KHỔ VUI QUA CON MẮT KẺ MÊ NGƯỜI TỈNH
XUÂN CANH NGỌ 1990
(Buổi nói chuyện với Phật tử)
Hôm nay là
ngày Tết Nguyên Đán năm Canh Ngọ, quí Phật tử về đây lễ Phật và chúc Tết
quí Thầy, chúng tôi đại diện cho tất cả chư Tăng ở Thiền viện Thường Chiếu
có đôi lời nhắc nhở quí Phật tử trong ngày đầu năm để quí vị tiến tu trên
con đường giải thoát.
Ngày Tết Nguyên Đán là ngày quan trọng đầu năm, đi đâu hay làm điều gì
chúng ta đều mong gặp những điều lành, mong được những kết quả tốt đẹp.
Chúng tôi thấy cần phải nói rõ ý nghĩa ngày mồng một Tết đối với tất cả
người tu Phật chúng ta. Ngày Tết là ngày đầu của mùa Xuân, mùa của an vui,
hạnh phúc và tươi đẹp. Song cái hạnh phúc tươi đẹp đó từ đâu mà ra? Từ con
người hay từ ngoại cảnh? Chúng ta cần phải thấy rõ điều này, để ứng dụng
cho cuộc sống hằng ngày được hết khổ và luôn an vui. Vì thế đề tài chúng
tôi nói hôm nay là “Khổ vui qua con mắt kẻ mê người tỉnh”.
Cùng là một việc, người mê thấy là vui, người tỉnh thấy nó ra sao? Cùng là
một việc, người mê thấy là khổ, người tỉnh thấy là khổ hay không? Đó là
những điều mà tất cả chúng ta cần nên biết.
Sống giữa đời này ai cũng sợ khổ, cũng muốn cầu vui. Nghe nói tới khổ, ai
cũng ê chề chán ngán, nghe nói tới vui , ai cũng ưa thích mến mộ. Thế thì
muốn cái khổ đừng bao giờ đến và cái vui luôn luôn sẵn sàng chực đón, thì
chúng ta phải làm thế nào, sống thế nào cho được thích hợp? Đó là điều rất
thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Trước hết tôi nói cái vui của người thế tục. Thí dụ người thế gian lỡ mang
bệnh ghiền thuốc hoặc ghiền rượu, khi đang thiếu nếu có ai đem đến cho
điếu thuốc hay ly rượu, lúc đó họ vui hay khổ? Rất là vui, vui lớn. Đó là
trường hợp ghiền mà không có tiền. Nếu ghiền lại có nhiều tiền thì sao? Rủ
bạn bè vô quán, năm bảy người ăn uống say sưa lúc đó là vui hay khổ? Lúc
vô ngồi quán bạn bè chè chén thật là vui. Nhưng nghĩ kỹ, vui đối với ai mà
khổ đối với ai? Nếu người ghiền rượu chỉ biết uống rượu là hạnh phúc là
thú vị, khi được chè chén thì cho là vui. Trái lại người không ghiền rượu
khi thấy năm bảy người vô ngồi quán nhậu say túy lúy, thì nghĩ đó là khổ.
Vậy cái vui của người ghiền là thí dụ cho cái vui của người mê, còn người
tỉnh thấy đó là khổ. Như vậy ai thấy đúng? Người ghiền vào quán uống rượu
cho vui là đúng. Người không ghiền thấy việc đó là tốn kém, hại sức khoẻ,
lại thêm chuyện rầy rà, nên thấy là khổ. Người mê vui là khi đang mê,
nhưng tỉnh lại sẽ thấy khổ. Tại sao? Thí dụ như khi vào quán, số tiền phải
tốn hao cho bữa tiệc có thể giúp sống năm ba ngày. Nhưng vì ngồi quán xài
hết tiền nên phải đi làm để bù lại. Đó là khổ , vất vả về thân. Còn khổ về
tâm thì thế nào? Nếu người có gia đình vợ con mà rủ bạn bè vào quán, xài
hết tiền vợ nhà cằn nhằn, hoặc ngồi quán đến nỗi say túy lúy, vợ con chán
ngán, thì thật là khổ! Từ cái tưởng lầm là vui, đưa tới cái khổ của nhiều
ngày về sau. Cái vui của người mê thật sự là cái vui trá hình của đau khổ.
Người tỉnh thấy khổ là thấy đúng lẽ thật. Chúng ta là người biết tu, là
người tỉnh, nên nói tu tỉnh, biết tu là phải tỉnh. Những cái khổ mà người
thế gian tưởng là vui, chúng ta nên tránh, như thế mới là thật tỉnh. Nếu
chúng ta lăn vào chỗ mê đó thì chúng ta sẽ thành kẻ mê.
Lại có người lắm của nhiều tiền thích những thoả mãn về xác thân nên hút á
phiện hoặc xì ke ma túy, họ cho đó là vui. Hút sách vừa tốn kém vừa hao
mòn sức khoẻ lâu ngày thành bệnh, sống dở chết dở. Điều họ tưởng là vui
rốt cuộc lại là khổ! Thời nay các thanh niên trẻ rủ nhau đến những chỗ hút
xì ke ma túy. Khi mang bệnh rồi thì thật là khổ! Như năm trước có một
thanh niên tuổi khoảng đôi mươi, gầy ốm chỉ còn da bọc xương ngồi trước
cổng chùa ăn xin. Hỏi ra mới biết vì hút xì ke ma túy nên bị cha mẹ đuổi,
phải đi lang thang xin ăn, sống dở chết dở. Nếu xin được chút ít tiền thì
đi kiếm thuốc chích cho đỡ ghiền, nếu không tiền thì nằm ngoẹo bên lề
đường trông thật là đau khổ. Đó cũng vì mê lầm lấy khổ làm vui.
Người tỉnh sáng biết hút sách là nhân đau khổ ở ngày mai, là nhân bị cha
mẹ từ bỏ, bị mọi người sợ mình đánh cắp đồ đạc nên không chứa chấp. Đó là
gốc của khổ đau, người thế gian không thấy khổ lại tưởng là vui! Còn người
biết tu biết đó là khổ thì tránh ngay buổi ban đầu nên quả khổ không bao
giờ đến.
Ở
thế gian còn một cái vui nữa mà tính chất không lương thiện: Đó là vui
trên cái khổ của con người và con vật. Thí dụ như các đứa bé mười hai mười
ba tuổi thường ra đồng bắt dế, bắt cá thia thia đem về cho đá lộn nhau,
con nào thua thì chạy, con ăn đuổi theo... trẻ nhỏ thích thú vỗ tay vui
cười. Đó là vui trên cái khổ của con vật. Mình lợi dụng sự ngu mê của con
vật để đưa nó đến chỗ đánh đá lẫn nhau, cho đó là vui, trong khi con vật
lại khổ.
Đến người lớn thích chơi đá gà. Họ sắm gà nòi, chuốt cựa cho bén rồi đem
nhử cho nó đá nhau. Khi con gà nào bị đá té ngã máu me đầy mình thì người
xem vỗ tay vui mừng. Đó cũng là vui trong cái ác. Tâm mình tàn nhẫn trông
thấy chúng sanh khổ mà mình cho là vui, cái vui đó thật là thiếu đạo đức .
Thêm cái vui chẳng hiền lành chút nào như đi xem đánh võ đài, tức là người
đánh với người, các tay võ sĩ đánh với nhau. Chúng tôi có quen vài võ sĩ,
tôi hỏi: “Vì sao mình nỡ đánh người đến ngã đo ván, như vậy có lợi ích gì
mà mình tàn nhẫn đến thế?” Người võ sĩ thưa: “Thưa Thầy khán giả độc lắm,
mình đánh nhẹ nhẹ thì họ la ó, họ nói mình cuội. Nếu mình đánh cho ngã thì
họ vỗ tay vui cười.”
Như vậy chúng ta vui thích trong cái khổ của con vật, như con dế con gà đá
nhau, đến cái khổ của con người đánh đập nhau đến té ngã. Thế thì tâm
chúng ta có hiền không? Vui trên sự đau khổ của con người, con vật có phải
là vui thật chăng? Cho nên người Phật tử chúng ta luôn luôn đặt cái vui
của mình trên cái vui của người, làm cho người vui thì mình mới vui, nếu
người khổ thì mình không vui bao giờ. Vui trên cái khổ của người là cái
vui phi đạo đức, cái vui của người mê không phải của người tỉnh.
Lại thêm một cái vui nữa rất là tàn nhẫn. Như mấy chú bé còn nhỏ mười lăm
mười ba tuổi đi đâu hay xách cái giàn thun hay cái ná theo, hoặc văn minh
hơn thì mang những cây súng nhỏ để khi thấy mấy con chim đậu trên cành thì
nhắm bắn, nhiều khi hai con chim, con trống con mái đang đậu rỉa lông cho
nhau, kêu ríu rít rất là dễ thương, mà mình nhắm bắn nó. Khi bắn trúng một
con té nhào xuống thì vỗ tay vui mừng. Thử hỏi khi bắn một con vật ngã
xuống, đó là hành động tốt hay xấu? Làm một việc xấu một việc ác mà vui
hay sao? Chẳng những người bắn vui mà những người đứng chung quanh cũng
vui, cũng vỗ tay khen nữa. Vui trong cái chết chóc, vui khi giết được con
vật, đó là quá ác phải không?
Từ
việc xem thường cái khổ của con vật lần lần đưa đến xem thường cái khổ của
con người. Thí dụ như có người quen giựt đồ móc túi, khi giựt được vật gì
về nhà họ vui lắm, kiếm ăn được, nhưng người mất của thì rất khổ. Đến
người ăn trộm cũng vậy, lén vào nhà lấy trộm được của người, khi về rất là
vui mừng, không nhớ đến cái khổ của người bị mất trộm. Lấy được càng nhiều
của thì càng hỉ hạ vui mừng, còn người mất nhiều của thì khổ đến mức nào?
Đến việc cướp của, có khi đi đến giết người. Cướp của càng nhiều thì càng
mừng rỡ vui cười, trong khi ấy có người mất mạng hoặc tan nhà nát cửa. Vui
trên đau khổ của người khác là quá tàn ác không còn một chút lương tâm.
Thế mà ở thế gian có những người vui như vậy, đó là những người mê. Nếu
người tỉnh thì không nỡ lòng nào lấy cái khổ của người làm cái vui cho
mình. Thế nên người biết tu thì phải tỉnh, tỉnh thì mọi hành động gây tổn
thương đau khổ cho người cho vật, chúng ta phải tránh.
Lại có những người buông lung chạy theo sắc dục, cho đó là vui. Như những
thanh niên đuổi theo năm bảy cô thiếu nữ, nếu được các cô thương thì họ
tưởng là giỏi, là người tài hoa ai cũng mến yêu. Nhưng không ngờ đuổi theo
sắc dục là khổ: Khổ về thân xác bệnh hoạn, khổ về tinh thần, chuyện gia
đình rối rắm mất cả hạnh phúc. Hoặc giả có những người có gia đình mà còn
tình ý lôi thôi, nay đổi chồng, mai đổi vợ. Khi thay đổi họ tưởng là vui,
nhưng không ngờ mỗi lần đổi thay là mỗi lần đau khổ. Có gia đình là có con
cái, nếu người cha hay người mẹ đổi thay thì con cái bơ vơ khổ sở vì
thiếu cha hay thiếu mẹ. Thế nên cái vui ích kỷ của một người làm khổ lây
đến nhiều người. Đó là sự lầm lẫn của thế gian, chuyện không vui tưởng là
vui.
Rồi đến những người có máu cờ bạc, cho việc ngồi vào sòng bạc là vui. Ngồi
sòng đánh đỏ đánh đen, hoặc khi thua thì sạch túi, hoặc khi được thì về
đãi đằng bà con. Họ cho đó là vui, cờ bạc cho là thú vui! Nhưng người
không cờ bạc, biết rõ tai hại của cờ bạc, cho đó là khổ. Người đời thường
nói: Cờ bạc là bác thằng bần. Ai say mê cờ bạc thì phải tán gia bại sản
tan hoang sự nghiệp, đó là nhân của đau khổ. Như vậy cái vui của người thế
gian, kiểm lại có cái vui nào là chân chánh, là thật đâu!
Thế nên người biết tu, biết đạo rồi phải tránh xa tứ đổ tường, đừng dính
vào bốn tấm vách tửu sắc tài khí đó. Ấy là cái vui thật sự, vui vì không
dính vào cái khổ, vui vì không làm phiền khổ ai.
Kế
đến người biết tu vui trong những việc mà người đời tưởng là khổ. Thí dụ
như ăn chay. Người mới tập ăn chay hai ngày hoặc bốn ngày mỗi tháng sẽ
thấy khổ vì nuốt khó trôi lại dễ xót ruột. Nhưng biết ăn chay quen rồi
mình sẽ vui. Vì sao? Vì mình không có giết mạng súc vật để bồi bổ xác thịt
của mình. Ngày mình ăn chay là ngày mình hãnh diện không giết con vật nào,
là ngày mình vui, vì không làm đau khổ chúng sanh. Vì thế cái vui của
người ăn chay là biết tránh cái khổ cho con vật. Nếu chúng ta không thể ăn
chay trường thì ít ra cũng dùng chay hai ngày hoặc bốn ngày mỗi tháng.
Những ngày này bảo đảm mình không có giết con vật nào, mình vẫn sống mà
không làm khổ loài vật, thì đời sống đó mới có giá trị, mới thật tốt lành.
Đừng nghĩ ngày ăn chay là ngày bắt buộc. Ngày ăn chay người ta bán cá rẻ
quá nên mua về bỏ vào hũ rộng lại, để mai mốt sẽ ăn. Nếu tính như vậy là
còn ích kỷ chưa phải thật ăn chay. Ngày ăn chay chúng ta phải thấy là
ngày mình tránh được tội, làm được điều tốt, không sát hại chúng sanh, cho
nên mình vui, cái vui thật sự.
Thêm cái vui nữa là biết tiết dục tức là không ham muốn nhiều. Trong sách
thiền thường dạy người tu được định Sơ thiền gọi là Ly sanh hỉ lạc. Tức là
do lìa ngũ dục nên sanh hỉ lạc. Ngũ dục là tài, sắc, danh, thực, thụy, hay
là sắc thanh hương vị xúc. Khi lìa được năm món dục này thì mình vui.
Thế nên cái vui của người biết tu và cái vui của người thế gian ô nhiễm
khác nhau. Người thế gian đuổi theo cái vui trong cái khổ của chúng sanh,
còn người biết tu vui khi không làm chúng sanh đau khổ, không làm những
điều không cao thượng. Người tu hành vui khi thoát khỏi những điều trần
tục tầm thường, đó gọi là cái vui thoát tục. Có những người trẻ tuổi sống
vui khi xa lìa tứ đổ tường, khi ăn chay, khi sống thoát tục lại bị người
khác phê bình là ngu! Không uống rượu, không cờ bạc bị chê là ngu, còn
uống rượu cờ bạc lại cho là khôn! Nhưng sự thật ai khôn ai ngu? Ghiền rượu
ghiền á phiện xì ke ma túy làm tốn hao tiền của, lại mang bệnh, tự chuốc
khổ chuốc họa vào mình sao gọi là khôn được. Biết tránh những cái khổ
những cái họa, không để phiền lụy cho mình cho người, đó mới thật là khôn.
Trong kinh Phật có dạy:
Sắc thanh hương vị xúc
Tất cả những pháp này,
Khả lạc, hỉ , khả ý,
Khi nào chúng hiện hữu,
Thế giới với chư thiên,
Xem chúng là khả lạc.
Khi chúng bị hoại diệt,
Mới thấy chúng là khổ.
Bậc thánh thấy là lạc,
Khi có thân đoạn diệt,
Đây hoàn toàn trái ngược
Điều mọi người được thấy.
Điều người khác gọi lạc,
Bậc thánh gọi là khổ,
Điều người khác gọi khổ,
Bậc thánh biết là lạc.
Hãy xem pháp khó biết,
Kẻ không thấy, mê mờ.
(Tiểu Bộ Kinh trang 111 tập I)
Phật dạy:
Sắc thanh hương vị xúc, tức là ngũ dục, tất cả những pháp này người đời
cho là vui là vừa ý. Chẳng những người đời mà cả chư Thiên cũng xem ngũ
dục là vui. Khi ngũ dục mất đi mới thấy là khổ.
Còn bậc Thánh thấy vui khi có thân này mà đoạn diệt được những nhiễm trước
theo dục lạc, đoạn diệt được những mầm khiến phải tái sanh. Như vậy cái
vui của Thánh và cái vui của phàm hoàn toàn trái ngược nhau. Cái vui của
phàm thì Thánh gọi là khổ, cái vui của Thánh thì phàm cho là khổ. Thí dụ
như người tu khổ hạnh ăn mặc đơn sơ, ngồi thiền dưới cội cây, những người
thích ăn chơi cho người tu như vậy là ngu, không biết thụ hưởng, chịu khổ
làm gì? Trái lại những vị Thánh thấy người say sưa rượu chè cho là không
khôn chút nào! Thế nên nếu nhìn với con mắt thánh thì những điều thế gian
cho là vui, chúng ta biết nó là khổ. Những điều người thế gian gọi là khổ
như ăn chay, tu hành đơn giản, bậc Thánh lại cho là vui. Như vậy ở đời
phải khéo biết cái nào là vui thật để vui, cái nào là vui trá hình của đau
khổ để tránh. Như thế mới không mê mờ chạy theo cái vui thế tục.
Đến đây chúng tôi nói thẳng cái vui của người tỉnh, tỉnh hoàn toàn. Người
tỉnh vui khi tâm hồn an lành thanh tịnh. Những nơi ồn náo hoặc những cuộc
vui nhộn nhịp làm cho tâm hồn không an ổn, người tỉnh thấy là khổ. Vì thế
người biết tu khi ngồi yên dưới cội cây, nhìn trời mây, cỏ cây hoa lá,
chính lúc đó tâm hồn mình an lành thanh tịnh, đó là vui. Niềm vui này
không làm tổn hại cho ai, không mất tiền của, cũng không mất sức khỏe. Đó
là cái vui thứ nhất.
Đến cái vui thứ hai là khi làm lợi ích cho nhiều người. Người tu càng làm
cho nhiều người được lợi ích, được bớt khổ thì càng vui. Vui trong an vui
hạnh phúc của người thì vui này mới lâu bền.
Đến cái vui thứ ba của người tu là khi chiến thắng được giặc phiền não.
Giặc phiền não là gì? Giả sử có ai đi ngang mình nói cạnh khóe một câu,
tức thời mình nghe nóng lên muốn trả lời một câu cho xứng đáng, nặng như
nhát búa... Nếu ngay đó biết đây là phiền não, là tội, mình dừng lại không
phát ngôn, rồi từ từ nguội xuống. Khi nguội rồi, người biết đạo thấy vui
vì đã thắng được cơn nóng giận của mình. Còn nếu mình nói một câu cho chát
chúa, thế nào người ta cũng trả lại một câu nặng hơn. Qua lại một lúc
thành đấu khẩu rồi đến đấu võ, chỉ làm khổ cho nhau, chớ có lợi ích gì!
Thế nên người tu chỉ vui khi thắng được giặc phiền não. Mình sẽ được an
ổn, không làm mích lòng ai, gặp ai mình cũng vui cười. Thắng được giặc
phiền não là gốc vui chân thật, thua nó là gốc đau khổ. Nhiều người thế
gian thấy rất đáng thương, khi nghe ai nói lời gì trái ý liền trả lại ngay
cho xứng đáng và mạnh hơn mới hài lòng. Ngờ đâu mình làm cho người giận là
gieo nhân không tốt. Tưởng như thắng là được yên, nhưng mình đã gieo hờn
vào lòng người thì họa ắt sẽ đến.
Cái vui thứ tư của người tu, cao siêu hơn, là cái vui bỏ bóng nhận đầu.
Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy ngài A-nan: Có một người tên
Diễn-nhã-đạt-đa, một sáng nọ cầm gương soi mặt, nhìn thấy mặt mũi trong
gương rõ ràng. Kế anh úp gương lại, mặt mũi nhìn thấy khi nãy mất tiêu,
anh hoảng hốt nói: Tôi mất đầu rồi, tôi mất đầu rồi. Anh phát điên bỏ chạy
khắp xóm làng. Đó là cái điên của người nhận bóng quên đầu. Sự thật đầu có
mất bao giờ! Chỉ mất bóng thôi mà tưởng là mất đầu nên anh hoảng hốt điên
cuồng. Vì thế người biết tu là biết bỏ bóng nhớ đầu. Đầu mặt trong gương
là bóng, mất nó mình rờ lại thấy đầu mặt vẫn còn nguyên. Bỏ bóng nhớ đầu
mới là niềm vui chân thật của người biết trở về cái thật không đuổi theo
bóng.
Kế đến là cái vui của người cùng tử lang thang nghèo khổ gặp lại cha. Đây
là câu chuyện trong kinh Pháp Hoa: Có anh chàng khi còn bé đã bỏ cha ra
đi. Anh lang thang nghèo khổ, ăn xin đầu đường xóù chợ từ xứ này qua xứ
khác. Một hôm anh thức tỉnh nhớ lại cha tìm về quê hương. Cha anh lúc bấy
giờ là một trưởng giả giàu có. Anh gặp được cha, cha nhận anh là con rồi
trao sự nghiệp lại cho anh. Đó là vui tuyệt! Qua câu chuyện “Người cùng tử
gặp cha”, người tu chúng ta hiểu như thế nào? Từ xưa đến giờ chúng ta sẵn
có ông Phật ở trong nhà mà chúng ta quên nên cứ chạy theo cái bóng, tức là
những vọng tưởng của mình, rồi tạo nghiệp. Nghiệp dẫn chúng ta đi trong
luân hồi sanh tử từ đời này đến kiếp khác, lang thang khổ đau không cùng
không tận. Nay thức tỉnh chúng ta biết đó là bóng đã dẫn mình đi trong đau
khổ, chúng ta phải trở về ông Phật của mình. Trở về gặp Phật của mình gọi
là cùng tử gặp cha. Lúc ấy mình giàu có sung sướng, đó gọi là cái vui của
cùng tử gặp cha.
Cái vui kế là: cái vui của kẻ lạc loài trở về cố hương. Có một số người
đang ở quê hương rất an lành, nhưng bất thần nghe theo sự xúi giục của ai
đó (ma vương) họ ra đi lang thang từ xứ này qua xứ khác nhiều tháng nhiều
năm. Không có công ăn việc làm, họ phải chịu đói rét khổ sở. Một ngày kia
chợt thức tỉnh họ muốn trở vềø cố hương, lại rủ nhau cùng về. Về đến cố
hương tất cả đều gặp lại thân bằng quyến thuộc, sống ở quê hương rất an
lành, sung túc, các khổ đau lạc loài, thiếu thốn lang thang không còn nữa.
Đó là cái vui của người trở về cố hương. Nơi quê hương đã sẵn mọi tiện
nghi tốt đẹp, đó là quê hương pháp thân, quê hương này không bao giờ có
khổ đau, không bao giờ có sanh tử. Vì quên quê hương nên chúng ta bị vô
minh phiền não xúi giục, dẫn đi lang thang trong vòng sanh tử. Giờ đây
thức tỉnh trở về quê hương, bỏ đi nếp sống lang thang. Ngược dòng trở về
với Pháp thân, tức là trở về cố hương, trở về quê hương muôn đời thì hết
những khổ đau vất vả của nhiều năm tháng trước. Đó mới chính là cái vui
chân thật.
Như vậy chúng ta tu là được vui hay bị khổ? Tu là vui. Vì thế chúng ta
phải nôn nả gắng sức trở về chỗ vui đó, chẳng lẽ chúng ta sống mãi trong
buồn khổ sao? Dù cho được phước đức sống trong gia đình đầy đủ ngũ dục tài
sắc danh lợi, nhưng cũng không thoát khỏi bệnh hoạn già chết. Dù chúng ta
có hưởng cái vui của sự giàu sang sung túc đến đâu, dài lắm cũng chỉ mấy
mươi năm thôi, rồi ngày qua ngày cũng vô thường bại hoại. Chỉ khi nào
chúng ta thoát khỏi khổ sanh tử, đó mới là cái vui chân thật lâu dài.
Để
kết luận chúng ta thấy người thế gian không sáng suốt nên lấy cái khổ của
người làm niềm vui cho mình. Là người sáng suốt, chúng ta không bao giờ
chấp nhận cái vui trên đau khổ của người khác. Người thế gian không biết
nên lấy cái vui tạm bợ cho là chân thật. Nhưng khi biết rồi thì cái vui
tạm bợ không đáng để chúng ta mê say, mà chúng ta phải trở về tìm cái vui
chân thật. Và cái vui này chỉ có nơi người biết tỉnh giác.
Thế nên chúng ta phát tâm tu là phát nguyện trở về nguồn an vui trong đời
này và nhiều đời sau nữa. Muốn được như vậy chúng ta phải cố gắng tu,
nghĩa là luôn tìm cái vui trong thanh tịnh, trong sự tỉnh giác, không đeo
đuổi giành giật cái vui thế tục. Đạo Phật đã đưa chúng ta đến chỗ an vui,
nên chúng ta nguyện tiến tu suốt đời, càng lớn tuổi càng phải tiến nhanh
hơn, vì khổ sanh tử đã tới gần kề rồi. Nếu không tìm được cái vui chân
thật thì khi vô thường đến làm sao chúng ta trở tay cho kịp!
Đạo Phật là đạo diệt khổ và đem lại sự an vui cho tất cả mọi người, là chỗ
nương tựa để chúng ta trở về cố hương, gặp lại ông cha của mình, tức là
trở về với cái thật, cái vui thường hằng vĩnh cửu.
Vậy bước sang năm mới chúng tôi chúc tất cả quí Phật tử một năm đầy an vui
của người tỉnh giác.
] |