BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC GIẢNG GIẢI
[denhat][denhi][detam][detu][dengu][deluc][dethat][debat][ketluan]
|
KẾT LUẬN CHÁNH VĂN : Như thử bát sự, Năi thị chư Phật, Bồ-tát đại nhân, Chi sở giác ngộ, Tinh tiến hành đạo, Từ bi tu tuệ, Thừa pháp thân thuyền, Chí Niết-bàn ngạn, Phục hoàn sanh tử, Độ thoát chúng sanh. Dĩ tiền bát sự, Khai đạo nhất thiết, Linh chư chúng sanh, Giác sanh tử khổ, Xả ly ngũ dục, Tu tâm Thánh đạo. Nhược Phật đệ tử, Tụng thử bát sự, Ư niệm niệm trung, Diệt vô lượng tội, Tiến thú bồ-đề, Tốc đăng chánh giác, Vĩnh đoạn sanh tử, Thường trụ khoái lạc. DỊCH : Tám điều như thế dạy qua, Chính hàng Bồ-tát cùng là Thế Tôn. Đă từng giác ngộ lẽ chân, Tiến tu đạo hạnh vô ngần từ bi. Đốt đèn trí tuệ phá si, Pháp thân thuyền quí dạo đi Niết-bàn. Trở vào sanh tử thanh nhàn, Chúng sanh độ thoát an toàn vui lây. Lại dùng tám việc trước này, Mở đường khai lối dắt d́u chúng sanh. Khiến cho hết thảy biết rành, Tử sanh khổ năo đừng manh chớ mờ. Xa ĺa năm dục đục lờ, Tâm tu đạo Thánh không giờ nào quên. Nếu là phật tử phải nên, Tám điều như thế hằng đêm tụng hoài. Ở trong mỗi niệm hằng ngày, Bao nhiêu tội lỗi diệt rày sạch trơn. Bồ-đề hoa báu nhẹ thơm, Trên bờ chánh giác gót chân dẫm liền. Hằng hà sanh tử lưu linh, Thường vui yên ổn tâm t́nh tiêu tan. GIẢNG : Như thử bát sự, Năi thị chư Phật, Bồ-tát đại nhân, Chi sở giác ngộ, Tinh tiến hành đạo, Từ bi tu tuệ, Thừa pháp thân thuyền, Chí Niết-bàn ngạn. Chư Phật và Bồ-tát, hàng đại nhân được giác ngộ là do tinh tấn tu hành, phát tâm tu hạnh từ bi cứu giúp chúng sanh. Các Ngài luôn luôn thắp lên ngọn đuốc trí tuệ nơi tâm ḿnh, để phá trừ si mê mờ tối, kết quả là ngộ được pháp thân chứng Niết-bàn. Nên nói ngồi thuyền pháp thân đến bờ Niết-bàn. Đó là phần thứ nhất, chư Phật và Bồ-tát y cứ nơi tám điều này, mà tinh tấn tu hành ngộ pháp thân chứng Niết-bàn. Phục hoàn sanh tử, Độ thoát chúng sanh, Dĩ tiền bát sự, Khai đạo nhất thiết, Linh chư chúng sanh, Giác sanh tử khổ, Xả ly ngũ dục, Tu tâm Thánh đạo. Sau khi Phật và Bồ-tát đă ngộ pháp thân chứng Niết-bàn giải thoát, các Ngài khởi bi nguyện trở lại trong sanh tử, để giáo hóa cứu độ chúng sanh. Tuy cũng lăn lộn trong sanh tử, nhưng các Ngài không v́ nghiệp hoặc dẫn dắt, mà v́ ḷng từ bi khởi nguyện cứu độ chúng sanh, nên các Ngài ra vào trong sanh tử rất tự tại, không bị phiền năo khổ đau bức bách. Lúc giáo hóa, các Ngài cũng dùng tám điều giác ngộ đă nêu, để mở đường dẫn lối cho chúng sanh thấy rơ cái khổ của sanh tử luân hồi, để xả bỏ năm món dục lạc thế gian, lo tu Thánh đạo. Đây là phần thứ hai là phần giáo hóa chúng sanh của hàng Bồ-tát. Nhược Phật đệ tử, Tụng thử bát sự, Ư niệm niệm trung, Diệt vô lượng tội, Tiến thú bồ-đề, Tốc đăng chánh giác, Vĩnh đoạn sanh tử, Thường trụ khoái lạc. Phần thứ ba nói: Người đệ tử chân chánh của Phật, mỗi niệm mỗi niệm hằng nhớ tám điều giác ngộ này. Nhờ mỗi niệm hằng nhớ đến tám điều giác ngộ, mà không nhớ tưởng điều ǵ khác. Do đó không tạo tác nghiệp nhân ác, nên tội lỗi theo đó mà dứt. Tại sao? V́ tâm không c̣n nghĩ đến tư lợi, không nghĩ đến điều hại người hại vật. Lúc nào cũng nhớ nghĩ đến việc tu hành, thường xuyên tỉnh giác, nghĩ nhớ thương chúng sanh t́m phương thế để cứu độ. Người sống được như vậy th́ sẽ tiến đến quả bồ-đề, chóng thành tựu quả Phật. Khi đă đoạn ĺa sanh tử vĩnh viễn th́ thường được ở trong cảnh an tịnh vui vẻ. Để quí phật tử dễ nhớ và nhớ kỹ, tu hành khỏi sợ sai lạc. Tôi tóm lược lời giảng như sau: 1- Điều giác ngộ thứ nhất: Thường thấy thân tâm của ḿnh và sự vật bên ngoài là vô thường không bền chắc không có thật ngă. Phải biết tâm là gốc sanh ra tội ác, chớ mê chấp tâm là thật, là ta. Biết vọng tưởng không thật nên không mê chấp chạy theo nó. Lại cũng biết thân này là rừng tội lỗi, nên không chấp thân là thật, là ta. Thường quán xét như thế để xa ĺa khổ luân hồi sanh tử. 2- Điều giác ngộ thứ hai: Nên biết tham cầu nhiều th́ khổ đau cũng lắm. Gốc của luân hồi sanh tử là do tham đắ? ngũ dục thế gian. V́ vậy mà phải bớt tham muốn. Khi tâm bớt tham cầu ngũ dục th́ sẽ được an ổn vui vẻ. 3- Điều giác ngộ thứ ba: Nên biết người nào dục vọng càng nhiều th́ tội ác càng lớn. Do đó mà phải dứt tâm ham muốn, không tham cầu ngũ dục. Lúc nào cũng ít muốn biết đủ, an phận nghèo để ǵn giữ đạo đức, phát huy trí tuệ, lấy trí tuệ làm sự nghiệp, không để tâm đuổi bắt danh lợi thế gian. 4- Điều giác ngộ thứ tư: Người lười biếng giải đăi không đoạn trừ nghiệp ác, tu hạnh lành, th́ bị trụy lạc trầm luân. V́ vậy mà phải tinh tấn tu hành, để phá trừ vô minh phiền năo, hàng phục các thứ ma chướng, ra khỏi ngục tù ngũ ấm và tam giới. 5- Điều giác ngộ thứ năm: Phải biết gốc của luân hồi sanh tử là ngu si. V́ vậy phải học rộng nghe nhiều về Phật pháp, nhờ thế mà trí tuệ tăng trưởng sâu rộng, có đủ khả năng, đủ biện tài để giáo hóa chúng sanh. 6- Điều giác ngộ thứ sáu: Nên biết người nghèo khổ nhiều hay sanh oán hận, thường kết nhiều duyên ác, v́ vậy không tránh khỏi quả báo khổ đau. Nên người tu phát tâm thương xót họ, thứ tha cho những lầm lỗi hờn oán không duyên cớ của họ. Lại c̣n đem tâm b́nh đẳng bố thí giúp đỡ họ, không nhớ?lỗi lầm ngày trước mà ghét bỏ họ. Biết và làm được như vậy, mới là người thực hành đúng theo hạnh bố thí của Phật và Bồ-tát. 7- Điều giác ngộ thứ bảy: Biết rơ ngũ dục là tội lỗi là tai họa. Tuy hiện đời là người thế tục mà biết tránh, không đắm mê theo ngũ dục, luôn nuôi chí nguyện xuất gia, muốn ǵn giữ giới hạnh nghiêm minh thanh tịnh, sống đời siêu thoát. Tự làm lợi ích cho ḿnh để rồi khởi ḷng từ cứu độ tất cả chúng sanh. 8- Điều giác ngộ thứ tám: Phải biết luân hồi sanh tử liên tục là khổ đau vô cùng vô tận. Nên phát tâm từ bi rộng lớn, nguyện thay chúng sanh chịu khổ và giúp cho tất cả được đến chỗ cứu cánh an lạc là Niết-bàn giải thoát. Đó là tám điều giác ngộ, mà chư Phật, Bồ-tát đă làm và những người tu Phật chân chánh đang làm. Ai là người muốn học Phật, tu theo Phật th́ phải làm những điều này không thể bỏ qua được. Tại sao? V́ học Phật là học giác ngộ. Phàm nói đến học Phật là nói đến đạo lư giác ngộ của Phật và Bồ-tát đă tu đă giác. Chớ không phải học thuộc ḷng kinh nhiều, hay tụng kinh giỏi mà không tu không giác, rồi cho rằng ḿnh học Phật. Nhớ là không phải như vậy! Giác ngộ những ǵ? Giác ngộ từng phần như trước đă kể. Thấy rơ thân người và cảnh vật là vô thường, thấy rơ tham dục nhiều th́ khổ đau nhiều. Thấy rơ như vậy là ḿnh đă có mầm giác ngộ, kế đó nhờ trợ duyên thầy sáng bạn tốt, làm thiện hữu tri thức để tiến đến chỗ giác ngộ viên măn. Đến đây tôi xin nói rộng ra để quí vị dễ hiểu dễ nhớ, không lầm. Trong kinh này Phật chỉ nói một chiều, chê thân tâm là vô thường, vô ngă, khổ đau, gốc tội lỗi. Nhưng, ở chỗ khác Phật lại nói có thân này là do tích chứa nhiều phước đức mà được. Thế nên làm người phải luôn tự vấn:"Được thân này, sống để làm ǵ?". Có người đă tự vấn ḿnh, nhưng không giải đáp được. Lại cũng có người không biết ḿnh có thân này, sống để làm ǵ? Phật dạy được thân người là khó, thế nên phải biết lợi dụng thân này để tiến tu cho được giác ngộ giải thoát, sau dẫn dắt chúng sanh từ chỗ mê mờ đến chỗ giác ngộ, từ chỗ tội lỗi đến chỗ an vui. Phật dụ người đi biển bị ch́m thuyền, không có phao nổi, sóng dồi gió dập, trồi lên hụp xuống mệt lả, bỗng vớ được khúc gỗ mục đang nổi trên mặt biển. Khi ôm khúc gỗ mục, người ấy biết nó là gỗ mục đang trôi nổi, rồi sẽ hư hoại không lâu. Song, người ấy biết rằng ḿnh đang cần nương nó, để lội vào bờ, khỏi bị chết ch́m. Khúc gỗ mục ấy, lúc bấy giờ đối với người sắp chết đuối thật là hữu ích, v́ nhờ nó mà khỏi chết ch́m. Như vậy, mục đích của người dùng khúc gỗ mục không phải để khoe khoang, không phải để tô điểm sơn phết cho đẹp, không phải để quí trọng như một bảo vật, mà khúc gỗ là vật hữu dụng, đang cần để đưa người vào bờ. Cũng vậy, mọi người cần phải thấy đúng ư nghĩa về thân này. Biết thân này là vô thường tạm bợ không chấp chặt nó, không quí thân này hơn thân khác. Không v́ nó mà tạo nghiệp ác, cũng không v́ thấy nó vô thường tạm bợ mà bi quan than thở, ngồi chờ chết. Biết thân này vô thường tạm bợ, phải cấp thiết lợi dụng thân này làm tất cả mọi việc hữu ích. Lo tu hành để ḿnh được giác ngộ giải thoát mọi khổ đau và giúp người cũng được giác ngộ giải thoát khổ đau hoàn toàn. Người sống được như vậy là người giác ngộ, biết đúng ư nghĩa về thân này và có thái độ sống hợp đạo. Đó là điều căn bản của người tu theo đạo Phật. ]
|
[denhat][denhi][detam][detu][dengu][deluc][dethat][debat][ketluan]