng công phu, th́ công phu này kết quả gia bội. Cần biết, lúc trời rựng sáng là khí trời đất thanh sảng, cần phải nắm lấy, không nên thả trôi qua ngày. * Hạ thủ công phu tu thiền chẳng cần canh năm ngủ, canh ba dậy, chỉ sợ một ngày nóng mà mười ngày lạnh thôi. * Hạ thủ công phu tu thiền cần biết, ở trần thế có rất nhiều cảnh ác, như sanh già bệnh chết, lo buồn khốn khổ, dàm danh khóa lợi, gió sợ sóng hoảng, dù có chút ít vui vẻ cũng chỉ là hoa đốm giữa hư không chẳng thật, tạm thời không lâu. Cốt phải khán cho thấu triệt, mới biết Phật pháp là việc cứu ta ra khỏi biển khổ, mới là mừng rỡ vui vẻ. * Hạ thủ công phu tu thiền, nếu được mừng rỡ vui vẻ th́ tự nhiên thay đổi dụng công, tự nhiên tinh tấn chẳng lười. Được mừng rỡ vui vẻ rồi, cần phải xem các việc khổ sở sanh già bệnh chết của người đời đều là cái gương ta chẳng dụng công, vậy tại sao dám lơ là ? * Hạ thủ công phu tu thiền, rất sợ nói lời vô ích, chăm nom việc vô ích. Nói lời vô ích, chăm nom việc vô ích đều khiến tâm người tán loạn, tinh thần dao động, không có lợi lại có hại. Lại đem thời giờ quư báu thả trôi sông. Thật là đáng tiếc ! * Hạ thủ công phu tu thiền, nếu khi dụng công nhiều th́ khó khỏi nhọc nhằn, cần phải đi bách bộ thong thả, đi thong thả để nuôi dưỡng tinh thần, đợi tinh thần thơ thới rồi lại khởi dụng công th́ tự nhiên sáng suốt giác ngộ. Nếu tinh tấn đến khổ nhọc lừ đừ, đă lừ đừ lại khổ nhọc dụng công, th́ không những tánh mờ tối chẳng lanh sáng, mà lại thân thể yếu đuối, bệnh tật phát sanh. Khi bệnh tật phát sanh th́ công phu hết, thế là muốn mau mà trở thành chậm. * Hạ thủ công phu tu thiền, một ngày qua phải thấy là một ngày tinh tấn. Nếu là lơ thơ lững thững, dù trải qua trăm kiếp ngàn đời cũng không có ngày được thành công. Người xưa khi dụng công, đốt một cây hương, thấy cây hương tàn rồi, liền tự nhắc rằng : “Công phu như trước không có thêm bớt, một ngày bao nhiêu cây hương, một năm bao nhiêu cây hương ? Năm tháng dễ qua, ngày giờ không đợi người, việc lớn chưa sáng, ngày nào mới xong ?” Do đó, đau xót hối tiếc, lại thêm phần cố gắng. Nhà nho Châu Văn Công nói : “Chớ bảo ngày nay chẳng học c̣n có ngày mai, chớ bảo năm nay chẳng học c̣n có năm tới, ngày tháng trôi qua, năm chẳng đợi người. Than ôi ! Già rồi, lỗi bởi tại ai ?” Công phu tu tập Phật pháp cũng như Nho học này, chỉ hai chữ Thời Tập là thành tựu một đời, chỉ bốn chữ “Hăy đợi ngày mai” là sai lầm một đời. * Hạ thủ công phu tu thiền tuy không thể dừng chậm, mà cũng không thể quá gấp. Ví như người đi bộ giỏi, mỗi ngày có thể đi bộ được một trăm dặm, mà chỉ đi bộ bảy tám mươi dặm, th́ khí lực c̣n thừa, gân cốt không mỏi; nếu ỷ vào sức mạnh đi hơn trăm dặm tự nhiên phải gắng đi thật nhanh, ắt sanh mỏi mệt, th́ ngày mai không thể đi nổi. Người hạ thủ công phu thường thường sanh bệnh hoạn đều do như thế. * Hạ thủ công phu tu thiền nếu thân thể nhọc nhằn, cần phải dùng sức chuyển động hai vai đến trước lại sau, lên xuống vài chục lần th́ thân thể điều ḥa, huyết mạch lưu thông, tinh thần sảng khoái, chẳng sanh các bệnh. Đây là phương pháp Lộc Lô Song Quan của nhà tu dưỡng, nó cũng hay đuổi được khí lạnh. * Hạ thủ công phu tu thiền, hoặc có người hỏi : “Chỉ lấy tham ngộ làm chủ, đâu cần bảo dưỡng thân thể ?”. Tôi sẽ đáp : Đây là mượn giả để tu thật. Ví như nấu trà, nếu không có ḷ lửa th́ trà đâu thể tự chín, vả lại ḷ hư lửa tắt th́ sức lạnh càng thêm. Việc nhỏ chẳng tốn bao nhiêu công, mà e việc lớn không nhất định thành, trái lại đến phí thời giờ, không kết quả. Người sáng tự hiểu đó. * Hạ thủ công phu tu thiền, ban ngày tinh tấn không biếng trễ, chẳng cần phải nói, phàm mỗi tối dụng công chỉ hơn một canh, không cần quá lâu. Nếu người quá nửa đêm không ngủ th́ máu không trở về gan, hôm khác sanh bệnh là do tại đó. Lại có một hạng người hay mài luyện không nằm, đâu không biết công phu tu hành Phật pháp chẳng phải tại ngủ cùng không ngủ. * Hạ thủ công phu tu thiền, đi đứng nằm ngồi đều có thể dụng công. Hoặc ngồi lâu rồi cần phải đi đứng, hoặc đi lâu rồi cần phải ngồi lại, chẳng chuyên ngồi. Có người học ngồi luôn không nằm, Lục Tổ dạy : “Sống đây ngồi chẳng nằm, chết đi nằm chẳng ngồi, chỉ một đầu xương thúi, sao lấy làm công khóa ?” Đây thật rơ ràng về lẽ ngồi nằm vậy. * Hạ thủ công phu tu thiền tối yếu phải phá tâm sanh tử cứng chắc, xem xét thế giới thân tâm đều là giả duyên không thật. Nếu không phát minh được đại sự sẵn đủ của ḿnh, th́ tâm sanh tử không thể phá. Tâm sanh tử đă không phá được, th́ con quỉ vô thường niệm niệm chẳng dừng làm sao đuổi được. Phải lấy một niệm này làm ḥn gạch gơ cửa. Ví như đang ngồi trong đống lửa lớn cố t́m lối thoát ra, chạy quanh một bước cũng không được, dừng lại một bước cũng không được, sanh một niệm khác cũng không được, trông người khác cứu cũng không được. Chính khi ấy, cần phải chẳng ngại lửa mạnh, chẳng kể thân mạng, chẳng trông người cứu, chẳng sanh niệm khác, chẳng chịu tạm dừng, nhắm trước chạy thẳng, chạy ra rồi mới là người giỏi. * Hạ thủ công phu tu thiền cần lấy một chữ Tử dán ở trên trán, xem thân thể máu thịt này như đă chết đi, chỉ cốt thấu rơ một niệm. Một niệm hiện tiền, như được cây Ỷ Thiên trường kiếm, nếu chạm mũi nhọn của nó không thể được, nếu cà nhám cọ lụt th́ kiếm ấy bỏ đi vậy. * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ say mê cảnh tịnh, nó khiến người ch́m chỗ khô lặng mà không biết. Cốt hiểu rằng cảnh động nhiều người chán, cảnh tịnh đa số không sanh chán. Bởi v́ người đời một bề ở chỗ ồn náo, nên thích hợp với cảnh tịnh, như ăn kẹo ăn đường, như người mệt lâu thích ngủ, tự nhiên tham trước mà không tự biết, cần phải mau mau phá dẹp. Ngoại đạo dạy người khiến thân tâm đoạn diệt hóa thành cây khô tro lạnh, cũng từ nơi tịnh cảnh mà vào. Nếu lâu năm chầy tháng, khô lại càng khô, lặng lại càng lặng, sa vào chỗ không biết, th́ cùng cây khô tro lạnh khác ǵ ? Người hạ thủ công phu ở chỗ cảnh tịnh, cốt để phát minh một đoạn đại sự ở trong y áo của ḿnh mà lâu rồi không biết, nay nhờ ở cảnh tịnh mới được. Cái đại sự đó t́m nơi tướng tịnh trọn không thể được, thế mới là được vậy. * Hạ thủ công phu tu thiền, thiết yếu tại định tuệ. Cần biết, định với tuệ như đồng một vật bên trong và bên ngoài, là hai mà không phải hai, chia rời không được. Khi định sanh th́ hôn trầm cũng theo đó mà sanh, nếu hôn trầm sanh th́ định mất. Khi tuệ sanh th́ tán loạn cũng theo đó mà sanh, nếu tán loạn sanh th́ tuệ mất. Ta có diệu pháp điều trị, cần phải định lóng sáng th́ định với tuệ mới thành công. Cần phải tuệ an tường, th́ tuệ với định mới thành công. Hai cái này ĺa nó không được, hợp cũng không được, lẫn nhau thành một mới thật là diệu pháp. Khéo biết pháp này th́ thành đạo không khó. Người cầu minh tâm kiến tánh, thành Phật thành Tổ, chỉ ở trên định tuệ dụng công. Biết được cái diệu của định tuệ th́ dễ như trở bàn tay, bằng không biết cái diệu của định tuệ th́ khó như lên trời. Khó hay dễ đều tại chính ḿnh đảm đang lấy. Định là thể của tuệ, tuệ là dụng của định. Ví như ngọn đèn với ánh sáng, ngọn đèn là thể của ánh sáng, ánh sáng là dụng của ngọn đèn. Hai cái đều lẫn nhau hiển bày, không nên thiên trọng một cái. Chính khi tuệ th́ định ở trong tuệ, chính khi định th́ tuệ ở trong định. Tên tuy có hai, thể vốn không khác. Chỉ có định mà không tuệ liền theo đó bị hôn trầm, chỉ có tuệ mà không định liền theo đó bị tán loạn. Cần phải gồm hai, không thể chia rời. Ở đoạn trên, tôi nói phương pháp điều trị định tuệ đă xong, vẫn c̣n ngại có người chưa rơ. Giờ đây, tôi giải lại cho rơ. Tôi gọi hôn trầm tức người đời gọi là vô kư. Tôi gọi tán loạn tức người đời gọi là vọng tưởng. Cần biết định th́ phần nhiều hay sanh vô kư, tuệ th́ phần nhiều hay sanh vọng tưởng. Định tuy hay trị vọng tưởng mà trở lại sanh vô kư. Tuệ tuy hay trị vô kư mà trở lại sanh vọng tưởng. Ngày nay thực tập công phu, chỉ cần định có tuệ, cốt đừng nhập cái định hôn trầm vô kư; chỉ cần tuệ có định, cốt đừng nhập cái tuệ tán loạn vọng tưởng. Là hai mà chẳng hai, định tuệ dung ḥa, th́ công phu mới tăng trưởng. Đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai truyền diệu pháp Chỉ Quán. Nghĩa là chỉ mà quán đó, tịnh mà minh đó, khiến động mà được tịnh, tịnh mà được sáng. Sáng th́ chiếu, chiếu th́ một vậy. Đây thật là chỉ đường giác cho quần sanh. Cốt nên biết, tôi nói pháp định tuệ là Đại sư nói pháp Chỉ Quán, đâu cần ǵ cầu Phật pháp khác. Người khi rời bỏ cuộc đời, nếu có công phu định tuệ, ắt được lên thế giới Cực Lạc. Diệu pháp này lúc b́nh nhật cần phải tập cho thuần thục. Bậc minh triết nói : “Người đời trọn ngày hôn tán, khi sắp chết làm sao được định tuệ. Người học đạo trọn ngày định tuệ, khi sắp chết đâu thể hôn tán”. Nếu đợi khát nước mới đào giếng th́ đâu cứu được ! * Hạ thủ công phu tu thiền rất khẩn yếu ở một chữ Thiết. Chữ Thiết rất có sức mạnh. Nếu chẳng Thiết th́ lười biếng sanh. Lười biếng sanh th́ buông lung phóng ư không chỗ nào chẳng đến. Nếu thật dụng tâm chân thiết th́ buông lung lười biếng do đâu được sanh. Nên biết, một chữ Thiết nếu hay dán dính trên thân th́ khỏi lo tâm sanh tử chẳng phá, khỏi lo chẳng đến địa vị Phật Tổ. Bỏ chữ Thiết này riêng cầu Phật pháp, đều là si cuồng ngoại đạo. Một chữ Thiết là lời rất thân thiết, như dụng tâm thân thiết th́ không kẽ hở, do đó các thứ tà ma không thể xâm nhập. Như dụng tâm thân thiết tự nhiên không sanh suy tính, có niệm không gián cách th́ chẳng rơi vào ngoại đạo. Một chữ Thiết đâu những ĺa lỗi, liền đó vượt khỏi ba tánh thiện, ác, vô kư. Một câu thoại đầu dụng tâm thậm thiết th́ không nghĩ thiện, dụng tâm thậm thiết th́ không nghĩ ác, dụng tâm thậm thiết th́ không rơi vào vô kư. Thoại đầu thiết th́ không trạo cử, thoại đầu thiết th́ không hôn trầm. Chỉ cốt chánh giác hiện tiền th́ các ma tự lui, chánh giác phi thiết chẳng sanh. * Hạ thủ công phu tu thiền chẳng sợ chết không được sống, chỉ sợ sống không được chết. Nếu thật nghi t́nh kết tụ ở một chỗ, cảnh động chẳng đợi đuổi mà tự đi, vọng tâm chẳng đợi tịnh mà tự tịnh, sáu căn ở ngoài cửa tự nhiên rỗng suốt hết, ra dấu liền đến, gọi lên liền đáp, lo ǵ chẳng sống? * Hạ thủ công phu tu thiền cốt phải ngay thẳng cao vót, chẳng gần nhân t́nh. Nếu đáp ứng theo t́nh cảm th́ thực hành công phu chẳng tiến. Không những chẳng tiến mà lâu ngày chầy tháng sẽ trôi theo thế tục, rất là đáng tiếc ! Ví như chính ḿnh bận việc th́ đâu thể có công coi sóc việc người. Ngay thẳng cao vót chính là Chánh đẳng Chánh giác. * Hạ thủ công phu tu thiền điều thứ nhất là Chánh giác. Chánh giác là phút giây nào cũng chiếu soi lại cái linh minh của chính ḿnh, không thể buông nó chạy đi. Nếu cái linh minh đi rồi, th́ thân này chỉ là cái thây chết có hơi thở. Lại là hôn trầm không niệm, rơi vào ngoan không khô lặng. Tuy là vận dụng công phu khổ nhọc mà không có mảy may lợi ích. Hạ thủ công phu tu thiền tu tập được tiến lên, như người gánh nặng ngàn cân, buông cũng chẳng rớt, giống như người t́m một vật quan trọng bị rơi mất, nếu t́m không được thề chẳng thôi nghỉ. Trong đó chỉ không nên sanh chấp trước tính toán. Nếu chấp th́ thành bệnh, trước th́ thành ma, tính toán th́ thành ngoại đạo. Thật được nhất tâm nhất ư, giống hệt người t́m vật đă mất th́ ba thứ (chấp, trước và tính toán) vỡ tan không c̣n dính mắc. Nên nói, sanh tâm động niệm đều trái với pháp thể. * Hạ thủ công phu tu thiền khi đề khởi thoại đầu cốt phải rơ ràng sáng sủa, giống in như con mèo ŕnh chụp chuột. Người xưa nói : “Chẳng chém được đứa mọi thề không thôi”. Nếu chẳng vậy, là ngồi trong nhà quỉ, mờ mờ mịt mịt, qua rồi một đời, có chỗ nào lợi ích ? Mèo ŕnh chuột mở tṛn đôi mắt, bốn chân chực sẵn, chỉ cốt chụp chuột đến miệng mới được, dù có gà chó ở bên cạnh đều không để mắt ngó. Người tham thiền cũng như thế, chỉ là chăm chú cốt suốt lư này, dù có tám cảnh xen lẫn ở trước cũng không để mắt nh́n, vừa có niệm khác, chẳng những không bắt được chuột, mà mèo cũng chạy mất. * Hạ thủ công phu tu thiền không nên ở trên công án của tiền nhân mà suy nghĩ, thêm sự giải thích. Dù mỗi mỗi hiểu qua cùng với chính ḿnh cũng không dính dáng ǵ. Cần yếu biết mỗi câu mỗi lời của tiền nhân như đống lửa lớn, gần nó không được, xúc chạm cũng không được, huống là ngồi nằm trong ấy, lại ở trong đó phân lớn phân nhỏ, nói trên nói dưới, th́ có chỗ nào lợi ích ? Việc ấy không cùng giáo lư hợp, do đó những vị tu tập Đại thừa đă lâu, vẫn không hiểu không biết, huống là các hàng Tiểu thừa Thanh văn Duyên giác? Bậc Tam hiền Thập thánh đâu không thông giáo lư, mà nghe nói một việc này, Tam thừa c̣n tan mật, Thập thánh phải kinh hồn. Bậc Bồ-tát Đẳng giác thuyết pháp như mây như mưa, độ chúng sanh không thể nghĩ bàn vào vô sanh pháp nhẫn, vẫn gọi là sở tri ngu, cùng đạo c̣n trái, huống là những bậc khác ? Bởi v́ việc này từ chỗ phàm phu chóng đồng Phật thể, người thật khó tin. Người tin được là hàng pháp khí, người không tin chẳng phải pháp khí. Những người tu hành muốn vào Tông thừa này ắt từ tin mà vào. Một chữ Tin có cạn có sâu, có tà có chánh, không thể không biện biệt. Phàm vào pháp môn có ai mà nói chẳng tin. Nhưng, chỉ tin pháp môn mà không tin tâm ḿnh là tin cạn. Các hạng Bồ-tát Đại thừa c̣n chẳng đủ ḷng tin, như kinh Hoa Nghiêm sớ nói : “Thấy có người hay nói pháp, có chúng nghe pháp, c̣n chưa vào cửa tin”. Như nói tức tâm tức Phật th́ ai bảo là chẳng tin. Song, nếu có người hỏi : “Ông là Phật chăng ?” liền bị phá dẹp không thể thừa đương. Kinh Pháp Hoa nói : “Tột nghĩ chung suy xét, không thể lường trí Phật”. Sở dĩ có tâm tột nghĩ xét, là do ḷng tin chẳng đủ vậy. Có đủ ḷng tin này là tin sâu. Tin tâm ḿnh tức là Phật, gọi là tin chánh. Ngoài tâm chấp pháp, gọi là tin tà. Tin tức tâm là Phật, cốt phải thấu rơ tâm ḿnh, bước đi trên đất thật ấy đến chỗ chẳng nghi, mới gọi là tin chánh. Mù mờ ngờ vực bướng nói tâm tức là Phật mà thật không biết tự tâm, tức là tin tà. Người xưa hái rau gánh củi vẫn định, cuốc đất cày ruộng vẫn định, khi làm công kia việc nọ vẫn định, đâu phải ngồi lâu kềm vững khiến tâm chẳng khởi, nhiên hậu mới là định. Nếu như thế, gọi là định tà, không phải chánh ư của Phật pháp. Lục Tổ bảo : “Na-già thường tại định, không lúc nào chẳng định”. Phải thấy tột bản thể mới tương ưng với định này. Đức Thích-ca từ Đâu Suất hạ sanh, giáng thần trong hoàng cung, vào núi tuyết, thấy sao mai mọc, mở đường dạy chúng, chưa từng ra khỏi định này. Nếu chẳng vậy, đă bị cảnh động lôi cuốn, đâu gọi là định. Trong cảnh động t́m chỗ khởi không có, trong cảnh tịnh t́m chỗ khởi cũng chẳng có. Cảnh động đă không chỗ khởi th́ lấy cái ǵ làm cảnh ? Hội được ư này thảy đều là một thể định, đầy dẫy tràn trề, không dư không che đậy. * Hạ thủ công phu tu thiền không nên dính mắc thế pháp. Trong Phật pháp c̣n không dính một điểm, huống là thế pháp. Nếu thoại đầu hiện tiền chân chánh th́ dẫm xuống nước chẳng thấy lạnh, chạm vào lửa chẳng biết nóng, trong rừng gai chông nằm ngang đi thẳng chẳng thấy chướng ngại. Được vậy, mới có thể ở trong thế pháp đi ngang chạy dọc. Bằng không, hoàn toàn bị cảnh duyên lôi cuốn, dù muốn được công phu thành một khối, trải nhiều năm cũng không thể được. * Hạ thủ công phu tu thiền không nên tầm văn trục cú ghi lời nhớ câu, không những vô ích mà c̣n làm chướng ngại công phu. Nắm công phu chân thật mà trở thành duyên lự. Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ so sánh, đem tâm tính toán, cùng đạo trái xa, dù thực hành đến Phật Di Lặc ra đời vẫn không dính dáng. Nếu là người nguyện phát nghi t́nh, dù sự vật đầy bít hư không vẫn không biết có danh tự hư không, như ngồi trong núi bạc vách sắt, chỉ cầu được con đường sống. Nếu không được con đường sống, th́ làm sao được an ổn. Chỉ thực hành công phu như thế, thời tiết đến tự nhiên có thành. Gần đây, có một số tà sư dạy người, không do cố gắng dụng công. Lại nói : “Cổ nhân chưa từng dụng công phu”. Lời nói này rất độc, làm mê lầm kẻ hậu học, sẽ vào địa ngục vậy. Thiền sư Đại Nghĩa làm bài minh tọa thiền nói : Chớ tin rằng đạo chẳng cần tham, Thánh trước chăm chăm làm chỉ nam. Dù rằng gác cũ nhàn điền địa, Một phen gầy dựng thật gian nan. Nếu chẳng cần tham cứu mà bảo được lư, đây là Di Lặc trời sanh, Thích-ca tự nhiên. Bọn này thật là đáng thương xót vậy. Bởi v́ tự họ chẳng hiểu tham cứu, hoặc thấy người xưa một hỏi một đáp liền lănh ngộ, bèn đem cái hiểu biết của t́nh thức để giải thích, là dối gạt người. Hoặc bị cơn bệnh ngặt, liền kêu la om ṣm, những cái hiểu lúc đương thời đem dùng không được. Hoặc đến lúc sắp chết, như con cua bỏ vào chảo nước sôi, tay chân rối loạn, bấây giờ hối hận chẳng kịp. Thiền sư Hoàng Bá nói : Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường, Đầu dây nắm chặt giữ lập trường. Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương. Lời này thật rất thân thiết. Nếu đem bài kệ này luôn luôn cảnh sách công phu th́ tự nhiên thực hành được tiến bộ. Như người đi con đường trăm dặm, đi một bước là gần một bước, không đi th́ đứng nguyên chỗ cũ. Dù người ấy nói được sự nghiệp ở quê hương rơ ràng rành rẽ, trọn không đến nhà, làm sao được việc lớn ấy. * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ suy nghĩ làm thơ, làm kệ, làm văn phú v.v… Nếu làm thành thi kệ th́ gọi thi nhân, làm văn phú giỏi th́ gọi văn nhân, cùng với tham thiền toàn không dính líu. * Hạ thủ công phu tu thiền, gặp phải cảnh duyên thuận nghịch, chỗ làm người động niệm, liền phải biết để phá. Chỉ đề khởi thoại đầu không cho cảnh duyên xoay chuyển. Có người mới vừa được thành, liền nói: “Chẳng cần chống”. Ba chữ này làm lầm người, học giả không thể không xét. * Hạ thủ công phu tu thiền, nghi t́nh chưa phá như đến hố sâu, như đi trên băng, mảy may mất niệm là tan thân mất mạng. V́ nghi t́nh chưa phá th́ đại lư không sáng, một hơi thở không trở lại th́ đời này c̣n bị thân trung ấm lôi kéo, chưa khỏi theo nghiệp thức mà đi, sửa đầu đổi mặt chẳng hiểu chẳng biết. Bởi thế, nên trên nghi lại thêm nghi, đề khởi thoại đầu, chưa sáng quyết định phải sáng, chưa phá quyết định phải phá. Ví như bắt kẻ trộm, cần phải thấy nó. * Hạ thủ công phu tu thiền cần phải Khẩn, cần phải Chánh, cần phải Miên Mật, cần phải Dung Hoát. Thế nào là Khẩn ? Mạng người tại hơi thở, đại sự chưa sáng, một hơi thở không trở lại, đường trước mờ mờ chưa biết về đâu, th́ không thể chẳng Khẩn. Cổ Đức nói : “Như dây gai thấm nước, một bước gấp một bước”. Thế nào là Chánh ? Người học phải đủ con mắt lựa pháp, một ngàn bảy trăm Tổ sư đều là mô phạm, nếu sai một hào ly th́ vào đường tà. Kinh nói : “Chỉ đây một việc thật, c̣n hai th́ chẳng chân”. Thế nào là Miên Mật ? Lông mày cùng hư không kết chặt, mũi kim găm chẳng lủng, nước rưới chẳng ướt, chẳng cho một tí kẽ hở. Nếu có một tí kẽ hở th́ ma cảnh theo kẽ hở chui vào. Cổ Đức nói : “Một phút chẳng hiện có, giống như người chết”. Thế nào là Dung Hoát ? Thế giới rộng một trượng th́ gương xưa (cổ kính) rộng một trượng, gương xưa rộng một trượng th́ ḷ lửa rộng một trượng, quyết định không cố chấp ở một chỗ. Nắm chặt đầu rắn chết, cũng không kẹt ở hai đầu, mênh mông lênh láng. Cổ đức nói : “Tṛn đồng thái hư, không thiếu không dư ”. Thật đến chỗ Dung Hoát th́ trong không thấy có thân tâm, ngoài không thấy có thế giới, mới được lối vào. Bốn thứ này chẳng phải có thứ lớp trước sau, cần phải đồng hành. Khẩn mà không chánh th́ uổng dụng công. Chánh mà không Khẩn th́ không thể vào. Đă vào cần phải Miên Mật mới được tương ưng. Đă tương ưng phải Dung Hoát mới làm hóa cảnh. * Hạ thủ công phu tu thiền không được có một mảy niệm khác. Đi đứng ngồi nằm luôn luôn đề khởi câu thoại đầu đă tham. Phát khởi nghi t́nh, hẳn phải giải quyết cái ấy cho xong xuôi. Nếu có một mảy may niệm khác, người xưa gọi đó là tạp độc nhập tâm, đâu những hại thân mạng, mà nó hại cả tuệ mạng. Người học không thể không cẩn thận. Tôi nói niệm khác không phải chỉ pháp thế gian, trừ ngoài câu thoại đầu tâm đang tham cứu, tất cả việc tốt trong Phật pháp đều gọi là niệm khác. Lại, không những việc trong Phật pháp, mà ở trên tâm thể sanh thủ, xả, chấp, buông đều là niệm khác. * Hạ thủ công phu tu thiền đối với tất cả sự vật trên đời, nào là đáng yêu đáng ghét đáng mừng đáng buồn, các thứ t́nh cảm suy nghĩ thảy đều dẹp hết. Chỉ c̣n cái chánh giác của ta, chẳng đoái hoài những việc khác. Lại, cốt yếu làm một người vô dụng, mặc t́nh người đến bắt bẻ ta, ta chỉ làm kẻ vô tri vô lư; mặc t́nh người đến cười chê ta, ta cũng chỉ làm kẻ vô tri vô lư. Ta cốt soi xét cái chánh giác chính ḿnh, không dám biếng trễ để qua thời giờ. * Hạ thủ công phu tu thiền, khi thực hành đa số người nói : “Thực hành không tiến”. Chính chỗ thực hành không tiến này, lại gắng thực hành. Như người không biết đường phải cố gắng t́m đường. Không thể nói : “T́m đường không được, nên bỏ việc t́m đường”. Nếu t́m đường đă được, quư ở chỗ phải đi, đi thẳng đến nhà mới thôi. Không nên ở trên đường dừng nghỉ không đi, th́ trọn không có ngày đến nhà. * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ cái tâm lanh lợi, tâm lanh lợi là thứ thuốc kỵ. Người phạm chút ít thuốc kỵ này, th́ dù có chân dược hiện tiền cũng không thể cứu được. Nếu thật là người tham thiền th́ có mắt như mù, có tai như điếc, khi tâm niệm vừa khởi in như vin vào núi bạc vách sắt. Người được vậy th́ công phu mới được tương ưng. * Hạ thủ công phu tu thiền chẳng sợ sai lầm, mà chỉ sợ không biết sai lầm. Mặc dù hành ở chỗ sai lầm, nếu có một niệm biết sai lầm, bèn là nền tảng thành Phật thành Tổ, là con đường ra khỏi sanh tử, là món đồ sắc bén phá lưới ma. Phật Thích-ca trong pháp ngoại đạo mỗi mỗi đều chứng qua, chỉ không chịu ngồi trong hang ổ ấy. Dùng bốn chữ biết sai liền bỏ là từ phàm phu tiến đến quả vị Phật. Ư này đâu riêng trong pháp xuất thế, ở trong pháp thế gian nếu có chỗ sai lầm, chỉ cần dùng một câu biết sai liền bỏ là được thành người tốt đẹp ở thế gian. Nếu kẻ cố ôm cứng chỗ sai lầm cho là phải, không chịu biết sai, dù có Phật sống hiện ở trước, cũng không thể nào cứu được người ấy. Hạ thủ công phu tu thiền không nên tránh chỗ ồn t́m chỗ vắng, lim dim nhắm mắt, ngồi trong hang quỉ cho là kế sanh sống. Người xưa nói : “Ngồi dưới núi tối, ch́m trong nước chết th́ cứu được việc ǵ ?” Chỉ cần ngay trong cảnh duyên thực hành kỳ được, mới là chỗ đắc lực. Một câu thoại đầu để trên trán, đi đứng nằm ngồi, mặc y, ăn cơm, tiếp người đợi khách cần yếu thấu suốt được chỗ tột cùng của một câu thoại đầu. Một sáng, khi rửa mặt rờ được chót mũi, mới biết lâu nay nó rất gần, thế là được tỉnh lực. Thật được thế rồi, mới hoàn toàn không uổng phí công phu. * Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ nhận thức thần làm Phật sự. Hoặc nhướng mày nheo mắt, lắc đầu xoay mặt cho là có ít nhiều kỳ đặc. Nếu bám vào thức thần để làm việc, chắc chắn sẽ rơi vào ngoại đạo không nghi. Quả là chạy trên đường lạc lầm, rất đáng tiếc vậy ! * Hạ thủ công phu tu thiền chỉ tại dụng tâm trên một công án, không nên trên tất cả công án giải hội. Nếu giải được, trọn là giải hội, không phải là ngộ. Kinh Pháp Hoa nói : “Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay đến được”. Kinh Viên Giác nói : “Lấy suy nghĩ làm tâm, xét lường cảnh giới Viên giác của Như Lai, như đem lửa đom đóm đốt núi Tu Di, trọn không thể được”. Ngài Động Sơn nói : “Nghĩ đem tâm ư học huyền tông (Thiền tông), giống hệt đi hướng tây mà mặt hướng đông”. Phàm người đào bới công án, cần phải dưới da có máu, biết hổ thẹn mới được. Hạ thủ công phu tu thiền rất sợ rơi vào Không. Song thoại đầu hiện tiền làm sao Không được ? Đây chỉ sợ rơi vào Không, mà chẳng được Không, huống là được thoại đầu hiện tiền ? ? |