YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
(tt)
II. CHỦ ĐÍCH
THIỀN TÔNG
Khi sang Trung Quốc, Tổ Bồ-đề-đạt-ma dõng
dạc tuyên bố về pháp thiền này rằng: Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt
truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, đã nêu rõ chủ đích của
Thiền tông.
Văn tự kinh điển là Giáo tích chưa phải
Giáo thể. Giáo tích là dấu chân của giáo pháp, Giáo thể là nguyên hình của
giáo pháp. Ví như người tìm voi thấy được dấu chân voi, tuy biết được
hướng đi của nó, song chưa thấy nguyên hình của nó. Nếu người tìm voi chỉ
biết nghiên cứu dấu chân voi rồi hài lòng thỏa mãn nơi đó, thì ngàn đời
cũng không thấy được con voi. Đây là bệnh của học giả thời đại xưa kia và
hiện nay. Thiền tông không nỡ để cho chúng ta sa lầy nơi dấu chân voi, cốt
dắt tay chỉ thẳng cho chúng ta thấy nguyên hình con voi. Do đó mới tuyên
bố "Chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý". Nói "truyền ngoài" thật sự
nào có ngoài. Nếu có pháp truyền ngoài kinh điển, đó là pháp ngoại đạo,
đâu phải Phật giáo. Vì kinh điển là tấm bản đồ vẽ dấu chân và hướng đi của
voi, nương đó người tìm voi tìm tận đến con voi là đạt được mục đích. Nếu
người tìm voi nương bản đồ tìm thấy tận con voi, với người nhờ kẻ khác dắt
tay chỉ thẳng con voi, cả hai đều đạt mục đích như nhau. Vì thế câu "Chẳng
lập văn tự, truyền ngoài giáo lý" mang sẵn tính chất trị bệnh và đầy đủ
tinh thần chỉ bày sự thật. Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thấy đạo qua
mọi phương tiện, đừng mắc kẹt phương tiện mà quên đạo.
Chính vì thế, nên nói "Chỉ thẳng tâm
người, thấy tánh thành Phật". Đạo không phải cái gì xa xôi huyền diệu,
chính là tâm thể của chúng sanh. Nếu người nhận ra tâm chân thật của chính
mình, sự tu hành không sớm thì chầy cũng sẽ thành Phật. Tâm chân thật này
cũng gọi là tánh giác hay Phật tánh. Thấy được tánh giác thì thành Phật
không nghi, vì đã biết Phật nhân nhất định sẽ đến Phật quả. Chỉ cho người
nhận được bản tâm mình là chủ đích của Thiền tông. Thế nên, Mã Tổ sai
Thiền sư Tự Tại hiệu Phục Ngưu mang thơ sang cho quốc sư Huệ Trung. Đến
nơi, Quốc sư hỏi: "Gần đây Mã đại sư dạy đồ chúng thế nào?" Phục Ngưu
thưa: "Tức tâm tức Phật." Quốc sư bảo: "Là ngữ thoại gì?" Giây lâu lại
hỏi: "Ngoài cái đó lại còn gì dạy chúng?" Phục Ngưu thưa: "Phi tâm phi
Phật; bất thị tâm, bất thị Phật, bất thị vật." Quốc sư bảo: "Vẫn còn so
sánh chút ít." Phục Ngưu thưa: "Mã đại sư dạy thế ấy, chẳng biết dạo này
Hòa thượng dạy chúng thế nào?" Quốc sư bảo: "Ba điểm như dòng nước, uốn
cong tợ chiếc liềm." (Tam điểm như lưu thủy, khúc tợ ngãi hòa liêm) Thế
thì Mã Tổ dạy chúng cốt nhận ra tâm mình là Phật, Quốc sư Huệ Trung dạy
chúng cũng tại một chữ tâm. Chỗ dạy của hai Ngài đều nằm gọn trong câu
"Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật".
Những sắc thái giáo ngoại biệt truyền ứng
dụng đầy đủ qua sự đối đáp của các Thiền sư, được đơn cử dưới đây:
Thiền sư Vô Nghiệp đến tham vấn Mã Tổ, Sư
lễ bái quỳ thưa:"Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe thiền môn
‘Tức tâm là Phật’ thật chưa hiểu thấu?" Mã Tổ đáp: "Chỉ cái tâm chưa hiểu
đó là phải, lại không có vật khác." Sư hỏi: "Thế nào là mật truyền tâm ấn
của Tổ sư từ Ấn Độ sang?" Mã Tổ bảo: "Đại đức đang ồn, hãy đi! Khi khác
lại." Sư vừa đi ra, Mã Tổ gọi: "Đại đức!" Sư xoay đầu lại. Mã Tổ bảo: "Là
cái gì?" Sư liền lãnh hội.
Thiền sư Linh Mặc đến tham vấn Thạch Đầu,
tự ước hẹn: "Nếu một câu khế hợp thì ở, chẳng hợp liền đi." Khi thưa hỏi
vẫn không khế hợp, Sư bèn ra đi. Thạch Đầu theo sau đến cửa ngoài, liền
gọi: "Xà lê!" Sư xoay đầu lại. Thạch Đầu bảo: "Từ sanh đến tử chỉ là cái
ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?" Sư liền đại ngộ.
Qui Sơn dạy chúng: "Bậc cao sĩ đi hành
cước cần phải ở trong thanh sắc mà ngủ nghỉ, trong thanh sắc mà nằm ngồi
mới được." Sơ Sơn bước ra hỏi: "Thế nào là câu chẳng rơi trong thanh sắc?"
Qui Sơn dựng cây phất tử lên. Sơ Sơn thưa: "Đây là câu rơi trong thanh
sắc." Qui Sơn trở về phương trượng.
Thiền sư Huệ Tịch đến tham vấn Nham Đầu.
Nham Đầu thấy liền dựng cây phất tử lên. Sư trải tọa cụ. Nham Đầu đưa phất
tử lại sau lưng. Sư vắt tọa cụ lên vai đi ra. Nham Đầu bảo: "Ta chẳng nhận
ông buông, chỉ nhận ông thâu."
Thiền sư Huệ Tịch về thăm thầy là Qui Sơn
Linh Hựu. Qui Sơn hỏi: "Con đã xưng là thiện tri thức, có biện được những
người các nơi đến: biết có hay chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế
thừa thầy, nghĩa học hay huyền học, thử nói xem!" Sư thưa: "Con có kinh
nghiệm, khi thấy tăng các nơi đến, liền dựng cây phất tử dậy, hỏi y ‘Các
nơi có nói cái này hay chẳng nói?’ Lại hỏi ‘Ý Lão túc các nơi thế nào?’".
Qui Sơn khen: "Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước."
Qui Sơn lại hỏi: "Chúng sanh trên quả đất
nghiệp thức mênh mang, không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ co?cùng
chẳng có?" Sư thưa: "Con có chỗ kinh nghiệm". Bỗng có vị tăng đi ngang
qua, Sư gọi: "Xà lê!" Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa: "Bạch Hoà thượng, kẻ
này là nghiệp thức mênh mang, không gốc có thể tựa." Qui Sơn khen: "Đây là
một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa."
Có người đến hỏi đạo, liền dựng cây phất
tử lên, hoặc đưa một vật gì khác lên cũng thế, đều là "Nanh vuốt trong
tông môn từ trước". Đó là hình ảnh "Đức Phật đưa cành hoa sen lên, Tổ
Ca-diếp cười chúm chím" trong hội Linh Sơn. Thuật kêu liền dạ, quả là "Một
giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa". Chính là chỗ Tổ A-nan hỏi Tổ
Ca-diếp: "Ngoài chiếc y kim lan, Thế Tôn còn truyền cái gì cho sư huynh?"
Tổ Ca-diếp gọi: "A-nan!" A-nan: "Dạ!" Tổ Ca-diếp bảo: "Cây phướn trước
chùa ngã." Ngài liền ngộ đạo.
Hai diệu thuật này thường được ứng dụng
nhiều nhất trong Thiền môn. Nó là hình ảnh linh động và cổ truyền nhất,
cũng là hiện thân của "Giáo ngoại biệt truyền". Trong đây không tìm ra
được câu nào có tính cách đạo lý hết. Những người quen sống với nghĩa
giải, không sao chấp nhận được. Song với bậc xuất cách, nhân đây liền ngộ
đạo. Vì thế, người ta nhìn vào Thiền tông dường như có cái gì bí mật lạ
lùng không thể nào hiểu nổi.
* |