|
VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN
XUÂN TÂN MÙI (1991)
(Tăng Ni)
Hôm nay nhân ngày Tết Nguyên Đán năm Tân Mùi
(1991), Tăng Ni và Phật tử về đây chúc mừng năm mới và yêu cầu chúng tôi
có những lời nhắc nhở đầu năm, để tất cả quí vị nhớ cố gắng tu tiến trên
đường giác ngộ, nên tôi sẽ có ít lời với quí vị. Hôm nay chúng tôi nói đề
tài lạ một chút, nghe dường như phàm tục nhưng thật không phải trần tục,
đó là “VẺ ĐẸP
TUYỆT TRẦN”.
Mở đầu tôi dẫn lời cổ đức
đã nói:
Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu ám hoa minh biệt
nhất thôn.
Nghe hai câu trên quí vị
cảm thấy thế nào? Tôi tạm dịch :
Núi cùng sông hết nghi không lối,
Liễu biếc hoa tươi riêng một thôn.
Người xưa từ đức Phật đến chư Tổ, đều nhìn thấy cuộc sống của
con người trên trần gian này, hay nói gọn là kiếp người, ai ai cũng như
nhau. Có mặt trên đời rồi chờ ngày chết, trăm người như một không có lối
nào khác; dù sang trọng quyền quí hay nghèo hèn cực khổ, cũng chỉ lăn lộn
trong cuộc đời mấy mươi năm rồi cùng đi theo con đường chung là trở về cõi
tử, vì thế nói:
“Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ”, nghĩa là khi đi trên đường núi
đến chỗ cùng rồi, nguồn sông đến chỗ nghẽn rồi, người ta nghi ngờ là hết
lối đi, tất cả người đều thấy như vậy và đều phải chấp nhận như vậy. Nhưng
nếu ai có phúc duyên, biết tu, biết tìm một lối thoát thì sẽ đến:
“Liễu ám hoa minh biệt nhất thôn”, tức là liễu biếc hoa tươi
riêng một thôn. Khi đến chỗ cùng đó không phải là hết, nếu người biết tẽ
một lối khác thì sẽ thấy ở bên kia còn một thôn đầy liễu biếc hoa tươi đẹp
đẽ, thôn đó không giống con đường cùng, con đường tuyệt vọng của người
đời, mà là một lối tẽ đặc biệt tràn đầy những cái tươi đẹp sáng sủa không
ai ngờ, không ai biết.
Như vậy người đời ai cũng nghĩ mình sanh ra, lớn lên có gia
đình, con cái, lo cho con cái lớn khôn rồi sửa soạn chết. Trăm người như
một đều đến chỗ không còn lối thoát, nhưng rồi quen đi nên ai cũng thấy
lẽ đương nhiên là như vậy, phải chấp nhận chớ không có cách nào khác.
Nhưng phúc duyên thay những người con Phật! Đức Phật đã vạch cho chúng ta
một lối thoát, lối thoát đó Ngài đã đi qua nên Ngài chỉ cho chúng ta cùng
tiến. Vì thế ngày nay, người xuất gia hoặc tại gia được duyên lành theo
Phật, khi đến chỗ sơn cùng thủy tận lại có một lối tẽ khác đẹp đẽ vô cùng.
Lối tẽ đó là VẺ ĐẸP TUYỆT TRẦN, không còn dính một mảy bụi chớ không phải
tuyệt trần theo nghĩa thế gian thường hiểu.
Như thế quí vị mới thấy người đời thật đáng thương! Khi sanh
ra người ta cứ nghĩ lo cho hết bổn phận rồi chết, chấp nhận con đường cùng
ấy. Đáng thương hơn nữa là khi sắp chết cũng không biết số phận mình sẽ ra
sao, chết rồi đi đâu? Đường trước mờ mờ mịt mịt, vì thế Tổ Qui Sơn có câu:
‘‘Tiền lộ mang mang vị tri hà vãng”, tức là đường trước mờ mờ không biết
về đâu! Như thế niềm đau khổ thứ nhất là đi đến chỗ cùng, chỗ chết mà
không biết làm sao thoát. Niềm đau khổ thứ hai là khi chết thân phận mình
sẽ ra sao, mờ mịt không biết đâu mà lường trước. Vì không biết nên khi
sống mải lo cho cái sống, đến lúc ngã ra chết đành phó thác cho số phận,
số phận đó là sẽ đi theo nghiệp. Vì không biết nên nghe đến cái chết người
ta kinh hoàng sợ hãi. Nếu chúng ta biết đạo rồi thì đường trước có mờ mờ
hay không? Dĩ nhiên là không. Tại sao? Nếu chưa ra khỏi sanh tử, chúng ta
đã biết chọn một lối đi trên con đường lành, nên khi mất thân này chúng ta
tiến trên con đường lành, cõi người cõi trời. Như vậy đối với người tu, dù
chưa tiến đến chỗ giải thoát trọn vẹn, ít ra cũng đã chọn được con đường
đi, nên khi sắp nhắm mắt chúng ta yên lòng, biết rằng con đường trước sáng
sủa hơn hiện tại, sẽ đẹp đẽ vô cùng.
Tóm lại tất cả chúng ta là người biết đạo, biết tu, thì trên
đường đời chúng ta không phải là người tuyệt cùng bặt lối, trái lại chúng
ta có một lối rẽ, một lối thoát rất đẹp đẽ mà đức Phật đã chỉ dạy cho
chúng ta. Lối thoát đẹp đẽ đó đưa chúng ta đến chỗ an lành muôn thuở, chớ
không phải chỉ là cái đẹp đẽ trong một thời gian ngắn ngủi tạm bợ rồi tan
hoại. Thế nên cái đẹp mà tôi kể ở đây là “vẻ đẹp tuyệt trần”, chữ tuyệt
trần theo nghĩa thông thường là đẹp hơn tất cả, nhưng ở đây chúng tôi dùng
chữ tuyệt trần là dứt sạch không còn một mảy trần. Lòng trần đã sạch thì
cái đẹp đó mới là tuyệt trần. Nói như thế để tất cả quí vị ý thức rằng
chúng ta được duyên lành đi trên đường tu giải thoát là chúng ta đã có một
lối đi đẹp đẽ, sáng sủa, vui tươi tràn đầy hạnh phúc ở ngày mai chớ không
phải chúng ta đi trên đường cùng, đi trong lối nghẽn và cũng để mừng rằng
đời chúng ta không phải đen tối, không phải mù mịt như bao nhiêu chúng
sanh khác.
Tiếp đến tôi dẫn những bài quí vị đã học để quí vị nhớ lại kỹ
con đường mình đi qua. Đầu tiên là tôi dẫn một ít bài trong mười mục chăn
trâu để tất cả quí vị thấy con đường chúng ta đi qua đẹp như thế nào. Đa
số người thế gian cho người tu chúng ta là kẻ bất hạnh vì không được quyền
hưởng những niềm vui thế gian, chúng ta xây mặt với hạnh phúc trần gian.
Nhưng họ không ngờ chính vì đa mang hạnh phúc trần gian nên kết cuộc tất
cả người đời đều phải châu mày than thở. Thoạt nhìn dáng bên ngoài ai cũng
có vẻ tươi tắn, tỏ ra vui cười, nhưng nếu đi sâu vào từng cá nhân, từng
gia đình, chúng ta thấy thế gian khóc nhiều hơn cười. Cuộc đời có gì vui
đâu, nhưng lỡ rồi phải cắn răng mà chịu, chớ không biết làm sao hơn! Thấy
chúng ta là người không đua đòi, không đuổi theo dục lạc thế gian, họ
tưởng chúng ta là kẻ thiệt thòi nhưng không ngờ chúng ta lại có một lối đi
đẹp đẽ lâu dài. Tuy nhiên không phải bước vào lối đó là mọi việc đều như
ý. Quí vị nhớ mục số một trong mười mục chăn trâu, thằng chăn có được
thảnh thơi không? Trâu hoang cắm đầu chạy, trâu mạnh mười, sức thằng chăn
chỉ có một, trâu lại đương hoang, muốn chinh phục, muốn kềm giữ nó là cả
một công trình. Nếu thằng chăn dùng trí khôn ngoan, dùng mọi phương tiện
nào dây dàm cột mũi, nào roi đánh thì sẽ điều phục được nó. Trái lại nếu
thằng chăn quá dốt, quá khờ cứ chạy đuổi theo con trâu mà trong tay không
dây, không roi thì chắc không thể điều phục nổi nó. Thế nên trong giai
đoạn đầu người chăn trâu là người cực khổ. Khác hơn ở thế gian, do thả tâm
đuổi theo dục lạc nên được một chút dục lạc nào người ta cho đó là hưởng
hạnh phúc. Còn chúng ta là người xoay lại chăm chăm lo chăn con trâu của
mình nên không đoái nhìn, không tìm hưởng dục lạc thế gian, vì vậy mà hai
quan niệm khác nhau. Chăn trâu trong giai đoạn đầu là khó khăn, là nhọc
nhằn khổ sở nhưng khi chăn được, tức là giai đoạn xỏ được mũi rồi lôi cổ
nó theo mình, thì từ đó về sau từ từ sẽ nhẹ nhàng. Đến đây tôi dẫn bài kệ
chăn trâu số sáu tức là mới quá bán phần trên đường tu mà đã được sung
sướng như thế này, quí vị nghe thì thấy rõ ràng là tràn trề hạnh phúc.
Kỵ ngưu dĩ lệ dục hoàn gia,
Khương địch thanh thanh tống vãn hà,
Nhất phách nhất ca vô hạn ý,
Tri âm hà tất cổ thần nha.
Khi chúng ta điều phục được trâu, rồi ngồi trên lưng trâu
thuần thục cỡi về nhà vào buổi chiều thì còn gì sung sướng hơn! Gió mát
trời trong, ngồi trên lưng trâu cầm ống sáo vừa thổi vừa ca thật là vui vô
hạn, “Nhất phách nhất ca vô hạn ý”, niềm vui không thể kể hết! “Tri âm hà
tất cổ thần nha”, những người tri âm của mình đâu cần phải mở miệng nói.
Bài này tôi tạm dịch:
Cỡi trâu thong thả trở về nhà,
Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà,
Một nhịp một ca vô hạn ý,
Tri âm đâu phải động môi à.
Như vậy quí vị thấy chỉ mới quá bán phần trên đường tu mà đã
vui vẻ như thế, huống nữa là mãn đường tu thì vui đến mức nào. Có phải là
chúng ta sống một đời tràn trề hạnh phúc hay không? Thế nên nếu chúng ta
chịu khó nỗ lực chăn được con trâu của mình thì mai kia trên đường tu,
trên đường về quê hương, chúng ta là kẻ thảnh thơi nhất, an nhàn nhất,
nhìn thấy toàn là hoa tươi cỏ đẹp chớ không còn những nỗi buồn bã khổ đau
của kiếp người. Đấy là “biệt nhất thôn” tức là một làng riêng, làng chúng
ta trở về đó. Trên đây là nói về bức tranh chăn trâu thứ sáu của Thiền
tông.
Bức tranh chăn trâu thứ sáu của Đại thừa có khác một chút:
Lộ địa an nhiên ý tự như,
Bất lao tiên sách vĩnh vô câu.
Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ,
Nhất khúc thăng bình
lạc hữu dư.
“Lộ địa an nhiên ý tự như” tức là con trâu nằm dưới đất trống
yên ổn nghỉ ngơi.
“Bất lao tiên sách vĩnh vô câu” là không nhọc nhằn cầm roi và
dây mũi.
“Sơn đồng ổn tọa thanh tùng hạ”, thằng chăn ngồi dưới cội tùng
thong thả.
“Nhất khúc thăng bình lạc hữu dư”, hát một bản nhạc thăng
bình, vui không còn gì hơn. Quí vị thấy niềm vui đến đây thật không thể
diễn tả hết được. Bài kệ này chúng tôi tạm dịch:
Đất trống ngủ yên ý tự an,
Chẳng cần roi mũi, mãi thanh nhàn.
Tùng xanh dưới cội mục đồng nghỉ,
Một bản thăng bình rất hân hoan.
Vừa rồi là hình ảnh một chú mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi
sáo, đến đây là hình ảnh một chú mục đồng ngồi dưới cội tùng hát bản nhạc
thăng bình, tức là đến thời thái bình thịnh trị, mọi người đều vui ca
thong thả, không còn bận rộn lo âu gì cả.
Như vậy kiểm lại trên đường tu,
nếu tất cả chúng ta nỗ lực chịu cực chịu khổ qua nửa phần đường, trong nửa
phần đường đó:
- Giai đoạn
thứ nhất là vất vả trăm phần,
- Giai đoạn
thứ hai sự vất vả còn khoảng tám mươi phần,
- Giai đoạn
thứ ba sự vất vả còn khoảng sáu mươi phần,
- Đến giai
đoạn thứ tư còn khoảng bốn mươi phần,
- Đến giai
đoạn thứ năm xem như hết vất vả rồi,
- Giai đoạn
thứ sáu là bắt đầu thảnh thơi tự tại trên con đường trở về quê hương.
Đó là những hình ảnh tôi cho là đẹp tuyệt trần, chính khi
chúng ta chiến thắng được bản thân mình, chiến thắng được vọng tưởng (cụ
thể hoá bằng con trâu đã thuần thục, đã nghe lời và chú mục đồng ngồi trên
lưng trâu trở về), lúc đó mọi sự thảnh thơi sẽ đến với chúng ta, niềm an
lạc vô biên vô tận sẽ đến với chúng ta.
Vậy con đường tu là con đường tăm tối hay là con đường tươi
sáng?
- Con đường
của chúng ta đi là con đường tươi sáng vô cùng, thế mà có nhiều người đi
vừa hơi mỏi chân là đã muốn trở về, thật là đáng tiếc vì chọn con đường tu
tức là đã tìm được một lối đi đẹp đẽ vui tươi an nhàn tự tại.
Tuy nhiên không có sự an vui hạnh phúc nào mà chúng ta không
phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt. Như nhiều khi ngồi thiền phải muốn
khóc vì đau chân, hoặc ở trong chùa nhiều khi bị rầy nên khóc lên khóc
xuống. Song nếu chúng ta nỗ lực cố gắng thì ngày mai chúng ta sẽ được
hưởng cảnh thanh nhàn an vui, nếu không muốn trả cái giá đó mà đòi hưởng
cảnh an nhàn tự tại thì chắc là không có. Ở trong đạo cũng như ở thế gian,
muốn được quả vui trước hết chúng ta phải có công phu khó nhọc. Thí dụ như
muốn hưởng những quả mít ngon thì hiện tại chúng ta phải đem hạt mít ương
trồng, phải bón phân, tưới nước, nhổ cỏ từ ba năm đến năm năm mới thu được
kết quả, chớ không bao giờ muốn ăn mít ngon liền có mít ngon, trừ khi có
tiền trong túi. Nhưng muốn có tiền cũng phải lao động đổ mồ hôi mới có
được. Vậy muốn hưởng quả tốt trước hết phải chịu cực chịu khó, quả tốt mới
đến được. Có nhiều người mơ tưởng rằng chùa, Thiền viện là cảnh cực lạc,
cảnh thiên đường tại thế, vào đó ngày nào cũng vui, giờ nào cũng an. Hiểu
như vậy e là lầm, vì vào đó rồi còn phải dùng bao nhiêu công phu mới qua
được những khó khăn để đến chỗ an lạc, chớ không phải vào chùa rồi mọi
việc đều như ý.
Tôi nhắc lại để quí vị hiểu con đường chúng ta chọn, chúng ta
đi là con đường rất đẹp, rất tươi vui, xán lạn ở ngày mai, nhưng muốn đi
đến lối rẽ an lạc đó, tìm được thôn riêng đó, chúng ta phải đi tột cùng
con đường dài mới bước sang được lối tẽ này. Tôi chỉ mới dẫn hai bài thơ
nói đến mục thứ sáu của mười bức tranh chăn trâu mà quí vị đã thấy đẹp đẽ
như vậy. Đến đây tôi dẫn những bài quí vị vừa học trong Tuyết Đậu Tụng Cổ,
tức là ngài Tuyết Đậu tụng các công án.
Đầu tiên là công án Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đăng đường
nói với chúng rằng: Ngài nắm hòn núi Tu-di lại, nó nhỏ bằng hạt gạo, hạt
lúa. Ngài Tuyết Đậu tụng cho chúng ta nghe như thế này:
Ngưu đầu một, mã đầu hồi,
Tào Khê cảnh lý tuyệt trần ai.
Đả cổ khán lai quân bất kiến,
Bách hoa xuân
chí vị thùy khai?
Tạm dịch:
Đầu trâu mất, đầu ngựa về,
Trong vắt Tào Khê kính chẳng nhơ.
Đánh trống đến xem anh khó thấy,
Trăm hoa xuân
đến nở vì ai?
Bài này có cái đẹp nào mà tôi đem vào đây? Ngài Tuyết Phong
Nghĩa Tồn nói: Ngài nắm núi Tu-di lại nhỏ bằng hạt lúa, hạt gạo. Núi Tu-di
lớn bao nhiêu? Hạt gạo lớn bao nhiêu? Nắm hòn núi to lại bằng hạt lúa hạt
gạo là để nói lên điều gì? Tức là dưới con mắt của Thiền sư, tất cả những
tướng đối đãi lớn như núi Tu-di, nhỏ như hạt gạo... không còn nữa. Như vậy
cái nhìn của Thiền sư đã thoát khỏi mọi tướng đối đãi của trần gian. Khi
thoát khỏi mọi đối đãi của trần gian, tâm chúng ta sẽ như thế nào? Sẽ
không còn dính một chút bụi trần. Sở dĩ chúng ta còn dính bụi trần là vì
còn ở trong đối đãi hơn thua, phải quấy, được mất, nên phiền não theo đó
dấy khởi , tâm chúng ta trở thành nhiễm ô, vì thế gọi là trần ai. Ngài
Tuyết Đậu thấy được công án này nên Ngài mới hạ câu đầu:
‘‘Ngưu đầu một, mã đầu hồi” tức là đầu trâu mất, đầu ngựa về,
nghĩa là một câu vô nghĩa vô lý, không ai biết là gì, để nói lên khi con
người đã thoát khỏi đối đãi thì không có ý niệm, không có tình duyên theo
cảnh. Thế nên nói “đầu trâu mất đầu ngựa về”, nói một cách không có lý thú
để diễn tả tâm không còn dính mắc với cảnh.
Đến câu thứ hai: “Tào Khê cảnh lý tuyệt trần ai” là trong
gương Tào Khê không dính một mảy bụi. Nghe nói gương Tào Khê ai cũng tưởng
là gương của Lục Tổ, nhưng nếu tất cả chúng ta đi theo con đường của Lục
Tổ thì chúng ta đều có cái gương riêng, gương đó cũng được gọi là gương
Tào Khê. Như vậy tất cả chúng ta khi tâm dứt đối đãi thì không còn dính
một mảy bụi ở trong lòng. Hiện nay nếu quí vị buông hết những được mất hơn
thua v.v... thì lòng quí vị có phiền não không? - Đâu còn tí nào phiền não
và phiền não hết thì tâm mình trong sáng như gương không dính một mảy bụi.
Khi ấy:
“Đả cổ khán lai quân bất kiến”: đánh trống mời thiên hạ đến
xem, nhìn trong gương cũng không ai thấy được một mảy bụi, cũng không ai
thấy được cái gương như thế nào.
Câu kết thúc thật là đẹp đẽ: “Bách hoa xuân chí vị thùy khai?”
Nghĩa là đến mùa Xuân, trên núi, trong rừng, bên cạnh suối... trăm hoa đua
nhau nở là vì ai ? Vì quí thầy hay vì quí Phật tử? - Không vì ai cả. Nghĩa
là Xuân đến thì hoa nở chớ không phải vì người này xem hoa, người kia yêu
hoa mà nó nở cho họ xem.
Như vậy khi tâm chúng ta không còn dính một mảy bụi thì muôn
vật đều đẹp đẽ trước mắt chúng ta, khi duyên đến tức là thời tiết đến, mùa
Xuân đến thì hoa tự nở chớ không phải vì ai, không phải đợi chúng ta chăm
sóc vun bón... Đây là một công án diễn tả tâm chúng ta khi tự tại không
còn kẹt ở hai bên thì kết quả sẽ tốt đẹp như thế.
Đến công án thứ hai là công án của ngài Vân Môn. Một hôm ngài
Vân Môn bảo: Ngày mười lăm về trước thì không hỏi ông, ngày mười lăm về
sau hãy nói một câu xem? Không ai đáp được, Ngài tự nói: Mỗi ngày đều là
ngày tốt. Công án này hay ở điểm nào? Tất cả chúng ta đang sống trong hiện
tại nhưng tâm chúng ta nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, năm xưa, năm cũ, tức
là sống ở hiện tại mà tâm lùi về quá khứ. Nhiều khi sống ở hiện tại mà tâm
hướng về vị lai như ngày nay là ngày mồng một Tết mà chúng ta nghĩ tháng
hai, tháng ba chúng ta sẽ phát tài hoặc tháng tư, tháng năm chúng ta đi
ngoại quốc... Giờ phút hiện tại không sống thì sống cũng như chết, chết
nhưng còn ăn, còn nói, còn đi. Ăn, nói, đi, mà chết vì chính hiện tại mới
là sống, nhưng trong ba thời quá khứ hiện tại vị lai tâm chúng ta cứ lui
về quá khứ hoặc hướng tới vị lai, mơ ước tưởng tượng mà quên mất giây phút
hiện tại. Thế nên Ngài mới nói không hỏi ngày mười lăm về trước mà ngay
ngày mười lăm về sau hãy nói cho một câu, không ai nói được thì Ngài nói
‘‘mỗi ngày đều là ngày tốt”. Như thế không cần mở lịch, vì ngày nào cũng
là ngày tốt. Tại sao? Đây ngài Tuyết Đậu tụng:
Khứ khước nhất, niêm đắc thất,
Thượng hạ tứ duy vô đẳng thất.
Từ hành đạp đoạn lưu thủy thanh,
Túng quan tả xuất phi cầm tích.
Thảo nhung nhung, yên mịch mịch,
Không Sanh nham bạn hoa lan tịch,
Đàn chỉ kham bi Thuấn Nhã Đa.
Tạm dịch:
Bỏ đi một, nắm được bảy,
Trên dưới bốn bên không đồng bậc.
Thong dong đạp bặt tiếng suối reo,
Phỏng xem vẽ được chim bay dấu.
Cỏ xanh rì, khói trắng bạc,
Không Sanh bên núi hoa rơi loạn,
Khảy tay làm thảm Thần Hư Không.
Qua bài kệ này chúng ta thấy tài của ngài Tuyết Đậu diễn tả
khi tâm chúng ta không còn kẹt quá khứ, vị lai, đó là dùng mấy chữ “bỏ đi
một, nắm được bảy” nghĩa là không còn kẹt vào quá khứ, vị lai nữa, chỉ
ngay hiện tại thôi.
“Trên dưới bốn phương không đồng bậc” nghĩa là bốn hướng và
trên dưới không có cái gì gọi là giống nhau. Như vậy nếu tâm chúng ta đối
với thời gian không còn có niệm sai biệt hướng về quá khứ vị lai mà sống
ngay hiện tại thì thế nào? Tâm đã bình đẳng nghĩa là ngay trong phút giây
này hiện tại thì thế nào? Tâm đã bình đẳng nghĩa là ngay trong phút giây
này
“Thong dong đạp bặt tiếng suối reo.” Dầu cho tiếng suối reo bên
cạnh, chúng ta đi rất thong thả bên bờ suối, cũng đạp được tiếng suối im
bặt. Sao hay đến thế? Tiếng suối có hình dáng gì mà đạp được bặt tiếng? Đó
là để nói rằng khi tâm chúng ta không còn niệm hướng về quá khứ vị lai,
chỉ sống với hiện tại thôi, lúc đó sẽ có diệu dụng, dường như chúng ta đi
từ từ thong thả mà cũng làm cho tiếng suối reo im bặt.
“Phỏng xem vẽ được chim bay dấu”, nghĩa là thấy chim bay trong
hư không, giả sử muốn vẽ dấu của nó, cũng vẽ được. Như vậy hai câu này
diễn tả khi chúng ta dứt được tâm quá khứ vị lai rồi thì ngay trong phút
hiện tại này chúng ta sẽ được diệu dụng, nó vi tế vô cùng, những bước đi
thong dong làm cho suối phải im tiếng, chim bay trong hư không dường như
mắt cũng thấy được dấu chân của nó. Đây lại đẹp thêm:
“Cỏ xanh rì, khói trắng bạc.” Khi ấy chúng ta thấy đây là cỏ
mùa Xuân xanh rì như nhung, kia là đám mây khói trắng như bạc, không còn
gì xấu xa đen tối nữa. Tiếp đến Ngài dẫn:
“Không Sanh bên núi hoa rơi loạn”, tức là ngài Tu-bồ-đề ngồi
bên sườn núi im lặng mà Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường. Tâm chúng ta
đến chỗ nhất như thì dường như không nói không làm mà tất cả chung quanh
đều cảm thông, đều thấy được.
“Khảy tay làm thảm Thần Hư Không”: chỉ khảy ngón tay, Thần Hư
Không cũng hiện ra buồn thảm. Khi chúng ta tu hành đến giai đoạn tâm được
an nhiên tự tại thì mọi diệu dụng tràn đầy trước mắt và chúng ta nhìn thấy
tất cả đều hay, đẹp và nên thơ. Tôi dẫn những kệ tụng trên để quí vị thấy
tương lai đẹp đẽ của con đường chúng ta đang đi.
Sang đến Thiền sư Việt Nam của chúng ta có nhìn giống như thế
không? Đây là vị Thiền sư mà tôi thường hay nhắc nhất, đó là Thiền sư Chân
Không. Có vị Tăng hỏi: Khi sắc thân bại hoại thì thế nào? Tức là người ta
đến lúc chết thì thế nào? Ngài liền đáp:
Xuân khứ Xuân lai nghi Xuân tận,
Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
Tôi tạm dịch:
Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết,
Hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân.
Thật đẹp làm sao! Người ta thắc mắc băn khoăn hỏi sắc thân của
chúng ta, đến giờ phút bại hoại thì thế nào? Người thế gian đến giờ phút
đó là khóc, là khổ đau, nhưng với Ngài thì Ngài bảo: Xuân đến Xuân đi ngỡ
Xuân hết, hoa nở hoa tàn vẫn là Xuân. Mùa Xuân có đến có đi, như hôm nay
bắt đầu mùa Xuân tức là Xuân đến, ba tháng sau gọi là Xuân đi, đến rồi đi,
tưởng như Xuân hết. Còn hoa nở trong mùa Xuân, như hôm nay các cành mai
đang nở, mai mốt nó sẽ tàn, nở trong mùa Xuân, tàn cũng trong mùa Xuân,
như vậy sống chết vẫn ở trong cái tươi đẹp chớ không bao giờ mất. Thế là
sống đẹp mà chết cũng tươi, không phải sống là vui chết là khổ. Tại sao?
Vì đối với người thấy đạo sống và chết chỉ là sự sanh diệt của hòn bọt
trong biển, hợp hoặc tan cũng đều nằm trong biển, có thoát đi đâu, khi hợp
lại không làm cho biển tăng lên, khi tan ra cũng không làm cho biển giảm
xuống, hợp hay tan cũng thế thôi. Thế nên Thiền sư khi thấy con người lúc
sắp lâm chung bồi hồi lo sợ không biết thân phận sẽ ra sao thì Ngài nói
rõ rằng: Mùa Xuân đến, mùa Xuân đi người ta tưởng là mùa Xuân hết, nhưng
hoa khi nở khi tàn, dù có hai thời, vẫn là trong một mùa Xuân. Vậy mùa
Xuân ở đây là mùa Xuân mãi mãi chớ không phải mùa Xuân chỉ có trong thời
tiết ba tháng. Như vậy để thấy rằng sự có mặt và vắng mặt của chúng ta
trên trần gian này chỉ là tạm thời chớ trong cái tươi sáng vĩnh viễn,
chúng ta lúc nào cũng hiện hữu, không bao giờ thiếu vắng. Đó là điều Thiền
sư đã thấy như vậy.
Đến một vị Thiền sư khác vào đời Lý, Thiền sư Viên Chiếu. Có
một vị Tăng hỏi Ngài: Thế nào là
nghĩa Kiến tánh thành Phật? Ngài trả lời:
Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,
Phong xuy thiên lý phức thần hương.
Tôi tạm dịch:
Cây héo Xuân về hoa nở rộ,
Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu.
Khi Tăng hỏi nghĩa Kiến tánh thành Phật thì Ngài đáp: giống
như là cây héo, cây khô gặp mùa Xuân về liền nở hoa. Người thế gian vì
không nhận ra Phật tánh của mình nên thấy thân này có sanh, có diệt, khi
sanh là vui mừng, khi diệt là khổ đau; trái lại người tu nhìn thấu được
tánh chân thật của mình, tức là kiến tánh, thì thấy thân này có tàn có
hoại cũng như là cây khô, khi thời tiết nhân duyên đến tức là mùa Xuân về
nó vẫn nở hoa, chớ không phải mục luôn. Người tu khi ngộ đạo thấy tánh rồi
thì ngay nơi thân tầm thường, nhớp nhúa, không ra gì này có cái đẹp đẽ
tươi sáng vô cùng, đó là ví dụ mùa Xuân về hoa nở rộ.
Đến câu kế “Gió đưa ngàn dặm nực hương mầu”, lúc gió ở đâu
thổi về đều nghe mùi hương nhiệm mầu thơm ngát mũi. Như vậy hai câu thơ
này cho chúng ta thấy đường trước chúng ta đẹp đẽ làm sao, giống như mùa
Xuân về hoa nở rộ, giống như gió ngàn phương thổi về mùi thơm nhiệm mầu
nồng nực khắp bầu trời. Như thế quí vị thấy đẹp đẽ thơm tho là con đường
chúng ta đang đi, đang tiến tới.
Lại có vị Tăng hỏi: Thế nào là bản ý của chư Phật?
Ngài Viên Chiêu liền đáp:
Xuân chức hoa như gấm,
Thu lai diệp tự hoàng.
Dịch:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu sang lá tự vàng.
Câu trả lời đẹp làm sao! Mùa Xuân đến hoa nở đẹp như gấm thêu
hoa, mùa thu sang lá vàng rụng. Như vậy Xuân đến, thu sang vẫn là tự
nhiên, Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng, sự vật là như thế. Bản ý chư Phật
thế nào? Bản ý chư Phật là như nhiên, như Xuân về hoa nở, thu đến lá vàng,
không có gì thêm, không niệm trần nào len lỏi vào.
Đến Thiền sư Thiền Lão, một hôm vua Lý Thái Tổ đến, thấy Ngài
ở trong núi, Vua hỏi: Ngài ở đây được bao lâu rồi?
Ngài trả lời:
Đản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu Xuân thu.
Tạm dịch:
Chỉ biết ngày tháng này,
Ai hay Xuân thu trước.
Nhà vua liền hỏi thêm: Hòa thượng ở đây hằng ngày làm gì? Ngài
trả lời:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.
Ngài Thiền Lão Thiền sư trả lời câu hỏi của vua Lý Thái Tổ về
thời gian Ngài ở trong núi bao lâu là: Chỉ biết ngày nay tháng này thôi.
Như vậy Ngài đang sống với niệm hiện tại (ngay bây giờ), không nhớ quá
khứ, không mơ tưởng vị lai. Nếu con người được như vậy thì hiện tại đang
làm gì? Ngài trả lời: Nhìn trúc biếc hoa vàng, thấy trăng trong mây bạc...
tất cả đều hiện cái thể chân thật của chính mình, chớ không có ngoài.
Vậy khi chúng ta tu hành đến lúc tâm mình tự tại, không dính
mắc một cái gì, lúc đó tất cả cảnh trước mắt chúng ta đều nên thơ, đều
tuyệt diệu, những cảnh đẹp không thế nào diễn tả hết, những cảnh đó chúng
tôi gọi là vẻ đẹp tuyệt trần, nghĩa là đẹp mà không dính một mảy bụi nào.
Bụi đó ở đâu? Ở trong tâm chúng ta. Tâm không còn chút bụi thì mọi cảnh
trước mắt đều đẹp, đều nên thơ. Trái lại nếu tâm chúng ta còn bụi phiền
não thì mọi cảnh đều là cảnh buồn, cảnh tang tóc. Như thế tất cả chúng ta
tu hành là đã chọn được một con đường, con đường tươi sáng hạnh phúc ở mai
sau. Chọn được rồi, hiện chúng ta đang cất bước đi, quí vị có muốn đi
nhanh đến để hưởng hay không? Hay quí vị thích ngồi chơi, chần chờ trong
những đám gai góc, những vũng bùn lầy? Tôi ví dụ như chúng ta là khách du
lịch muốn đến một thành phố đẹp, nhưng biết rằng trên đoạn đường về thành
phố phải qua những đoạn đường lồi lõm, nhơ nhớp, bẩn thỉu, quí vị nghĩ
chúng ta muốn đi nhanh qua để đến chỗ tươi đẹp mà chúng ta hằng mơ ước,
hay là chúng ta cứ dần dà đến chỗ nào mệt thì ngồi chơi để ngửi mùi hôi
hám của những đống rác, hay dừng lại những chỗ đất lồi lõm gai góc, ngồi
xuống thì bị đâm thủng chẳng hạn? Chắc không ai bằng lòng ngồi lì mãi ở
chỗ nhơ nhớp gai góc khi biết rằng đến nơi kia sẽ đẹp đẽ trăm phần. Thế
nên chúng ta đã có một lối đi, đã biết được kết quả sẽ là tươi sáng, đẹp
đẽ thì phải nỗ lực, không nên chần chờ, hẹn nay, hẹn mai mà phải ráng đi
đến nơi, sớm chừng nào tốt chừng nấy.
Tóm lại hôm nay là ngày đầu năm, tôi phác họa con đường đi của
quí vị để thấy đó là con đường tươi sáng . Vậy mong rằng tất cả quí vị nếu
không phải là người yếu hèn hay thác loạn, thì sẽ không chần chờ, không
thối lui trên bước đường toàn là hoa thơm cỏ lạ. Chúng ta phải hăng hái,
cố gắng tiến đến chỗ chúng ta đã nhắm, đến mục tiêu chúng ta đã quyết đến
vì đó là nơi đẹp đẽ, tươi sáng, là nơi an lạc muôn đời. Chúng ta đâu còn
dốt nát dại khờ gì mà phải dính nhiễm, cãi nhau trong đám gai góc? Đánh
nhau trong gai có vui gì đâu, dù có thắng cũng trầy da tróc vảy. Thế thì
mặc ai muốn tranh hơn thua, muốn lôi kéo... chúng ta cứ gỡ mà đi, đi thẳng
đến đích cuối cùng là nơi đẹp đẽ vô hạn. Đến đó rồi mặc tình ngồi chơi
thổi sáo hát khúc thanh bình, rảnh rang cỡi mây cỡi gió về rủ bạn bè cùng
đi với mình cho vui, chớ không lẽ lăn lộn mãi trong đám gai góc bùn lầy,
giành nhau những cái không đáng giành, hơn nhau những cái không đáng hơn
thì thật là uổng phí cả cuộc đời.
Mong rằng năm nay, tôi tạm gọi là năm cuối để hướng dẫn dạy dỗ
quí vị, những gì Kinh điển Phật Tổ dạy, tôi đem ra giảng nói cho quí vị
nghe, quí vị ráng lãnh hội đầy đủ và đồng thời cố gắng mạnh mẽ bước trên
con đường chúng ta đang đi, đừng giậm chân tại chỗ và tối kỵ là đừng bao
giờ trở bước lại. Đó là điều tôi nhắc nhở, mong tất cả quí vị ý thức được
đường tu, biết ngày mai tươi sáng thì phải nỗ lực tiến lên, không nên chần
chờ nữa.
] |