|
Theo bước chân Hòa Thượng Thiền sư THÍCH THANH TỪ
Nguyên Tu |
|
{{{ |
|
Khi đi tu, Hòa thượng Thích Thanh Từ có ba bổn nguyện. Ngài nói: "Thứ nhất là học cho hiểu Phật pháp, thứ hai là đem cái hiểu để thực hành cho đến nơi đến chốn và cuối cùng là đem cái hiểu cái tu của mình để chỉ lại cho Phật tử, cho những người muốn tu". Sau những năm tháng gian nan cực khổ và hành trì nghiêm túc, bất thần sau một đêm ngồi thiền định, tự nhiên ngài sáng được lý thiền. Hòa thượng kể lại: "Khi sáng được lý thiền rồi thì những câu trong kinh Kim Cang, Kinh Pháp Hoa, những tạng Kinh, những Bộ nói về thiền mà ngày xưa tôi bế tắc, bỗng dưng sao tôi hiểu được hết trơn, hiểu dễ dàng như có ai dạy mình sẵn từ hồi nào. Ðọc đến đâu tôi hiểu đến đó, hiểu mà say sưa, hiểu rất thích thú. Tôi thấy thật là chuyện bất ngờ cho nên tôi cười đến ba bữa". Từ ngày Hòa thượng đạt được ý nguyện của mình, chúng ta thấy nhiều tu viện đã mọc ra ở Vũng Tàu (Chơn Không), ở Long Thành (Thường Chiếu, Phổ Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu), ở Ðà Lạt (Trúc Lâm) và đang lan dần sang Hoa Kỳ (Quang Chiếu ở Dallas, Ngọc Chiếu, Ðại Ðăng ở Cali). Nhiều sách giảng giải kinh Phật của ngài được Phật tử khắp nơi tái ấn tống nhiều lần. Những pháp âm của ngài được sang đi sang lại qua băng Video, băng Cassette lan rộng khắp năm châu. Nơi đâu có người Việt ở, có Phật tử là có băng giảng của ngài. Vì vậy khi ngài đến hoằng dương Phật pháp tại chùa Hoa Nghiêm và vùng lân cận thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, tôi nghĩ rằng đây là một phước duyên cùng tháp tùng theo Hòa thượng để nghe ngài ban pháp nhủ, những lời nói vàng ngọc từ kim khẩu của một vị thiền sư ngộ đạo. Nắng chiều ngày 30 tháng 10 năm 2000 tươi cười chiếu những tia sáng thủy tinh lóng lánh xuyên qua muôn ngàn màu sắc xinh đẹp của hoa lá mùa thu, lung linh xào xạc theo làn gió se lạnh, chan hòa với những nét mặt già trẻ nôn nao, hớn hở, xúm xít chờ đón Hòa thượng tại sân bay Dulles, Virginia. Mỗi phút trôi qua là một ngong ngóng xao xuyến trong lòng - Rồi chiếc áo màu vàng sáng rực rỡ của cánh đồng ruộng mùa lúa chín từ từ xuất hiện với chiếc gậy trúc cầm tay. Những nụ cười niềm nở nồng nàng dâng lên Hòa thượng như tiếng pháo bông của ngày Tết. Ðoàn xe đưa Hòa thượng về từ từ lăn bánh vào cổng chùa Hoa Nghiêm giữa hai hàng Phật tử cung kính chắp tay nghênh đón. Ðã khuya rồi mà quý Tăng Ni và nhiều nhóm Phật tử vẫn còn liên tiếp luân phiên sắp hàng chào mừng và đảnh lễ Hòa thượng tại chánh điện. Tờ mờ sáng hôm sau, Phật tử vùng New York đến rước Hòa thượng về hoằng dương Phật pháp cho các đạo hữu thuộc các chùa trong tiểu bang cho đến ngày 2 tháng 11 năm 2000. Sáng ngày 4 tháng 11, chúng tôi theo chân Hòa thượng đến làm lễ đặt viên đá xây cất chánh điện chùa Huệ Quang ở Richmond cách thủ đô khoàng 100 miles về hướng Nam. Bụi trúc năm xưa do bàn tay Hòa thượng trồng trước cổng chùa nhân chuyến hoằng dương lần đầu năm 1994, nay đã xum xuê rậm rạp như sự lớn mạnh của pháp môn tu học mà Hòa thượng đang gieo trồng. Chùa năm trên đồi cao, giữa rừng sâu bốn mẫu thoai thoải đầy cây phong cao đẹp, nhìn xuống hồ sen và tượng Quán Thế Âm thanh thoát hiền hậu. Sau lễ nghi đặt viên đá trang nghiêm và ngắn gọn, Hòa thượng ban pháp thí cho hơn 200 Phật tử trong chánh điện chùa cũ. Hòa thượng nói rằng: "Bát nhã Tâm kinh là kho báu của nhà Phật, là cốt tủy của các kinh, và là tinh hoa của Thiền. Chỉ vỏn vẹn một câu đầu của bài kinh, nếu biết quán cho tường tận và hành tri thâm sâu thì đạt đến Bồ Ðề Niết Bàn". Hòa thượng nói tiếp: "Bồ Tát Quán Tự Tại khi đi sâu trong trí huệ Bát nhã rồi, ngài soi thấy năm uẩn là Không, lúc đó các khổ nạn đều thông qua, khổ nạn đã qua đó gọi là Tự tại. Khi hết khổ rồi thì gọi đó là lạc là vui, không còn một chút khổ nào thì gọi đó là Cực lạc, là Niết bàn. Ðức Phật đã từ bi chỉ rõ ràng cho chúng ta một cách hết sức gọn hay vô cùng, chúng ta cứ y theo đó mà tu hành chắc chắn được kết quả tốt. Chính sáu căn là gốc rễ của sanh tử luân hồi mà cũng chính sáu căn là gốc rễ của Niết bàn". Thượng tọa trụ trì Thích Thiện Uẩn thay mặt cho các Phật tử hiện diện đảnh lễ và xúc động cảm tạ Hòa thượng đã ban cho những lời pháp thí cao siêu mà dễ hiểu hàm ý rằng trí huệ rộng lớn cùng tột đó là Tâm nên gọi là Tâm kinh. Trên đường về, Hòa thượng đã ghé vùng Graham Park Shore để cắt băng khánh thành một "Tiểu Trúc Lâm Yên Tử" do ngài đặt tên. Ðây là con đường năm xưa, đêm mùng 3 tháng 4 năm 1236, vua Trần Thái Tông đã bỏ ngai vàng trốn lên núi Yên Tử tìm Phật. Ðây là con đường năm nao, người cháu nội của Thái Thượng Hoàng là vua Trần Nhân Tông đang ở ngai vàng, đang trị vì muôn dân mà vẫn không màng đến của cải danh vọng hư ảo, rũ áo lên Yên Tử tu hành khổ hạnh năm 1299 và trở thành đệ nhất Tổ Trúc Lâm. Hòa thượng cắt băng khánh thành chiếc cầu bắc qua con suối Giải Oan. Một cái bia dựng bên gốc cổ thụ đề chữ: "Suối Giải Oan - nơi các cung tần mỹ nữ trầm mình xuống suối để tỏ lòng trung thành với vua Trần Nhân Tông khi đức vua đến núi Yên Tử để tu hành". Qua "đường Tùng" chừng 30 thước thì Hòa thượng và đoàn tùy tùng khoảng 50 người dừng lại ở chùa Hoa Yên. Hai câu đối treo dọc theo hai thân cây đề chữ: Dẹp giặc độ chúng sanh, làm vua làm Phật.
Câu đối do người sau khái quát cuộc đời và sự nghiệp tu hành của đệ nhất Tổ Trúc Lâm kể lại. Lần theo con đường đá độ 50 thước thì đến chùa Một Mái. Nương con đường mòn leo lên một dốc cao nữa thì đến đỉnh chùa Ðồng. Hòa thượng, chư Tăng Ni và đoàn Phật tử tháp tùng thắp hương lễ Phật, cầu nguyện cho mái chùa Ðồng được chóng hoàn thành viên mãn. Từ đây nhìn xuống hướng Ðông, trải bạc trắng xoá một nhánh sông Potomac phản chiếu ánh mặt trời sáng ngời tựa như sông Bạch Ðằng hùng dũng. Muôn chim thánh thoát nhảy nhót trên cành lá đủ màu sắc sặc sỡ của rừng thu. Bầy thiên nga, ngỗng trời từng đoàn bay ngập trời xanh vang vang chào đón khách hành hương. Cả danh sơn Yên Tử to lớn của miền Bắc Việt Nam được thu nhỏ vào trong một khu rừng chưa đến hai mẫu tại Mỹ quốc là do sự cảm xúc của Phật tử sở hữu này, mơ ước làm sống lại một phần nào thời cực thịnh Phật giáo nước Ðại Việt vào thế kỷ thứ 13 dưới sự trị vì của các vua đời Trần tu hành thâm nhập thiền tủy. Sau khi xuống núi trở vào nhà, Hòa thượng ban một bài pháp ngắn về tiểu sử của Trúc Lâm Yên Tử. Trải qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn danh sơn Yên Tử trở thành nơi tu đạo của các bậc anh hào hiền lương mà cuộc đời và sự nghiệp trở thành bất tử. Hòa thượng phác họa chân dung của các vị thiền sư tiêu biểu nhất, tu hành tại Yên Sơn ngót 700 năm qua - Từ Tổ Hiện Quang, Ðại Ðăng, Ðạo Viên đời nhà Lý đến tam Tổ Trúc Lâm đời nhà Trần: Ðiều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang - Từ Tổ Chân Nguyên đời Lê cho đến Tỳ Khưu Ni Ðàm Thới đời Nguyễn. Từ xưa danh sơn Yên Tử đã trở thành nổi tiếng với truyền thuyết về một đạo sĩ tên An Kỳ Sinh tu tiên đắc pháp, đạt độ trường sanh hóa đá trên đỉnh núi. Vua Trần nhân Tông sau khi hai lần dẹp giặc Mông Nguyên, bỏ giang sơn sự nghiệp giao lại cho con để đi tu, chứng tỏ rằng giá trị đạo Phật siêu xuất hơn tất cả cái gì quý giá của thế gian - Hòa thượng nói tiếp: "Thiền viện ở Ðà Lạt có tên là Trúc Lâm cũng nằm trong tinh thần đó. Nay thấy Phật tử này có quan niệm trùng hợp với tôi, thấy được hệ thống Phật giáo Việt Nam nằm ở núi Trúc Lâm Yên Tử, đây là một hướng đi, một cội nguồn để noi gương tu hành. Không những người xuất gia mà cư sĩ thời đó như Tuệ Trung Thượng Sĩ đều tu hành đạt đạo. Hòa thượng còn giảng thâm ý cao siêu hay đáo để của bốn câu kệ cuối cùng trong Cư Trần Lạc Ðạo Phú của Sơ Tổ Trúc Lâm: Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Ðạo hữu Hằng Hà Sa đọc dâng tặng Hòa thượng bốn câu thơ của Trụ Vũ, đã đọc tại thiền viện Chân Không nhân chuyến viếng thăm thiền viện vào mùa hoa chuông vàng nở rộ năm rồi: Lên cao chót vót đỉnh Chân Không,
Trước khi trở về chùa, Hòa thượng cắt chiếc bánh có đề chữ: "Cung nghinh Hòa thượng Thích Thanh Từ khánh thành Tiểu Trúc Lâm Yên Tử" do đạo hữu Nguyên An cúng dường giữa tiếng vỗ tay của tất cả mọi người. Ngày 5 tháng 11 là một ngày bận rộn nhất của Hòa thượng. Buổi sáng sớm hơn 300 Phật tử tham dự lễ quy y tại chùa Hoa Nghiêm và gần một nửa số người đã phát nguyện quay về nương tựa Phật Pháp Tăng. Nụ cười hân hoan nở rộ trên nét mặt từng người sau khi đã nghe Hòa thượng giảng giải cặn kẽ năm giới phải theo và nhận được phái quy y với pháp danh Hòa thượng ban cho. Buổi chiều là buổi thuyết pháp được tổ chức quy mô tại hội trường trung học Kenmore. Ca sĩ Hà Thanh và hai thiền sinh Chân Minh Giới, Chân Minh Tuệ cùng tiếng đàn phụ họa của đạo hữu Ngô Hành Sơn mở đầu chương trình với những bản đạo ca thánh thoát nhẹ nhàng đưa thính giả dần dần lắng tâm thanh tịnh để đón nhận những lời vàng ngọc của Hòa thượng. Bài Trầm Hương Ðốt được ca sĩ Hà Thanh cất cao giọng hòa với tiếng hát của tất cả 800 người trong hội trường đứng dậy nghiêm chỉnh làm nghi lễ chào đón khi Hòa thượng từ từ bước vào khán đài. Sáng rực rỡ như hào quang, ngồi bên cạnh bình hoa hồng xinh tươi, với giọng nói rõ ràng chậm rãi, hiền hòa, Hòa thượng đã đưa mọi người trở về giáo lý căn bản của đạo Phật là Tứ Diệu Ðế. Từ cái nguyên nhân do Tham, Sân, Si, mạn, nghi, tà kiến tức là Tập đế đưa đến cái quả khổ đau tức Khổ đế, Hòa thượng đã rành mạch từ từ vạch cho mọi người biết con đường tu học để chuyển hóa cái khổ đau, chán đời để đạt đến cứu cánh rốt ráo an lạc, yêu đời. Hội trường chăm chú như bị thôi miên, theo dõi lý luận sắc bén dễ hiểu của Hòa thượng qua những thí dụ đơn giản mà thâm sâu trong kinh Phật. Nhiều lúc hội trường không ngớt tiếng cười và tiếng vỗ tay thích thú vì tự cảm thấy bóng tối vô minh xưa nay của mình được Hòa thượng xóa tan để ánh sáng của chánh pháp tràn vào tâm tư một cách kỳ diệu. Ngài nói: "Bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải là khổ, bị làm ngạ quỷ súc sanh cũng chưa phải là khổ, chỉ kẻ si mê không biết lối đi mới là khổ. Khi trả hết cái nợ của nghiệp súc sanh ngạ quỷ rồi thì kiếp sau có thể trở về con đưòng lành. Si mê mới là gốc khổ. Si mê tạo nên nghiệp ác triền miên mà không biết khi nào cho cùng". Phật dạy: "Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi". Ðuốc là trí tuệ. Thắp lên với chánh pháp. Mồi đuốc trí tuệ của mình qua mồi ngọn đuốc của Phật. Hòa thượng chấm dứt bài pháp "Ðạo Phật là đạo yêu đời" sau một tiếng rưỡi đồng hồ nói không ngưng nghỉ bằng một câu hỏi cởi mở: "Như vậy quý Phật tử thấy đạo Phật là đạo chán đời hay yêu đời?" Cả hội trường đều đồng thanh hồ hỡi trả lời lớn: "Yêu đời". Tiếp theo là nhiều tràng vỗ tay thỏa thích vang dội cả hội trường. Hòa thượng xuề xòa vui vẻ cười theo: "Như vậy là tôi thành công rồi". Hòa thượng cũng nhân cơ hội đông đảo Phật tử, kêu gọi mọi người hưởng ứng gom góp gây quỹ cứu trợ đồng bào nạn lụt miền Tây do chùa Hoa Nghiêm thực hiện. Giọng hát của ca sĩ Hà Thanh ngân cao như tiếng chuông thức tỉnh lòng từ bi của Phật tử qua bài ca: Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Trong vòng mười phút, các em Gia đình Phật tử Hoa Nghiêm đã quyên góp được trên $8000.00 để kịp thời gởi về cứu trợ, thể hiện tinh thần lá lành đùm lá rách. Ngày thứ Hai, mồng 6 tháng 11 là một ngày sinh hoạt tại chùa Hoa Nghiêm dành riêng cho các Phật tử đến tham vấn. Buổi sáng Hòa thượng dạy về thiền. Trước khi dạy thực hành thiền tập, Hòa thượng đã nói qua những pháp tu trong thiền viện thuộc hệ thống của ngài, là một dung hợp của ba vị Tổ: Nhị tổ Huệ Khả, Lục tổ Huệ Năng và Sơ tổ Trúc Lâm, cô đọng như sau:
Ðây là bốn phương tiện để hướng dẫn tùy theo trình độ nhanh chậm, cao thấp mà ứng dụng có khác. Hòa thượng dạy cho chúng tôi phương pháp "Bỏ vọng không theo". Biết rõ tâm suy tưởng lâu nay của mình là hư ảo, không để nó đánh lừa lôi dẫn chúng ta chạy theo trần cảnh. Nhận vọng tưởng hư ảo là tâm mình là mê lầm, biết vọng tưởng hư dối không thật là tỉnh giác. Mỗi giây phút dứt vọng tưởng là dứt được sinh diệt, không còn sinh diệt là Niết bàn rồi. Hòa thượng tường tận chỉ cho chúng tôi thực tập tư thế ngồi thiền, cách xả thiền, những phương pháp loại trừ vọng tưởng xuất hiện trong lúc ngồi thiền như "Ngỗng chúa uống sữa chừa nước". Không biết nhờ thần lực nào hỗ trợ mà tự nhiên tôi gát chân lên ngồi được thế kiết già trong khi thực tập, một tư thế mà từ lâu tôi tưởng như là đầu hàng không điều kiện. Buổi chiểu Hòa thượng dành thi giờ để tiếp xúc đặc biệt với nhóm thiền Hỷ Xả do ngài đặt tên, đã tu tập đều đặn gần bồn năm nay mỗi chiều Chủ nhật tại chùa Hoa Nghiêm. Anh trưởng nhóm Minh Ðức và hơn ba mươi thiền sinh đảnh lễ tỏ lòng biết ơn sự chỉ giáo của Hòa thượng. Hòa thượng ân cần thăm hỏi, khen ngợi sự tiến bộ tu tập của nhóm thiền Hỷ Xả. Ngài đả giải đáp những tham vấn, chỉ bày những phương pháp điều trị mười thứ ma chướng làm nhiễu loạn kẻ mộ đạo tu hành, nhất là người tu thiền chơn chánh:
Hòa thượng nói: "Ma cũng tự tâm, không ma cũng tự tâm, còn mống dấy niệm là còn tâm ma. Tâm ta nếu lặng yên chẳng động, ngàn thánh còn chẳng biết, huống loài ma mị làm gì hại được". Theo đoàn xe tiễn chân Hòa thượng ra phi trường ngày hôm sau để tiếp tục hoằng dương Phật pháp ở miền Tây nước Mỹ,chúng tôi không tránh khỏi ngậm ngùi rưng rưng xúc động. Giáo pháp của đức Phật đã có sẵn như bản đồ. Hòa thượng là kim chỉ nam hướng dẫn chúng tôi con đường nào đi ít chông gai, ít cạm bẫy, không lạc lối, không lầm lẫn như câu chuyện năm người mù rờ voi. Trong ba ngày ngắn ngủi được kề cận theo Hòa thượng, có lúc lại được vinh dự săn sóc ngài với tư cách là một ông thầy thuốc, tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Ngài đã khai tuệ cho tôi để hiểu giá trị của đạo Phật, cái cao siêu rất khoa học của giáo pháp, cũng như cái dễ dàng để đạt được giác ngộ là chỉ cần "quay đầu thì thành Phật". Hiểu mà không thực hành thì cũng như dọn một mâm cơm thịnh soạn ra mà không ăn thì bụng vẫn đói. Nhiều lần tôi đã thầm nghĩ một sự trùng hợp đáng nêu lên ở đây: phải chăng là ba chữ "T" Trần Thanh Từ, tên của Hòa thượng là hiện thân của ba chữ "T" tên của vua Trần Thái Tông. Hai ngài đều có một tổ tiên như "sóng với nước", một bên là đánh cá, một bên là chèo đò. Vua Trần Thái Tông lên Yên Tử sơn tầm thầy học đạo, tu hành sáng được lý thiền, để lại hậu sinh nhiều sách Phật quý giá, trong đó có quyển Khóa Hư Lục. Bảy trăm năm sau, Hòa thượng Trần Thanh Từ thiền định đạt đến "Trí vô sư", chủ trương phục hồi thiền tông đời Trần, khuyến khích sám hối lục căn, viết nhiều sách giảng giải kinh Phật và truyền bá nhiều pháp thoại vàng ngọc. Tôi vội cầm tay Hòa thượng xoa trên đầu tôi khi ngài vừa đến trạm soát vé cuối cùng để lên máy bay, như muốn nhận được một thần lực từ nơi một vị thiền sư kính mến đầy đủ Giới, Ðịnh, Huệ hiếm có ở thời mạt pháp này, nghĩa là "mắt như mù, tai như điếc" gặp bao nhiêu chướng ngại trong khi đi hoằng pháp mà vẫn ung dung tự tại. |
|
|