KINH PHÁP BẢO ĐÀN
[mucluc][loidausach][p1][p2-d1][p2-d2]
[p3-d1][p3-d2][p4][p5][p6][p7][p8-d1][p8-d2][p9][p10][p11-d1][p11-d2]
|
PHẨM THỨ HAI: BÁT NHĂ (tt) GIẢNG Trong bộ Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhă là phẩm rất quan trọng, tất cả chúng ta học, nếu thâm nhập được phẩm này, mới thấy rơ chủ trương, đường lối tu của Lục Tổ, nên ở đây quí vị nghe hiểu cho kỹ. Tại sao chúng tôi dám nói như thế ? V́ Lục Tổ ngộ từ kinh Kim Cang, mà kinh Kim Cang tức là Bát-nhă; cái chủ yếu mà Ngài ngộ được, Ngài diễn đạt lại cho chúng ta biết khiến chúng ta thấy được tầm quan trọng của nó th́ sự tu hành mới khỏi lầm lẫn. Ngày khác, Vi Sử quân thưa thỉnh, Tổ đăng ṭa bảo đại chúng: “Tất cả nên tịnh tâm niệm Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật-đa.” Lại bảo: “Này Thiện tri thức, trí Bát-nhă Bồ-đề, người đời vốn tự có, chỉ nhân v́ tâm mê không thể tự ngộ, phải nhờ đến Đại thiện tri thức chỉ đường mới thấy được tánh. Phải biết người ngu, người trí Phật tánh vốn không có khác, chỉ duyên mê ngộ không đồng nên có ngu có trí. Mở đầu Lục Tổ chỉ cho chúng ta thấy rơ rằng, tất cả chúng ta ai cũng sẵn có đại trí tuệ Bát-nhă. Sở dĩ người quên nó, mê tức là quên, do tâm quên không nhận được nên gọi đó là ngu; trái lại người tỉnh giác được trí tuệ Bát-nhă th́ gọi là trí. V́ tất cả chúng ta mê nên phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, nếu chúng ta nhân lời chỉ dạy của Thiện tri thức, nhận ra được bản tánh ḿnh tức là từ ngu chuyển thành trí hay là từ mê đổi thành ngộ. Như vậy mê hay ngộ chỉ là do chúng ta biết sống với trí Bát-nhă hay là bỏ quên nó thôi, chớ không phải có người ngộ khác với người mê. V́ ai cũng sẵn có, nhưng người biết sống trở lại th́ gọi là ngộ, người quên đi th́ gọi là mê, mê ngộ không đồng, lỗi tại quên và nhớ, chớ không có ǵ lạ cả. Như vậy từ trí tuệ Bát-nhă, chúng ta suy ra đến Phật cũng thế. Do chúng ta mê tánh giác nên gọi là chúng sanh, đức Phật ngộ được tánh giác nên gọi là Phật, thế nên làm chúng sanh hay làm Phật chẳng qua tại mê với ngộ thôi. Cũng thế, chúng ta thành trí, thành ngu cũng do nhớ, biết trở về với tánh Bát-nhă hay không biết đó thôi. V́ thế người học đạo không cần t́m những ǵ xa xôi, chỉ cần phải khai thác chỗ sâu thẳm nơi ḿnh sẵn có, khai thác được đó là giác, bỏ quên tức là mê, chớ đừng t́m cái ǵ ở bên ngoài. Đó là điểm chủ yếu Lục Tổ nêu lên, Ngài muốn chúng ta mỗi người nhận ra chớ đừng lầm lẫn t́m kiếm ở đâu khác. Tiếp đến Tổ dạy: Nay tôi v́ nói pháp Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật, khiến cho các ông, mỗi người được trí tuệ, nên chí tâm lắng nghe, tôi v́ các ông mà nói. Này Thiện tri thức, người đời trọn ngày miệng tụng Bát-nhă nhưng không biết tự tánh Bát-nhă ví như nói ăn mà không no, miệng chỉ nói Không, muôn kiếp chẳng được thấy tánh, trọn không có ích. Trước hết Ngài chỉ sự lầm lẫn của chúng ta. Ngài bảo có người trọn ngày cứ tụng Bát-nhă mà không biết tự tánh Bát-nhă. Tự tánh Bát-nhă tức là tánh Bát-nhă sẵn nơi ḿnh. Hầu hết Phật tử chúng ta ít có người không thuộc kinh Bát-nhă. Ai cũng nói ngày nào tôi cũng tụng đôi ba biến Bát-nhă, nhưng nếu có ai hỏi tự tánh Bát-nhă là ǵ th́ đều không biết ! Như vậy là miệng chỉ tụng mà tâm không thấy, không đạt được, thế nên Ngài mới nói: Ví như người nói ăn mà không no, nói tôi ăn bánh bao, tôi ăn bánh ḿ v.v... cả trăm thứ bánh nhưng rốt cuộc bụng vẫn đói meo ! Nói ăn chưa phải là ăn, ăn phải thực sự ăn, chỉ nói suông chưa đủ. Cũng thế, nếu chúng ta tu mà chỉ một bề đọc tụng, đó chỉ có giá trị bên ngoài, chớ chưa có giá trị thật ở trong, giá trị thật ở trong là giá trị chúng ta nhận được. Đức Phật v́ chúng ta chỉ cái chúng ta đă bỏ quên, nhân lời chỉ đó chúng ta nhận ra nó, đó là chúng ta biết tụng kinh để thấy tánh; trái lại chúng ta chỉ một bề đọc tụng cho hay, nhưng không nhận ra Phật muốn chỉ cái ǵ cho ḿnh, ví như người nói ăn mà bụng không no, thế nên Tổ mới bảo: “Miệng chỉ nói không, muôn kiếp chẳng thấy tánh”, như vậy trọn không có lợi ích. Người trí khác hơn người mê ở điểm: Lục Tổ nghe người tụng một câu, chỉ mới nghe thôi mà đă thấy, c̣n chúng ta hiện nay đích thân tụng mà vẫn không thấy ǵ cả. Đó là điểm khác nhau. Như vậy chúng ta phải cố gắng lắng nghe lời dạy của Tổ, để biết tinh thần tự tánh Bát-nhă ra sao, đó là cái chủ yếu mà Ngài cố dạy chúng ta trong phẩm này. Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia, nó phải là hành nơi tâm, không phải tụng ở miệng. Đại Trí Tuệ Đến Bờ Kia hay có chỗ cũng dịch là Trí tuệ cứu kính viên măn, trí tuệ đó phải nơi tâm ḿnh phát ra, phải ngộ lấy, chớ không phải tụng suông ngoài miệng, nếu cứ cho tụng suông là đủ, là chúng ta không hiểu được trí tuệ này, v́ trí tuệ này là trí tuệ của ḿnh nên cần phải hành ở tâm chớ không phải tụng ở miệng. Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn như hóa, như sương, như điện. Miệng niệm tâm hành ắt tâm và miệng hợp nhau, bản tánh là Phật, ĺa tánh không riêng có Phật. Câu này nhiều người dễ hiểu lầm. Lục Tổ dạy: “Miệng tụng mà tâm chẳng hành như huyễn, như hóa, như sương, như điện v.v...” Ư Ngài như thế nào ? Có phải tụng kinh Bát-nhă thấy các pháp như mộng, như huyễn, như sương v.v... phải không ? Hay là nghĩa như thế nào ? Đoạn này ư Ngài bảo: Chúng ta chỉ tụng suông ở miệng th́ việc đó chợt qua rồi mất cũng như huyễn, như hóa, như sương, như điện chớp chớ không có thật. Nếu chỉ tụng suông, khi tụng th́ c̣n nói Bát-nhă, dừng tụng th́ Bát-nhă mất, cũng như sương mù, điện chớp, chợt thấy rồi mất, không có thật. Thế nên chủ yếu Ngài khuyên chúng ta miệng tụng tâm phải hành, như thế tâm miệng tương ưng, tâm và miệng hợp nhau tự nhiên chúng ta sẽ thấy được Phật tánh, chính bản tánh ấy là Phật, ĺa bản tánh ra không c̣n có Phật nào khác. Sao gọi là Ma-ha ? Ma-ha là lớn, tâm lượng rộng lớn ví như hư không, không có bờ mé, cũng không có vuông tṛn lớn nhỏ, cũng không phải xanh vàng đỏ trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn, cũng không sân không hỉ, không phải không quấy, không thiện không ác, không có đầu đuôi, cơi nước chư Phật trọn đồng với hư không; diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể được, tự tánh chân không cũng lại như thế. Tôi giảng rơ lại một lần nữa, chữ Ma-ha nghĩa là lớn, v́ tâm lượng của chúng ta rộng lớn như hư không, tâm lượng đó gọi là tâm lượng Bát-nhă, rộng lớn không có bờ mé, không có các tướng vuông tṛn dài ngắn xanh vàng... cho đến không có những tâm niệm phải quấy, tốt xấu v.v… Tâm thể đó bao trùm tất cả cơi nước của chư Phật, giống như hư không; diệu tánh của người đời cũng vậy, vốn không một pháp có thể được, bởi không một pháp có thể được nên gọi là tự tánh chân không. Như vậy quí vị hiểu chữ Chân Không tôi đặt cho Tu viện chưa ? Chân không tức là cái thể thênh thang của Bát-nhă. Bát-nhă là trí tuệ, trí tuệ thênh thang không có bờ mé, không có giới hạn, không có một vật ở trong, chỉ là cái trí tuệ rộng thênh thang, trí tuệ đó gọi là chân không. Đó là chỗ mà Lục Tổ bảo là “Bản lai vô nhất vật” và do đó mà Ngài được vào cửa Thiền. Bản lai vô nhất vật là tinh thần của chân không, không có một vật, v́ thể đó thênh thang. Ví dụ như trong nhà thiền này, hiện chúng ta gồm cả trăm người tụ họp nơi đây, khi măn giờ giảng rồi nhà thiền này như thế nào ? Cả trăm người tụ hội th́ có tiếng ồn, khi tất cả ra khỏi nhà giảng th́ nhà giảng trống không. Trống không là không có người chớ không phải là không có nhà thiền, nhà thiền vẫn có, nhưng không có người, không có tiếng độïng lao xao nên nói nhà thiền trống. Cũng thế, hiện tâm chúng ta chứa đủ tham sân si nên thương buồn giận ghét v.v... luôn đầy ứ trong đó, do đó chưa bao giờ chúng ta thấy được cái thể rỗng lặng sáng suốt. Sở dĩ chúng ta tu là để loại những niệm tham sân si ra, khi chúng bị loại ra hết th́ chỉ c̣n một cái trí sáng ngời, đó gọi là chân không; cái không chân thật, không c̣n những niệm sanh diệt chứa trong đó. Vậy quí vị thử kiểm lại tâm ḿnh xem sao, nó là chân không hay nó quá đầy đến độ muốn tràn ra nữa ? V́ thế cả ngày chúng ta cứ mê muội theo những tướng sanh diệt, nó dẫn chúng ta chạy ngược chạy xuôi rồi buồn, thương, giận, ghét v.v... do đó mặt mày luôn thay đổi, không b́nh tĩnh, điềm đạm. Nay nếu tâm chúng ta loại hết những niệm đó th́ khi ấy tự nhiên là một tâm thể rỗng rang, và tâm thể rỗng rang này gọi là trí tuệ Bát-nhă, có chỗ khác gọi là chân tánh hay tự tánh. Quí vị thấy đâu có ǵ lạ, chính cái đó sẵn nơi ḿnh, chỉ v́ chúng ta không thấy được kho chứa mà chỉ thấy những hạt giống chứa trong kho, những hạt giống đó ra vào lăng xăng rồi chúng ta chạy theo chúng măi, nên quên mất cái kho sáng suốt rỗng rang của chính ḿnh. Khi nào tất cả quí vị không c̣n một niệm dấy lên, tôi xin hỏi quí vị lúc đó có tri, có giác hay không ? Tai có nghe, mắt có thấy hay không ? Tướng mạo của cái hay thấy hay nghe đó như thế nào ? Quí vị thử diễn tả xem ! Khi tất cả vọng tưởng lặng hết chỉ c̣n cái thấy cái nghe, nghĩa là cảm giác biết tất cả, nhưng không có một niệm nào, khi đó quí vị diễn tả thử xem cái thấy nghe đó tướng mạo ra sao. Nếu có tướng mạo th́ có giới hạn, không tướng mạo tức là vô hạn. Nói Đại là như thế, nó không có giới hạn, nó bao trùm tất cả, nhưng hiện nay nó bị khuôn, bị cuộc trong tứ đại này thành bị giới hạn; nếu một ngày nào chúng ta sống được với thể tánh đó, rời khỏi thân này th́ nó trùm cả tam giới. Đây giải nghĩa chữ Đại là như thế. Rộng lớn thênh thang là khi nào không c̣n một niệm duyên theo cảnh, chỉ có cái hằng thấy hằng nghe, hay nói gọn hơn là chỉ một tánh giác, đó mới là thênh thang, mới là rộng lớn. C̣n tất cả những niệm tưởng, dù là niệm tưởng hư không cũng có giới hạn. Chữ Đại là thoát ra ngoài tất cả những tướng trạng đối đăi, không c̣n đối đăi nữa th́ tướng mạo của tâm thể này hay của trí tuệ Bát-nhă là như thế. Nói thênh thang là để chúng ta thấy rơ nơi chúng ta có một cái rộng lớn thênh thang hằng tri hằng giác, mà chúng ta bỏ quên, rồi bám vào những tướng buồn vui, giận ghét, theo h́nh sắc, theo âm thanh cho đó là ḿnh, nên chúng ta bị quyện ở trong ấy, như những cọng cỏ bị cuốn trong bánh xe đang quay vùn vụt không gỡ ra được, cứ như thế mà trôi lăn trong sanh tử, lên xuống không có ngày cùng. Nay chúng ta biết gỡ ra, không kẹt vào đó nữa, tự nhiên tâm hồn ḿnh thênh thang. Đó là chỗ mà chư Phật, chư Tổ cố t́nh muốn chỉ cho chúng ta. Sống được với cái đó rồi, mới thấy nó là cái chân thật. V́ thế quí vị mới thấy rơ chủ trương của đạo Phật dạy chúng ta tu là phải định. Định là ǵ ? Tức là dừng các vọng tưởng lăng xăng, vui buồn giận ghét lao xao. Dừng được chúng rồi mới thấy tâm thể thênh thang, mới đi đến chỗ giác ngộ. Tất cả phương pháp, không phương pháp nào ngoài định; định là định những vọng tưởng lăng xăng, mà lâu nay chúng ta cứ chấp nhận là ḿnh, nên nó mới dẫn chúng ta chạy vùn vụt không phút nào ngừng, cả đến giờ nghỉ cũng không nghỉ, chạy riết đến nóng đầu, đó là tại chúng ta đă lầm nhận nó là ḿnh ! Như thế bao nhiêu phương pháp của Phật, Tổ dạy cốt để chúng ta dừng được vọng tưởng, dừng được rồi mới thấy tâm thể thênh thang của chính ḿnh, tâm thể thênh thang đó gọi là Ma-ha Bát-nhă. Như thế hàng ngày quí vị tụng ba biến, bảy biến Bát-nhă mà những chữ đầu có vẻ chưa thấm. Nếu chúng ta thấm các chữ đó rồi th́ tụng Bát-nhă là để chúng ta sống, chớ không phải tụng suông. Đa số người hiện nay cứ tụng suông, tụng rồi tíùnh biến để cộng sổ, kể công với Phật, mà không hiểu điểm quan trọng chính là phải sống trở lại trí tuệ của ḿnh. Chúng ta chỉ nhớ lời Phật dạy mà không biết trở lại cái thể chân thật của chính ḿnh nên mới lầm lẫn. Nhân giảng Bát-nhă tôi mới nói cho quí vị biết ư nghĩa chữ Chân Không tên của Tu viện chúng tôi. Chính chỗ mà đức Lục Tổ chỉ, chỗ không có một vật, vốn không một pháp có thể được, chỗ đó mới gọi là tự tánh chân không, tức là tánh của chính ḿnh, thật là rỗng rang không c̣n một cái ǵ trong đó. Này Thiện tri thức, chớ nghe tôi nói Không liền chấp không, thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa, đó tức là chấp vô kư không. Ngài dạy đừng có nghe Ngài nói không rồi chấp không, như chấp chân không là không có ǵ cả, nếu cho thật không có ǵ cả là lầm. Không có tất cả những vọng tưởng lăng xăng, chớ cái rỗng rang chân thật đâu phải không, cũng như tôi đă thí dụ không có người lao xao trong nhà thiền, chớ không phải cái nhà là không. Nhiều khi chúng ta hiểu lầm nghe nói không là bám vào không, nói là không ngơ rồi nghĩ tu đến chỗ không ngơ đó làm chi. Thế nên chấp không là một bệnh, Lục Tổ mới bảo: “Thứ nhất là không nên chấp không, nếu để tâm không ngồi tĩnh tọa đó là chấp vô kư không.” Có người v́ nghe nói giữ tâm ḿnh cho đừng xao xuyến, đừng loạn động, cho nó không ngơ mới đúng, nên khi ngồi để tâm không ngơ, nghĩa là không cho nó có ǵ hết, như vậy đúng không ? Đó là vô kư không, cái không mà không biết ǵ cả. Trái lại người biết tu, khi không có vọng niệm th́ cái thể tri giác tràn đầy. Cũng như nghe tôi nói trong nhà thiền không có người, quí vị biết đây là nhà thiền trống. Nhà thiền trống chớ không phải không có nhà thiền. Tôi nói trong nhà thiền không có người th́ đừng chấp là không có nhà thiền, không là không người, chớ không phải là không có nhà thiền. Cũng thế không có những tâm loạn tưởng, chớ không phải không có trí Bát-nhă thênh thang. Hiểu như vậy th́ khi chúng ta lặng hết những vọng tưởng tức trí Bát-nhă thênh thang hiện tiền, hằng nghe, hằng thấy, như thế làm sao nói là không. Thế mà có nhiều người đọc kinh Pháp Bảo Đàn đến đoạn này th́ sợ, nói rằng: Thầy dạy con buông xả, đừng để tâm theo vọng tưởng, măi rồi nó im ĺm, nó không ngơ th́ lúc đó lạc vào chỗ chấp vô kư không của Lục Tổ nói rồi ! Đó là đa số người đă lầm lẫn. Thật ra chúng ta nói không và người không biết mà nói không, hai bên khác nhau. Người không biết khi nói không là để không ngơ luôn không biết chi cả; c̣n chúng ta nói không vọng tưởng, khi vọng tưởng lặng cái tri giác hay cái hằng tri hằng giác đó hằng nghe hằng thấy. Tôi thường chỉ quí vị tuy không có vọng tưởng, nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, tất cả giác quan đều có biết th́ làm sao nói không được. Không là không vọng tưởng chớ cái hằng giác đó đâu có không, như thế đâu có rơi vào “vô kư không” như Lục Tổ nói. Hiểu thật rơ, quí vị mới không bị lầm. Thế nên người tu chỉ nhích một tí là sai, khéo một chút là đúng. Tôi thường nhắc quí vị lời dạy của ngài Huyền Giác: “tỉnh tỉnh lặng lặng phải” và “lặng lặng tỉnh tỉnh phải”, lặng lặng là không nhưng hằng tỉnh tỉnh, chớ không phải là không ngơ. Trái lại “tỉnh tỉnh loạn tưởng sai” và “lặng lặng hôn trầm sai”. Thế nên chúng ta phải thấy rơ lặng trong cái tỉnh, tỉnh trong cái lặng th́ phải. Nếu tỉnh mà loạn th́ sai, khi ngồi tỉnh táo mà nghĩ đủ chuyện th́ đó là bệnh. Nếu lặng lặng mà vẫn tỉnh vẫn sáng th́ đúng, nếu lặng lặng mà hôn trầm, gật lên gật xuống là sai. Quí vị nhớ đó là một công thức rơ ràng trong khi tu để biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Có nhiều người ngồi gật lên gật xuống, nói: “Hôm nay tôi ngồi không có chút vọng tưởng nào”, ngồi ngủ th́ làm sao có vọng tưởng. Có người nói: “Tôi ngồi tỉnh táo” mà thật là nghĩ nhớ đủ chuyện, như thế cả hai đều sai. Phải tỉnh mà lặng, lặng mà tỉnh mới đúng, chớ lặng mà thiếu tỉnh, tỉnh mà thiếu lặng đều là sai. Quí vị phải nhớ lặng là không, tỉnh là hằng giác, như thế luôn luôn cạnh cái không có cái giác chớ không phải là không ngơ, nên không lạc vào vô kư không. Những người không biết, ngồi để tâm không ngơ, đâu biết thế nào là tỉnh, thế nào là lặng nên rơi vào vô kư không, đó là do không biết được cái tỉnh trong cái không; trái lại chúng ta không mà tỉnh, chớ không phải chỉ có lặng, đó là yếu điểm của sự tu. Này Thiện tri thức, thế giới hư không hay bao hàm vạn vật sắc tượng, mặt trời, mặt trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối khe, cỏ cây rừng rậm, người lành người dữ, pháp lành pháp dữ, thiên đường địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di, thảy ở trong hư không. Tánh không của người đời cũng lại như thế. Trong đoạn này, Ngài dùng hư không để ví dụ cho tánh không của chúng ta, hư không bao trùm tất cả thế giới, người vật v.v... đều nằm trong hư không. Có thế giới nào không nằm trong hư không ? Có vật nào không nằm trong hư không ? Như vậy hư không bao trùm muôn tượng, muôn tượng đều nằm trong hư không. Lục Tổ bảo tâm tánh chúng ta khi rỗng lặng cũng như thế, rộng như hư không nên nói tâm như hư không. Như hư không chớ không phải là hư không, nhớ như thế. Hư không vô tri c̣n chúng ta hằng giác, như là như cái thể rỗng rang rộng lớn đó, nhưng một bên vô tri, một bên hằng giác nên khác nhau. Nhiều người không hiểu nghe nói tâm như hư không, họ tưởng tu rồi tâm thành hư không, đó là sự lầm lẫn của một số học giả, họ cho Niết-bàn là chỗ không ngơ. Đă không ngơ th́ tu làm chi ? Thế nên phải biết rơ tất cả sự tu hành chủ yếu là đến chỗ rỗng lặng đó, nó có diệu dụng ǵ chúng ta mới muốn đến đó, chớ thành không ngơ th́ đến làm chi ? Này Thiện tri thức, tự tánh hay bao hàm muôn pháp ấy là Đại. Muôn pháp ở trong tự tánh của mọi người, nếu thấy tất cả người ác cùng với lành, trọn đều không chấp không bỏ, cũng không nhiễm trước, tâm cũng như hư không, gọi đó là Đại, nên nói là Ma-ha. Đoạn trước Ngài diễn tả thể đại của tâm, của Bát-nhă, đoạn này Ngài chỉ chúng ta cách được thể đại đó, tức là Ngài dạy chúng ta tu. Trước hết Ngài bảo tự tánh của chúng ta bao hàm muôn pháp, nó trùm tất cả. Tất cả muôn pháp đều ở trong tự tánh; muốn được tánh rỗng rang đó chúng ta phải làm sao. Phải thấy tất cả người ác, người lành đều không thủ, không xả, cũng không nhiễm trước, tâm như hư không, đó là Đại. Như thế là được cái tánh rỗng rang đó. Chúng ta được như thế không ? Thấy người ác th́ giận, thấy người hiền th́ thương, b́nh thường mọi người đều như vậy. Thấy tốt th́ thích, thấy xấu th́ chê, v́ thế mới có nhiễm, có trước, nên tâm ḿnh luôn luôn có chớ không thể không. Trái lại, nếu thấy tất cả việc đó mà không dính, không nhiễm, tâm rỗng rang như hư không là được tánh như hư không. Dễ hay khó ? Quí vị chỉ cần thấy được tất cả mà tâm vẫn như hư không th́ tâm đó rỗng rang, c̣n nếu thấy mà có thêm điều ǵ như yêu ghét v.v... th́ nó hết rỗng rang, tức là nó cuốn theo h́nh ảnh ḿnh thấy. Đó là Tổ dạy chúng ta tu một cách hết sức đơn giản, như vậy lúc nào chúng ta cũng tu được, đi đâu, đối tiếp ai... nếu muốn được tâm thênh thang th́ phải như thế. Nếu kẹt vào bất cứ một cái nào là mất thênh thang, đó là chỗ ứng dụng tu rất rơ ràng. Nhiều khi đọc qua chúng ta không thấy Tổ dạy tu, nhưng khi nghiên cứu kỹ mới thấy Ngài dạy rất rơ. Vậy muốn được cái tánh rỗng rang đó th́, khi thấy tất cả người thiện ác, tốt xấu v.v... chúng ta đừng thủ, đừng xả, không nhiễm trước th́ lúc đó tâm ḿnh đồng với hư không, thể tâm đồng với hư không, thể đó là thể đại nên gọi là Ma-ha. Thể đại của tâm ḿnh, thể đại của Bát-nhă thênh thang như hư không, nó không tướng mạo, nó trùm hết muôn pháp. Muốn được cái thể đó th́ phải tu thế nào ? Đối với tất cả việc tốt xấu, phải quấy của người, chúng ta đừng nhiễm, đừng dính mắc. Như thế là Đại, là Ma-ha. Mỗi khi tụng Ma-ha Bát-nhă th́ quí vị phải nhớ như vậy, chớ không phải cứ đọc suông là đủ. Này Thiện tri thức, người mê miệng nói, người trí tâm hành. Người mê chỉ nói suông ngoài miệng, c̣n người trí hành ở trong tâm. Người mê đi đâu cũng nói Bát-nhă, cũng tụng làu làu Bát-nhă ở ngoài miệng, c̣n người trí không nói một câu Bát-nhă nào nhưng gặp duyên, gặp cảnh th́ không chạy theo, như thế trong hai người, người nào tu thật ? Một người gặp việc ǵ cũng nói đó là không, là hư dối, không thật, chỉ nói suông thôi, nhưng tâm vẫn duyên theo; c̣n một người hằng thấy, hằng biết, tâm không duyên với cảnh th́ đó gọi là hành trong tâm. Thế nên tụng ở ngoài miệng với hành trong tâm là hai việc khác nhau. Hiện nay, đa số người tu chúng ta thích tụng ngoài miệng hơn hành trong tâm. Kinh nào cũng thuộc làu... rồi lấy đó làm sự nghiệp ! Tụng cho ḿnh, tụng luôn cả cho người, độï người cũng bằng tụng, như vậy cho là tu Bát-nhă ! V́ thế chúng ta phải hiểu rơ chân tinh thần của đạo Phật là phải tỉnh giác, tỉnh giác cái chân thật của chính ḿnh. Nghe kinh để biết điều đúng sai, tà chánh, bỏ những cái sai, cái tà, trở về cái chánh, cái đúng, như thế mới là học đạo, chớ không phải chúng ta học thuộc ḷng để nói nhiều, tụng nhiều, căn bản là chúng ta phải hành ở trong tâm, thế mới gọi là người trí biết tu. Lại có người mê, để tâm rỗng không ngồi tĩnh tọa, trăm việc không cho nghĩ tự gọi là đại, một bọn người này không nên cùng họ nói chuyện v́ là tà kiến. Tổ quở nặng những người nói để tâm rỗng không, không cho nghĩ ǵ cả, đó gọi là đại, bọn người này không nên cùng họ nói chuyện, v́ sao ? V́ họ rơi vào tà kiến. Tâm không ngơ là vô kư không. V́ những người này không biết vọng lặng th́ chân hiện, họ chỉ biết cái vọng thôi mà không biết cái chân, như vậy là tà, tức là nh́n lệch; chỉ để tâm không ngơ tức nhiên rơi vào không, mà rơi vào không, không phải tà kiến là ǵ ? Chúng ta ngồi thiền trăm vật có nghĩ không ? Có niệm ǵ không ? Có hai lối niệm: cái niệm dấy lên từng câu, từng lời là cái niệm động, c̣n cái niệm hằng nhớ tánh giác của ḿnh, biết ḿnh có tánh giác, hằng sống với cái tỉnh giác đó th́ niệm đó là niệm tỉnh, nên gọi là niệm chân như. Niệm là nhớ, hằng nhớ tánh giác, không chạy theo vọng tưởng, như vậy đâu phải chúng ta không nghĩ. Tổ Qui Sơn có nói “Tư lương phi tư lương xứ”, nghĩa là suy nghĩ chỗ không suy nghĩ, tức là hằng nhớ chỗ không suy nghĩ, chớ không phải là không ngơ. Như vậy mới hằng giác, chính đó gọi là “nhất niệm vạn niên”, là một niệm muôn năm. Bởi v́ nhớ là tỉnh, quên th́ mê, quí vị ngồi một lúc mà quên không biết ḿnh làm ǵ th́ khi đó muốn gục, hoặc bị dẫn đi chỗ khác. Thế nên ḿnh hằng tỉnh hằng giác, hằng nhớ ḿnh đang sống bằng tánh giác, chớ không phải là không nhớ, không nghĩ. C̣n người nói ngồi không nghĩ ǵ hết th́ họ rơi vào không ngơ, như vậy không phải tà kiến là ǵ ? Thế nên đoạn này không giản trạch khéo một chút, th́ người đọc kinh Pháp Bảo Đàn dễ lầm. Quí vị thấy nói để tâm trống không là đúng th́ bị Tổ quở nặng, đám người đó không nên nói chuyện với họ, v́ đó là tà kiến. Chúng ta không nghĩ tới một vật ǵ ở ngoài, nhưng hằng nhớ chân như hằng nhớ tánh giác, hằng nhớ nên mới tỉnh, chớ c̣n quên th́ mê rồi. Hằng nhớ tánh giác, nhớ mà không t́m, tỉnh giác mà không t́m nó, t́m nó là sai, chỗ này thật khó nói, nhưng phải hiểu thật rơ mới không lầm. Nếu chúng ta cứ đè, không cho nó nghĩ ǵ cả, mà nói là Đại, nên bị Tổ quở là tà kiến. Này Thiện tri thức, tâm lượng rộng lớn khắp giáp cả pháp giới, dụng tức rơ ràng, phân minh ứng dụng liền biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, đi lại tự do, tâm thể không bị ngăn ngại tức là Bát-nhă. Ngài chỉ cho chúng ta thấy tâm lượng rộng thênh thang đó nếu dụng tức liễu liễu thường tri, nếu dùng th́ hằng tri hằng giác chớ không phải không ngơ, rơ ràng ứng dụng chớ không phải là không biết, nghe vẫn hằng nghe, thấy vẫn hằng thấy, đó gọi là liễu liễu thường tri. Biết tất cả, tất cả tức một, một tức tất cả, tâm thể đó thênh thang nên bao trùm tất cả. Như tôi nói tất cả núi sông, cây cối, muôn vật đều nằm trong hư không. Đứng về tất cả cây cối núi rừng v.v... th́ rất là nhiều, nhưng đứng về hư không th́ không nhiều. Hư không chỉ có một mà trùm tất cả muôn vật, nên một là tất cả; tất cả cây cối núi rừng đều không ngoài hư không, nên tất cả là một. Cũng như vậy, muôn pháp không rời tự tánh, th́ đó là tất cả là một, tự tánh tức là tâm tánh ḿnh, tất cả không rời tâm tánh ḿnh nên nói tất cả là một. Tâm tánh ḿnh bao trùm tất cả, nên nói một là tất cả. Chúng ta nói hư không bao trùm vạn tượng, điều đó ai cũng hiểu, nhưng nói tâm ḿnh bao trùm muôn vật th́ ai hiểu nổi ? Nói bao trùm, đừng hiểu nó bao trùm tất cả những hiện tượng. Muôn vật có tên là từ đâu mà ra ? Muôn vật thành vật này vật vật kia... thành muôn vật là do tâm, như vậy tâm không trùm muôn vật là ǵ ? Nếu không có tâm th́ muôn vật có tên muôn vật hay không ? Nếu không có tâm th́ đâu gọi đây là bàn, đây là ly, đây là đồng hồ v.v... Không có tất cả tên đó, th́ muôn vật không thành muôn vật. Tâm trùm muôn vật, muôn vật từ tâm mà ra, điều đó rất là rơ ràng. Tỉ dụ nơi đây chúng ta có cả trăm người, mỗi người có mỗi tên khác nhau, nên nói cả trăm người khác nhau. Tên khác nhau là từ đâu có ? Rơ ràng là từ tâm dấy niệm của cha mẹ hoặc Thầy Tổ ban cho ḿnh một cái danh thành mỗi người khác biệt nhau. Như vậy sự khác biệt đó là do tâm khởi, nếu tâm không khởi th́ chắc gặp nhau chúng ta không biết chào gọi nhau bằng ǵ. Như vậy muôn pháp có là từ tâm. Đa số người không hiểu cứ nghĩ muôn pháp có là từ tâm ḿnh biến ra, biến cái này nó nhảy ra cái này, biến cái kia nó nhảy ra cái kia, nhưng không ngờ chính v́ tâm mới có tên muôn pháp. Nếu không tâm th́ đâu có tên muôn pháp. Muôn pháp không có tên th́ đâu thành muôn pháp. Thế nên nói tâm trùm muôn pháp là vậy. Đă trùm muôn pháp th́ tâm đó rộng lớn, khắp giáp, nó hằng liễu tri nên khi ứng dụng th́ biết tất cả, bởi v́ nó an danh tất cả mà không biết tất cả sao được ? Tất cả tên là một tâm đặt, nói một tâm, quí vị đừng hiểu là một người, tâm tôi, tâm quí vị cũng là tâm thôi, chúng ta an danh cho mọi sự vật là tâm của chúng ta, mà tâm th́ đâu có hai. Muôn vật từ tâm mà có tên nên nói tất cả là một; từ tâm đó mà có tên muôn vật nên một là tất cả. Như vậy nh́n hai mặt: một là tất cả là từ tâm mà đặt muôn tên khác nhau; tất cả là một v́ tất cả đều gốc từ tâm mà có. Lại tới lui được tự do, không có ǵ ngăn trở, đó là Bát-nhă. Như vậy Bát-nhă là thênh thang nhưng hằng tri hằng giác, chớ không phải thênh thang như hư không rỗng, không biết ǵ cả. Cái thể đó, nếu tế nhị một chút là thấy rơ, nhất là khi ngồi thiền, có những phút giây không có một niệm ǵ, xem như tâm ḿnh trống rỗng, nhưng khi ấy mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, ḿnh vẫn biết, như vậy là hằng tri, hằng giác mà trống rỗng, không phải Bát-nhă là ǵ ? Ai không có cái đó ? Chính sống được với cái đó là trở về tâm Phật của ḿnh. Trái lại, nếu không sống với cái đó mà sống với những buồn thương giận ghét là trở về tâm chúng sanh, tâm tạo nghiệp. Như vậy ai sống với những buồn thương giận ghét hàng ngày, đó là người sống với tâm chúng sanh, c̣n ai biết buông xả, sống với tâm rỗng rang hằng tri hằng giác không một niệm thương ghét chen lẫn vào, đó là sống với tâm Phật. Thật là rất gần ! Nơi ḿnh có sẵn một kho báu mà không biết dùng. Nếu người có kho báu nhưng không biết dùng, lại than nghèo than khổ th́ có đáng thương không ? Có mà không biết dùng rồi than trời trách đất, thật là đáng thương. V́ họ không biết dùng nên mới khổ, chúng ta thấy cái khổ đó thật đáng thương, v́ vậy đức Phật mới bốn mươi chín năm thuyết pháp độ sanh, nhưng có độ chi đâu. Ngài có cho chúng ta chi đâu mà gọi là độ, Ngài chỉ cho chúng ta biết chúng ta có cái đó, sống trở về với cái đó th́ hoàn toàn hết khổ, trái lại không sống với cái đó th́ khổ không biết chừng nào dứt. Này Thiện tri thức, tất cả trí Bát-nhă đều từ tự tánh sanh, chẳng từ bên ngoài vào, chớ lầm dụng ư nên gọi là chân tánh tự dụng. Ngài chỉ thật là xác đáng. Ngài bảo: Tất cả trí Bát-nhă đều từ nơi tự tánh của ḿnh, không phải từ ngoài vào, chớ lầm dụng ư. Như có nhiều người tu cứ mong thành Phật, hoặc mong Phật đến ấn chứng, như vậy là trông ra ngoài, nhưng cái đó đâu phải từ ngoài đến, nó sẵn nơi ḿnh, có ở đâu xa mà t́m mà cầu ? Nếu t́m cầu ở ngoài đó là lầm dụng ư. Ngược lại là chân tánh tự dụng, khéo như vậy th́ tánh chân thật của ḿnh tự ḿnh dùng thôi. Một chân th́ tất cả chân, tâm lượng rộâng lớn không đi theo con đường nhỏ, miệng chớ trọn ngày nói Không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, giống như người phàm tự xưng là quốc vương, trọn không thể được, không phải là đệ tử của ta. Có người trọn ngày nói không mà trong tâm chẳng không, tỉ dụ như đă xuất gia rồi nhưng ai làm buồn ḷng một chút liền mắng chửi người, khi ấy nếu có người khác quở tại sao tu mà ác khẩu, tạo nghiệp, th́ nói ác khẩu có thật không ? Nghiệp có thật không ? Như vậy là nói không mà tâm chẳng không. Nếu không th́ đâu có giận, mắng chửi người, nếu giận mắng chửi người th́ tâm chưa không. Tâm chẳng không mà miệng nói không, th́ không xứng đáng là đệ tử của Tổ, huống chi là của Phật. Ai lỡ có bệnh đó th́ nhớ, Tổ không chấp nhận làm đệ tử của Ngài, c̣n đứng ngoài xa chớ chưa bước vào chùa, người như vậy là người nói rỗng không có thực hành. Thế nên chúng ta phải hiểu cho thật rơ, khi lỡ có sân si nếu có ai hỏi tại sao tu mà c̣n sân si, th́ nói tại tôi c̣n dở, tại tập khí lâu đời, như vậy là người tốt. Nếu nghe hỏi tại sao sân si, liền hỏi lại sân si có thật không, th́ kẻ đó đáng ăn đ̣n, không xứng đáng là đệ tử của Phật. Tôi giản trạch để quí vị đừng hiểu lầm, khi nghe nói như trên th́ vội cho người ấy rất hay, rất hiểu đạo. Nếu c̣n sân si là chưa hiểu đạo và nói như thế là nói để che lỗi, kẻ đó là kẻ đáng tội. Hiểu như thế, quí vị mới thấy chỗ tu chân thật, nên Tổ ví dụ như kẻ thường dân mà xưng là quốc vương. Có ổån không ? Thế nào cũng bị ngồi khám, hoặc bị đứt đầu. Cũng như tâm th́ có mà miệng nói không, có ngày phải đền tội, v́ vậy Ngài bảo không phải là đệ tử của ta. Này Thiện tri thức, sao gọi là Bát-nhă ? Bát-nhă, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường hành trí tuệ tức là Bát-nhă hạnh. Ngài dạy Bát-nhă là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Tất cả chỗ như ở chùa, ra xóm, đến chợ..., tất cả thời là sáng trưa chiều... lúc nào cũng vậy, mỗi niệm đều không ngu. Thế nào là mỗi niệm ngu, thế nào là mỗi niệm không ngu ? Tỉ dụ chúng ta đang đi trên đường, bất chợt nghe trong nhà có hai người đang căi nhau, chúng ta dừng lại nghe xem ai phải ai quấy. Niệm dừng lại nghe ai phải ai quấy là niệm ǵ ? Là niệm ngu, tức là chạy theo cảnh th́ niệm đó gọi là niệm ngu. Trái lại nếu hằng sống với trí tuệ, không theo, không dính với bất cứ điều ǵ, đó là không ngu. Thường hành trí tuệ là hành cái trí không bị kẹt, bị dính nơi mọi cảnh. Đó là chỗ tôi hay nhắc quí vị. Hoặc nghe tiếng nói, hoặc thấy h́nh sắc liền phân biệt hay dở, tốt xấu v.v... đó là người ngu, mải đuổi theo ngoại cảnh nên làm mờ mắt trí tuệ Bát-nhă. Niệm niệm không ngu là hằng không dấy niệm đuổi theo ngoại cảnh, lúc nào cũng hằng tỉnh, hằng giác, người được như vậy tức là đă hành Bát-nhă. Một niệm ngu tức Bát-nhă bặt, một niệm trí tức Bát-nhă sanh. Như vừa rồi tôi nói, nếu chúng ta thấy vật ǵ liền cho là đẹp, đó là niệïm ngu. Ngu th́ khi ấy có Bát-nhă không ? Bát-nhă là thấy các pháp như huyễn, nếu thấy vật đẹp th́ vật là thật nên ngu, tức mất Bát-nhă. Trái lại, vừa thấy một vật ǵ liền biết đó là tướng duyên hợp không thật, v́ biết không thật nên tâm không dính mắc th́ Bát-nhă sanh. Thế nên niệm ngu th́ Bát-nhă tuyệt, niệm trí là Bát-nhă sanh. Tôi giảng cho quí vị thấy cái ngu, cái trí. Thấy người, thấy vật, duyên theo để phân biệt đẹp xấu hoặc khen chê, đó là niệm ngu; thấy người thấy vật mà khởi quán các pháp, người vật đều duyên hợp không thật, đó là niệm trí. Niệm ngu th́ bị tham sân si dẫn, niệm trí th́ tâm an, biết là huyễn tức nhiên tâm lặng, tức là sống với trí tuệ Bát-nhă. Hai niệm đó, có niệm này là mất niệm kia. Niệm trí là chúng ta thắp đèn, đốt đuốc, niệm ngu là chúng ta đi trong đêm không đèn, không đuốc để rồi phải đau khổ. Quí vị thử nghiệm xem ! Thấy người, thấy vật nhưng luôn luôn sống với niệm trí th́ có đau khổ không ? Hẳn là không. Như vậy rơ ràng khổ hay hết khổ là do ḿnh sống với trí hay với ngu. Ngu là vô minh, nó dẫn chúng ta đi trong chốn khổ đau, trầm luân sanh tử. C̣n niệm trí là trí tuệ để giác ngộ thành Phật. Như vậy sự tu hành thật là cụ thể. Nếu đối duyên, đối cảnh chúng ta luôn luôn sống với niệm trí th́ chúng ta giải thoát sanh tử; trái lại đối duyên đối cảnh chúng ta sống với niệm ngu th́ chúng ta luân hồi không cùng. Quí vị thử tập xem, kể từ nay rán sống với niệm trí, làm sao trong mười hai giờ ít ra cũng được sáu giờ trí, nếu không có lời, ít ra cũng đừng lỗ. Nhưng hiện nay quí vị đă sống được mấy giờ trí ? Thử kiểm lại xem ! Được bao nhiêu ? Trong mười hai giờ chỉ sống được một giờ rưỡi, chưa đủ cái lẻ nữa th́ biết rằng đó là ánh sáng đom đóm. Đêm ba mươi có ánh sáng đom đóm nên khó tránh khỏi hầm hố. V́ thế chúng ta tu là hiểu cho rơ lời Phật Tổ dạy và hiểu cho rơ điều ḿnh đang hành, biết ḿnh như thế nào, không cần phải t́m hỏi ḿnh có căn tu hay không. Tóm lại Tổ dạy rất rơ ràng: một niệm ngu th́ Bát-nhă bặt, một niệm trí th́ Bát-nhă sanh, một giờ chúng ta ngu th́ giờ đó không có Bát-nhă, giờ đó là vô minh; c̣n một giờ chúng ta trí th́ đó là giờ Bát-nhă, giờ sáng suốt. Như vậy người nào sống trong tỉnh nhiều hơn mê th́ bảo đảm ngày ra đi sẽ đi vào con đường của Thánh Hiền, c̣n người nào sống với mê nhiều hơn trí, chắc chắn người đó sẽ đi vào lục đạo, hoặc ba đường trên thiên, nhân, a-tu-la, hoặc ba đường dưới địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Quí vị hăy tự xét là biết, ḿnh tu ḿnh phải tự giác, tự tri, không cần phải hỏi ai cả. Lại ngu có nghĩa là theo cảnh, trí có nghĩa là ĺa cảnh. Một niệm tâm theo cảnh là ngu, một niệm tâm ĺa cảnh là trí. Trong bốn oai nghi hằng ĺa cảnh đó là hằng sốâng với trí tuệ Bát-nhă. Người đời ngu mê không thấy Bát-nhă, miệng nói Bát-nhă mà trong tâm thường ngu. Miệng nói vật này không thật, vật kia không thật, nhưng gặp vật ǵ cũng duyên theo, đó là nói Bát-nhă mà trong tâm thường ngu. Có người khi lư luận nói cái ǵ cũng không thật, nói nghe thật hay, nhưng gặp cảnh gặp duyên th́ đuổi theo, đó là người ngu, miệng nói Bát-nhă mà tâm thường ngu. Thường tự nói ta tu Bát-nhă, niệm niệm nói không nhưng không biết được chân không. Miệng luôn luôn nói không nhưng thật không biết được chân không. Chân không là không có một niệm, một pháp nào chứa chấp ở trong, chỉ có cái hằng tri hằng giác. Như vậy quí vị từ nay vừa bước đến cổng “Chân Không” phải nhớ chỗ đó, biết ḿnh phải sống với chân không. Bát-nhă không có h́nh tướng, tâm trí tuệ ấy vậy. Trí tuệ Bát-nhă không có tướng mạo, nó là tâm trí tuệ tức là cái tâm hằng sáng hằng giác chớ không có ǵ lạ, nên nói Bát-nhă chỉ là tâm trí tuệ hằng giác của chúng ta. Nếu khởi hiểu như thế tức gọi là Bát-nhă trí. Thường chữ trí tuệ là dịch hai chữ Bát-nhă. Tại sao lại c̣n nói Bát-nhă trí ? Nếu nói trí tuệ e có sự lầm lẫn v́ người đời nếu khôn ngoan một chút th́ nói là người có trí tuệ, thành ra trí tuệ của người đời là trí tuệ sắp đặt công ăn việc làm hoặc là trí tuệ tính toán lấn hiếp người... Trí tuệ Bát-nhă là trí tuệ thấy rơ cái chân thật của tự tâm, biết rơ tự tâm ḿnh cái nào là hư giả, cái nào là chân thật, biết rơ tự tánh của các pháp, biết các pháp do duyên hợp không thật, tánh là không. V́ thế để tránh sự hiểu lầm, chữ Bát-nhă phải dịch đủ là Trí tuệ Bát-nhă. Sao gọi là Ba-la-mật ? Đây là lời nói của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là đến bờ kia, giải nghĩa là ĺa sanh diệt. Tôi nhắc lại một lần nữa cho quí vị nhớ, những chữ Phạn mà chúng ta thường tụng: “Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật”. Ma-ha là lớn, là thênh thang, chỉ cho tâm thể chúng ta khi không c̣n một niệm nào dấy khởi. Bát-nhă là trí tuệ, cái trí tuệ không bị các pháp làm nhiễm, làm chướng tức là đối với tất cả pháp luôn hằng giác hằng tri nhưng không dính mắc. Ba-la-mật là đến bờ kia, bờ kia là bờ Niết-bàn. Đến bờ kia là đến được bờ Niết-bàn. Bờ Niết-bàn là bờ không sanh diệt, thế nên nói bên này là bờ sanh tử, bên kia là bờ Niết-bàn. Sanh tử là sanh diệt. Niết-bàn là không sanh diệt, nên đến bờ kia dịch nghĩa là ĺa được sự sanh diệt. Chấp cảnh th́ sanh diệt khởi như nước có sóng ṃi, tức gọi là bờ này, ĺa cảnh th́ không sanh diệt như nước thường thông lưu, ấy gọi là bờ kia, nên gọi là Ba-la-mật. Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp tu thật là rơ. Thế nào là sanh diệt ? Thế nào là ĺa sanh diệt ? Vừa chấp cảnh th́ tâm sanh diệt khởi. Chấp cảnh là thế nào ? Tỉ dụ thấy người liền chấp người đẹp xấu, hay dở, phải quấy v.v... đó là chấp cảnh; hoặc thấy vật cũng chấp là đẹp xấu... đó cũng là chấp cảnh. Vừa chấp đẹp xấu th́ niệm thương ghét dấy lên, gọi là tâm sanh diệt. Thế nên nói chấp cảnh th́ sanh diệt khởi, ví dụ như mặt nước bằng mà có gió. Chấp cảnh dụ như gió. Mặt biển nguyên bằng phẳng, vừa có gió thổi là sóng lớn, sóng nhỏ nổi lên. Sóng lớn sóng nhỏ nổi lên dụ cho sanh diệt. Vừa chấp cảnh th́ tâm sanh diệt khởi. Trái lại ĺa cảnh th́ không sanh diệt, như nước thường thông lưu, ĺa cảnh tức là thấy cảnh, thấy người, thấy vật nhưng không có niệm phân tích đẹp xấu... Thấy nghe nhưng không bị dính gọi là ĺa. Ĺa cảnh th́ tâm sanh diệt không khởi, dụ như nước không có sóng, nhưng vẫn hằng trôi, hằng chảy. Cũng như vậy, chúng ta không chấp cảnh, tâm sanh diệt không khởi, nhưng hằng tri giác chớ không phải không tri không giác, đó gọi là “Ba-la-mật”. Tóm lại, “Ma-ha” là lớn, “Bát-nhă” là trí tuệ. Tâm thể hay tự tánh của chúng ta thênh thang, không tướng mạo, nhưng hằng tri hằng giác không dính với cảnh gọi là trí tuệ, là Bát-nhă. Ba-la-mật là đến chỗ không sanh diệt. Tại sao gọi là không sanh không diệt ? Bởi v́ vừa dính với cảnh th́ tâm niệm sanh diệt dấy lên, c̣n đối cảnh mà không dính đó là ĺa được sanh diệt. “Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật” từ đâu mà có ? Có sẵn nơi chúng ta. Do đâu mà được? Do biết ĺa cảnh, đối cảnh không chấp. Nếu người nào đối cảnh mà chấp đó là mất. Vậy mỗi khi chúng ta khởi xướng “Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật” đừng lắng nghe lời người này hay, lời người kia dở, nên nhớ rơ rằng “Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật” là cái để ḿnh hằng sống, đó là ḿnh biết tu. Này Thiệân tri thức, người mê miệng tụng, chính khi đang tụng mà có vọng có quấy; niệm niệm nếu hành Bát-nhă, ấy gọi là chân tánh. Người ngộ được pháp này, ấy là pháp Bát-nhă; người tu hạnh này, ấy là hạnh Bát-nhă. Không tu tức là phàm, một niệm tu hành tự thân đồng với Phật. Giống như chúng ta hiện nay, chính trong khi đang tụng mà đă có vọng tưởng, có những niệm sai quấy. Ngài nói thẳng người không tu theo Bát-nhă là phàm, c̣n một niệm tu hành th́ một niệm đó đồng với Phật. Phật là giác, một niệm tu Bát-nhă tức là một niệm giác, một niệm giác tức là đồng với Phật, đồng một niệm chớ không phải đồng suốt đời. Tổ muốn phá mặc cảm của chúng ta. Chúng ta cho Phật với ḿnh cách biệt rất xa nên Ngài muốn chỉ Phật với chúng ta không cách xa, chỉ mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng mê ngộ chia nhiều phần, ngộ toàn phần hay ngộ một cách viên măn, khác với ngộ từng ly từng tí. Trong một giờ đồng hồ tức trong sáu mươi phút, chúng ta không được trọn sáu mươi phút nhưng được một phút bằng với Phật th́ cũng bằng được một phút. Nếu hiện đời chúng ta chưa hẳn là giác, nhưng được một niệm giác th́ niệm đó chúng ta cũng bằng với Phật. Như vậy chúng ta thấy tại chúng ta không ưng làm Phật, chớ Phật đâu có cấm chúng ta làm Phật. Có ai ngăn trở quí vị làm Phật không ? Không một ai, kể cả Phật cũng không ngăn trở, nên Ngài mới nói Ngài là “Vô thượng giác” tức là người giác mà không ai trên, chớ không phải không ai bằng, nếu ai ưng giác như Ngài th́ bằng Ngài ! Này Thiện tri thức, phàm phu tức Phật, phiền năo tức Bồ-đề. Niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền năo, niệm sau ĺa cảnh tức Bồ-đề. Thật là hay ! Lục Tổ dạy thẳng tắt vô cùng. Ngài chỉ cho chúng ta thấy phàm phu tức Phật, phiền năo tức Bồ-đề. Thế nào là tức ? Ngài bảo: niệm trước mê tức là phàm phu, niệm sau ngộ tức là Phật. Tỉ dụ nh́n b́nh bông, vừa nh́n liền phân biệt nhánh trắc đẹp, bông cúc xấu v.v... vừa có niệm phân biệt, đó là mê, nhưng liền tỉnh giác biết dù đẹp xấu cũng là huyễn hóa. Như vậy niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Có người thứ hai chen vào làm Phật không ? Cũng chỉ là ḿnh, nhưng niệm trước mê, đó là phàm phu, chuyển niệm sau ngộ là thành Phật. Như vậy đâu có Phật ngoài phàm phu, phàm phu ngoài Phật, nên nói phàm phu tức là Phật. Thí dụ thứ hai, như có một món quí kim rơi ngoài đường hay ở trong nhà một người nào, vừa thấy món quí kim chúng ta dấy niệm nó có giá trị, vừa dấy niệm tham, liền biết đó là sai quấy, v́ người biết đạo lư không được có niệm tham. Vậy niệm trước là niệm ǵ ? Niệm sau là niệm ǵ ? Tất cả những thay đổi đó đâu có người thứ hai chen vào. Chính ngay người phàm phu trước đổi thành người giác sau. Người mê trước đổi thành người giác sau, không có một người mê riêng, một người giác riêng, như vậy không phải “tức” là ǵ? Như khi c̣n ở trong hoàng cung thái tử Tất-đạt-đa là Phật chưa ? Nhưng khi xuất gia, Ngài tu thành Phật. Cũng là Ngài, con người phàm phu ở trong hoàng cung rồi thành Phật chớ không phải ai khác. Đó là nói xa, c̣n Lục Tổ nói thẳng trên niệm, niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Chúng ta thấy phàm phu khác, Phật khác là tự phỉ báng ḿnh, phỉ báng chánh pháp. Rơ ràng ḿnh với Phật không có khác, chỉ khác chỗ mê ngộ, mà mê ngộ do nơi ḿnh, niệm trước mê là phàm, niệm sau giác là Phật ! “Niệm trước chấp cảnh tức phiền năo, niệm sau ĺa cảnh tức Bồ-đề”. Thí dụ nghe người nào nói một lời trái tai, vừa chấp đó là lời ngang ngược trái tai, muốn nổi sân, nhưng liền biết lời nói giả dối không thật th́ không giận. Niệm trước vừa chấp lời nói trái tai liền nổi giận, gọi là chấp cảnh tức phiền năo sanh; niệm sau biết lời nói không thật, nên không chấp liền ĺa cảnh, ĺa cảnh đó là Bồ-đề. Như vậy tức phiền năo là Bồ-đề đâu có Bồ-đề ngoài phiền năo. Nếu t́m Bồ-đề ngoài phiền năo th́ không cần tu, v́ nó ở ngoài, tu là ngay niệm mê đổi thành niệm giác, ngay phiền năo biến thành Bồ-đề. Có nhiều người nói phiền năo là phiền năo, tại sao nói phiền năo tức Bồ-đề ? Họ cứ nghĩ phiền năo là riêng, Bồ-đề là riêng, nhất là những vị chưa thông kinh Đại thừa hay chấp phiền năo khác, Bồ-đề khác, nhưng thật ra ngay phiền năo mà tỉnh lại tức là Bồ-đề. Mê th́ phiền năo, tỉnh là Bồ-đề, chúng ta thấy thực tế vô cùng. Phiền năo tức Bồ-đề, phàm phu tức Phật là như thế. Như vậy ai dám khi ai không ? Ngày nay họ là phàm phu, ngày mai họ giác thành Phật; giờ này họ sân là phàm phu, chốc nữa họ tỉnh cũng là Phật. Đừng nghĩ ta giác hơn người, v́ khi người tỉnh giác người cũng bằng ta. Trên thế gian này không ai hơn ai cả. Ngay phàm phu tức là Phật, ngay phiền năo tức là Bồ-đề. Người có nhiều phiền năo, v́ cố chấp nên những ǵ đến với họ đều biến thành phiền năo; đến khi họ tỉnh, họ xả được cái chấp đó tức nhiên thành Bồ-đề. Không có Bồ-đề ngoài phiền năo, không có Phật ngoài chúng sanh. Này Thiện tri thức, Ma-ha Bát-nhă Ba-la-mật tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, không trụ, không qua cũng không lại, chư Phật ba đời từ trong đó mà ra. Phải dùng đại trí tuệ này đập phá ngũ uẩn, phiền năo, trần lao, tu hành như đây quyết định thành Phật đạo, biến tam độc thành giới định tuệ. Tổ ca ngợi Bát-nhă vô cùng. Ngài bảo Bát-nhă là tối tôn, tối thượng, tối đệ nhất, Bát-nhă là không trụ, không qua, không lại, nghĩa là nó không có những tướng qua lại, trụ trước ǵ cả. Tất cả chư Phật ba đời cũng từ Bát-nhă mà ra. Muốn giác ngộ làm Phật phải từ trí tuệ mà được. Không ai giác ngộ ngoài trí tuệ, nên nói ba đời chư Phật đều từ đó mà ra. Như vậy phải dùng đại trí tuệ này đập phá phiền năo trần lao ngay trong thân ngũ uẩn. Tu hành như vậy th́ quyết định thành Phật đạo không nghi và người đó đă chuyển tam độc thành giới định tuệ. Ngay nơi ba độc tham sân si chúng ta chuyển thành giới định tuệ, đó là chỗ chân chánh tu hành. Này Thiện tri thức, pháp môn của tôi đây từ một Bát-nhă phát sanh tám muôn bốn ngàn trí tuệ. V́ cớ sao ? V́ người đời có tám muôn bốn ngàn trần lao, nếu không có trần lao th́ trí tuệ thường hiện chẳng ĺa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm, vô ức, vô trước, chẳng khởi cuống vọng, dùng tánh chân như của ḿnh, lấy trí tuệ quán chiếu, đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là thấy tánh thành Phật đạo. Đến đây Ngài dạy từ một môn Bát-nhă này sanh ra tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tại sao đến tám muôn bốn ngàn trí tuệ ? V́ chúng sanh có đến tám muôn bốn ngàn trần lao, nên người biết tu th́ chuyển tám muôn bốn ngàn trần lao thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Tôi ví dụ như chúng ta nghe lời nói trái tai, chấp là lời nói nặng liền giận, khi vừa giận liền thức tỉnh biết tiếng nói không thật nên không giận, như vậy chúng ta dùng một trí tuệ phá một trần lao. Trên thế gian này, có bao nhiêu thứ để chúng ta phiền năo ? Vật nào đẹp th́ muốn lấy, đó là tham, vật nào xấu th́ ghét muốn quăng bỏ, đó là sân v.v... đủ cả tham sân si...! Nếu gặp bất cứ việc ǵ, chúng ta đều dùng trí tuệ Bát-nhă để phá dẹp, không cho dính mắc, như vậy có bao nhiêu phiền năo tức có bấy nhiêu trí tuệ. Thế nên tám muôn bốn ngàn trần lao trở thành tám muôn bốn ngàn trí tuệ. Như vậy để biết rằng trí tuệ không riêng có, v́ đối trần lao mà lập. Do có trần lao nên trí tuệ không thường hiện, nay các trần lao hết th́ trí tuệ hiện. Trí tuệ hiện là ngay nơi tự tánh mà hiện, nên nói chẳng ĺa tự tánh. Người ngộ pháp này tức là vô niệm. Vô niệm là không dấy khởi niệm, vô ức là không nhớ tưởng, vô trước là không dính mắc, chẳng khởi cuống vọng là không khởi hư dối. Dùng tánh chân như của ḿnh, lấy trí tuệ quán chiếu, đối tất cả pháp ḿnh không khởi thủ xả, đó là thấy tánh thành Phật đạo. Nghĩa là chúng ta không dấy niệm, không nhớ tưởng, không chấp trước cũng không lừa dối, như vậy sống với tự tánh chân thật của ḿnh, hằng dùng trí tuệ quán chiếu để không lầm, th́ đối với tất cả pháp không c̣n thủ xả tức ĺa hai bên. Người được như thế là thấy tánh thành Phật. Này Thiện tri thức, nếu muốn vào pháp giới thậm thâm và Bát-nhă tam-muội th́ phải tu Bát-nhă hạnh, phải tŕ tụng kinh Kim Cang Bát-Nhă tức được thấy tánh, nên biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh đă khen ngợi rơ ràng không thể nói đầy đủ được. Pháp môn này là Tối thượng thừa, v́ những người đại trí mà nói, v́ những người thượng căn mà nói. Những người tiểu căn tiểu trí nghe pháp này tâm sanh không tin. V́ cớ sao ? Ví như có một trận mưa lớn khắp cả cơi nước, thành ấp chợ búa đều bị trôi giạt cũng như trôi những lá táo. Nếu trận mưa lớn đó mưa nơi biển cả th́ không tăng không giảm. Như người Đại thừa hoặc người Tối thượng thừa nghe kinh Kim Cang th́ tâm khai ngộ, thế nên biết bản tánh họ tự có trí Bát-nhă, tự dùng trí tuệ thường quán chiếu nên không nhờ văn tự. Thí như nước mưa không phải từ trời có, nguyên là từ rồng mà dấy lên khiến cho tất cả chúng sanh, tất cả cỏ cây, hữu t́nh vô t́nh thảy đều được đượm nhuần. Trăm sông các ḍng đều chảy vào biển cả hợp thành một thể, trí tuệ Bát-nhă nơi bản tánh chúng sanh cũng lại như thế. Tức là mọi người chúng ta đều có trí tuệï Bát-nhă sẵn trong tự tánh của ḿnh như là tất cả ḍng sông đều chảy về biển chớ không có khác. Này Thiện tri thức, người tiểu căn nghe pháp môn đốn giáo này, ví như là cỏ cây gốc rễ nhỏ, nếu bị mưa to th́ đều ngả nghiêng không thể nào tăng trưởng được. Người tiểu căn cũng lại như thế, vốn có trí tuệ Bát-nhă cùng với người đại trí không sai biệt, nhân sao nghe pháp không thể khai ngộ ? V́ do tà kiến chướng nặng, cội gốc phiền năo sâu, ví như đám mây lớn che kín mặït trời, không có gió thổi mạnh th́ ánh sáng mặt trời không hiện. Trí Bát-nhă cũng không có lớn nhỏ, v́ tất cả chúng sanh tự tâm mê ngộ không đồng, tâm mê bên ngoài thấy có tu hành t́m Phật, chưa ngộ được tự tánh tức là tiểu căn. Nếu khai ngộ đốn giáo không thể tu ở bên ngoài, chỉ nơi tâm ḿnh thường khởi chánh kiến, phiền năo trần lao thường không bị nhiễm tức là thấy tánh. Trong đoạn trên Ngài nói có người tiểu căn, người đại căn, người tiểu trí, người đại trí. Tại sao có tiểu trí, đại trí, tiểu căn, đại căn ? Trên tánh Bát-nhă không có sai biệt, nhưng người nghe pháp liền đốn ngộ th́ gọi là đại căn, c̣n người nghe nhưng không đốn ngộ nên gọi là tiểu trí. Sở dĩ nghe Bát-nhă mà không ngộ, không hiểu là v́: - Một là tà kiến của họ sâu nặng, chấp tà kiến là chấp lệch lạc, nghiêng bên có hoặc nghiêng bên không quá nặng. - Hai là gốc phiền năo của họ sâu dầy, họ hay sân si, đủ các việc lôi thôi... Ngài thí dụ như có một đám mây đen kịt bao phủ bầu trời vào giữa trưa che kín mặt trời, chúng ta thấy ánh sáng mặt trời mất tiêu, ánh sáng mất là tại mặt trời không có ánh sáng hay tại cái ǵ ? Mặt trời lúc nào cũng tỏa ánh sáng đầy đủ và công bằng. Nhưng khi mây dầy đen quá th́ ánh sáng phải chịu khuất. Khi không thấy ánh sáng là lỗi tại mặt trời hay lỗi tại mây ? Tất cả mọi người ai cũng có trí tuệ Bát-nhă như là giữa trưa nhất định có mặt trời vậy, nhưng có người nghe pháp liền ngộ, có người nghe mà không ngộ là tại sao ? Giữa trưa mà không mây, khi người ta chỉ mặt trời, nh́n lên liền thấy. Trái lại mây dầy quá, dù chỉ mặt trời cũng không thấy, chỉ thấy bầu trời đen kịt. Đối với trí tuệ của Phật cũng thế, Ngài dùng trí tuệ đó giảng dạy chúng ta hiểu chỗ ngộ, chỗ sở đắc của Ngài để chúng ta theo đó tu hành. Nếu nghe nhưng không hiểu ǵ cả là tại phiền năo của chúng ta quá nhiều, quá sâu; nếu người nào phiền năo ít, mỏng th́ nghe liền hiểu, mà hiểu th́ tu được. Như thế lỗi không phải tại pháp mà lỗi tại người, pháp th́ b́nh đẳng nhưng tại người phiền năo sâu hay cạn. Biết như vậy, chúng ta thấy nếu căn cơ chúng ta kém, phiền năo dầy, chúng ta phải nỗ lực sao cho phiền năo tan và căn cơ được tăng trưởng, chớ đừng tưởng thật có người đại trí và người tiểu trí, v́ trí Bát-nhă là b́nh đẳng, nhưng do các chủng tử tà kiến và chủng tử phiền năo nhiều ít mà thành sai biệt. Này Thiện tri thức, trong ngoài không trụ, đi lại tự do, hay trừ tâm chấp, thông đạt không ngại, hay tu hạnh này cùng kinh Bát-nhă vốn không sai biệt. Trong đoạn này Lục Tổ dạy chúng ta tu. Trong ngoài không trụ là không trụ trong không trụ ngoài, tức là không chấp trong không chấp ngoài. Đi lại tự do là trong mọi hoạt động chúng ta không bị chướng ngăn. Hay trừ tâm chấp, tâm chấp là thế nào ? Tôi nói một ví dụ nhỏ cho quí vị thấy, như có người nh́n b́nh bông, phân tích như thế nào đó rồi kết luận b́nh bông đẹp, nhưng có người ngồi bên cạnh bảo xấu quá, đâu có đẹp ! Khi đó người ấy nổi sân, tại sao lại nổi sân ? V́ chấp lời của họ là chân lư, lời người kia không phải chân lư, họ nói đúng, người kia nói sai... Thế nên tất cả các chấp là gốc của phiền năo. Trái lại nếu chúng ta thấy đẹp, người khác thấy không đẹp chúng ta biết đó là do cái thấy của họ khác ḿnh, th́ không c̣n tranh chấp. Tỉ dụ chúng ta nói cái này có, người kia nói không, chúng ta nói: Tôi thấy có, c̣n huynh thấy không là cái thấy của huynh. Trái lại nếu chúng ta nói có, người khác nói không, chúng ta nổi giận, đó là chấp. Vậy tất cả phiền năo đều gốc từ tâm chấp mà ra. Quí vị thấy có ai không chấp ? Nếu người nào không chấp th́ người đó không nổi giận, nếu có giận là có chấp ! Thí dụ gần nhất như thầy giáo hay cô giáo dạy học tṛ, bảo chúng nó giờ nào học th́ học, giờ nào nghỉ th́ cũng ngồi chơi có trật tự đừng la to. Nhưng khi chơi nó hứng la om ṣm, khi ấy thầy cô giận muốn phạt nó. Như vậy là ḿnh không tâm lư, lúc dặn th́ chúng nhớ, khi chơi th́ chúng quên... v́ ḿnh chấp việc chúng không nhớ lời dặn nên nổi giận. Quí vị nhớ con cái ở nhà cũng vậy, khi chúng ta dạy nó, thật ra chúng nó biết, nhớ, nhưng khi gặp cảnh chúng nó quên... Cũng như chúng ta khi nghe kinh th́ nhớ, gặp cảnh th́ quên, chúng ta quên theo người lớn, chúng nó quên theo con nít ! Nếu giận chúng nó th́ đúng hơn chúng ta phải giận chúng ta. Nếu không giận ḿnh mà giận chúng nó là ḿnh hơi hẹp lượng đó. Hiểu như vậy, quí vị mới thấy trong cuộc sống này do chấp mà thành hẹp lượng rồi sân hận... đủ các phiền năo. V́ vậy chấp là một cái họa, từ đó sanh ra bao nhiêu thứ bệnh ! Khi phá chấp rồi th́ tâm hồn chúng ta thênh thang vô cùng. Chấp có, chấp không, chấp phải, chấp quấy... tất cả chấp đều là gốc phiền năo. Thế nên phá được tâm chấp rồi th́ trí được thông đạt vô ngại. Người hay tu được hạnh đó gọi là tu Bát-nhă. Này Thiện tri thức, tất cả kinh điển và các văn tự, Đại thừa, Tiểu thừa, mười hai bộ kinh đều nhân người mà an trí, nhân tánh trí tuệ mới hay dựng lập. Nếu không có người đời th́ tất cả muôn pháp vốn tự chẳng có, thế nên biết muôn pháp vốn tự nhân nơi người mà dựng lập, tất cả kinh sách nhân người mà nói có; nhân v́ trong người kia có ngu và có trí, người ngu là tiểu nhân, người trí là đại nhân, người ngu hỏi nơi người trí, người trí v́ người ngu mà nói pháp, người ngu bỗng nhiên ngộ hiểu, tâm được khai tức cùng với người trí không có khác. Chúng tôi giải thích cho quí vị thấy Lục Tổ dạy rất là thực tế. Ngài bảo tất cả kinh điển Phật lập ra, trong đó chia ra Đại thừa Tiểu thừa, cả mười hai bộ kinh đều nhân nơi người mà lập. Tại sao ? V́ người đời căn tánh bất đồng, có kẻ thấp người cao nên kinh Phật dạy có khi thấp, có khi cao. Nói thấp gọi là nói cho Tiểu thừa, nói cao gọi là nói cho Đại thừa. Như vậy kinh điển có sai biệt là nhân trí tuệ của con người, người thấp th́ phải nói theo chỗ thấp, người cao phải giải thích theo chỗ cao. Tất cả muôn pháp trên thế gian này vốn không có, nhưng hiện có là do nơi người. Có người mới có muôn pháp. Tại sao ? Như tôi thường nhắc quí vị, nếu không có tâm trí của con người th́ lấy cái ǵ đặt tên đây là đồng hồ, kia là b́nh bông, đó là cái bàn v.v.... Như vậy tất cả các tên sai biệt của muôn pháp gốc từ nơi người mà lập. Thế nên biết rằng từ kinh điển đến vạn vật có các tên sai biệt, đều gốc từ tâm trí sai biệt của con người, chớ không phải ngẫu nhiên. Như vậy không phải đức Phật muốn nói nhiều thứ, sở dĩ Ngài phải nói nhiều là do tŕnh độ sai biệt của con người; cũng như tất cả sự vật ở thế gian không phải có nhiều thứ nhưng có nhiều thứ là tại người đặt. Người ta đặt ra thứ này, thứ kia, mỗi thứ mỗi tên. Tỉ dụ như tất cả chúng ta, nếu cha mẹ không đặt tên ḿnh th́ đến đây gặp nhau chỉ cười chớ không biết ai tên ǵ mà gọi. Nay có cả trăm tên khác nhau là tại sao ? Tại vọng thức của cha mẹ chúng ta an bày người này tên A, người kia tên B v.v... rồi chúng ta thấy có cả trăm tên. Sự thật nếu không có đặt tên th́ thấy mặt nhau là thấy chớ không biết tên ǵ, nếu không tên th́ đâu thành người này người kia... tất cả chỉ có tên “người”. Tóm lại muôn pháp nhân người mà lập là v́ nhân nơi tâm trí của con người mà đặt tên thành ra muôn pháp, chớ sự thật muôn pháp không có tên, thành tên là từ nơi người. Ngài lại giải thích về người ngu và người trí. Người ngu là họ chưa hiểu, chưa thấy được đạo. Người trí là đă hiểu, đă thấy được đạo. Như vậy người chưa hiểu, chưa thấy đối với người đă hiểu, đă thấy th́ gọi là người ngu, c̣n người đă hiểu, đă thấy gọi là người trí. Nhưng cái ngu, trí đó có cố định hay không ? Giả sử ông A hiểu, ông B chưa hiểu, đối với chỗ hiểu và chưa hiểu th́ ông A gọi là trí, ông B gọi là ngu. Nhưng nay ông B hỏi, ông A nói cho ông B hiểu bằng ông A th́ hai người ai ngu ai trí ? Cả hai đều trí ! Như vậy ngu trí cũng không cố định. Chúng ta thường tự cao nghĩ rằng ta là trí, người khác là ngu, tưởng ngu trí là thật. Đối với Tổ không phải vậy. Khi chưa biết gọi là ngu, biết rồi cũng là trí. Thí dụ một đứa bé khi mới vào học lớp một, nó thấy thầy giáo, cô giáo là trí, c̣n nó là ngu. Nhưng nếu nó học đến mười mấy năm sau, khi ấy lớp nó học hoặc bằng hoặc trên thầy giáo, cô giáo nó, như vậy nó đâu c̣n ngu nữa. Thế nên trí, ngu đâu có cố định, nhưng chúng ta có tật thấy bất cứ người nào đều cố định là khôn hoặc là dại. Tóm lại ngu trí chẳng qua là biết và chưa biết; biết th́ gọi là trí, chưa biết gọi là ngu, khi người chưa biết mà biết được rồi th́ họ cũng là trí... Từ đó chúng ta suy ra, chúng sanh với Phật có khác nhau không ? Có cố định chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật hay không ? Nếu chúng ta hiểu ngu và trí th́ chúng sanh với Phật cũng như vậy. Nay chúng ta chưa giác, chúng ta là chúng sanh, c̣n Phật đă giác th́ Phật là Phật. Mai kia theo đường lối Phật dạy, chúng ta giác ngộ như Phật th́ khi ấy chúng ta cũng ngang với Phật. Như vậy chúng ta không có mặc cảm là ḿnh phải làm chúng sanh kiếp kiếp đời đời, mà chỉ có mặc cảm là ḿnh không chịu giác. Nếu ngày nào tất cả chúng ta đều giác th́ đương nhiên chúng ta như Phật. Vậy phàm phu và Phật không có hai, hai là v́ có mê ngộ. Nếu chúng ta bỏ mê và ngộ như Phật, khi ấy ḿnh với Phật là đồng, không c̣n hai nữa. Từ nghĩa ngu và trí đến nghĩa mê giác, chúng ta thấy giống như nhau. Không có một pháp cố định mà chúng ta lầm tưởng là cố định rồi tự khinh ḿnh, đó là điều dở. Thế nên Lục Tổ dạy tiếp: Này Thiện tri thức, chẳng ngộ tức Phật là chúng sanh, khi một niệm ngộ, chúng sanh là Phật. Khi chưa ngộ tức Phật là chúng sanh, tại sao ? Nơi ḿnh có Phật sẵn nhưng ḿnh chưa thấy nên khi ấy ông Phật đó làm chúng sanh; đến khi ḿnh thấy th́ thế nào ? Th́ chúng sanh đó nay biến thành Phật. Thế nên nói một niệm ngộ chúng sanh là Phật. Như vậy giữa ḿnh và Phật không cách biệt bao xa. Theo chúng ta học th́ từ phàm phu lên đến Phật phải trải qua bao nhiêu số kiếp xa thật là xa. C̣n Tổ nói th́ quá gần, nghĩa là khi chưa ngộ th́ Phật là chúng sanh, c̣n một niệm ngộ th́ chúng sanh là Phật. Như vậy sở dĩ có chúng sanh, có Phật là tại mê với ngộ, chớ không phải riêng có một cái cố định là chúng sanh, cố định là Phật. Đó là điểm then chốt. Thế nên biết muôn pháp trọn ở nơi tự tâm, sao chẳng từ trong tự tâm liền thấy được chân như bản tánh ? Biết rằng muôn pháp đều từ nơi tự tâm, tại sao chúng ta không ngay nơi tự tâm chóng thấy được chân như, lại đi t́m Phật ở đâu cho xa. Mê th́ Phật là chúng sanh, ngộ th́ chúng sanh là Phật, như vậy thành Phật là thành ở trong tự tâm. Mê ngộ là tâm, vậy tại sao không đào xới ngay trong tâm ḿnh để thành Phật, lại chạy đi cầu ở chỗ nào làm chi ? Có cần đi lên núi ông Cấm hay Ngũ Đài Sơn v.v... hay là đi tới những núi thật xa, thật cao t́m chỗ thanh tịnh để t́m Phật không ? Nếu biết th́ ngồi ở giữa chợ cũng có Phật. V́ tâm ḿnh là Phật th́ ngay trong tâm, nếu biết chuyển đương nhiên chúng sanh trở thành Phật, nếu không biết chuyển tức nhiên Phật làm chúng sanh. Thế nên Lục Tổ cố dạy chúng ta muốn thành Phật th́ chuyển ngay tự tâm ḿnh, đừng t́m kiếm nơi nào khác, t́m nơi khác là lầm ! V́ thế Ngài bảo: Tất cả đều trọn nơi tâm ḿnh, tại sao không ngay trong tâm ḿnh chóng thấy chân như bản tánh ? Kinh Bồ Tát Giới nói: Bản tánh của ta nguyên tự thanh tịnh, nếu biết được tự tâm, thấy tánh đều thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh nói: Liền khi đó bỗng hoát nhiên được bản tâm. Tóm lại, trong đoạn này Lục Tổ muốn chỉ chúng ta rơ rằng, thành Phật hay thành chúng sanh là gốc nơi tự tâm mê hay tự tâm ngộ. Tâm mê là chúng sanh, tâm ngộ là Phật, nay chúng ta tu, muốn thành Phật phải nhắm vào chỗ nào mà tu ? Muốn chuyển chúng sanh thành Phật phải chuyển từ đâu ? Từ ngay nơi tâm chớ không c̣n lối nào khác ! Như vậy chúng ta không thể nghe nói ông Phật hiện ở trên núi Cấm rồi nhất bộ nhất bái đến lạy để Ngài chứng minh cho ḿnh được thành Phật. Chúng ta phải ngay nơi tâm ḿnh khéo chuyển mê thành ngộ th́ đó là Phật. Chúng ta phải đào xới ngay nơi bản tâm chớ đừng t́m kiếm ở đâu xa. Đây là gốc của sự tu hành. Này Thiện tri thức, xưa ta ở nơi Ngũ tổ Nhẫn, một phen nghe liền được ngộ, chóng thấy chân như bản tánh, nên đem giáo pháp này lưu hành khiến cho người học đạo chóng ngộ được Bồ-đề. Mỗi người tự quán nơi tâm, tự thấy bản tánh, nếu tự chẳng ngộ phải t́m những bậc Đại thiện tri thức, người hiểu được giáo pháp Tối thượng thừa, chỉ thẳng con đường chánh, ấy là Thiện tri thức, có nhân duyên lớn, gọi là hóa đạo khiến được thấy tánh. Ngài nhắc lại, ngày xưa khi nghe được Ngũ Tổ nói một câu, Ngài liền ngộ đạo. Khi ngộ đạo, Ngài đem giáo pháp đó chỉ dạy lại cho người học sau này chóng thấy được Bồ-đề, chóng ngộ được bản tánh. Nay người nào nghe nhưng chưa ngộ th́ nên t́m Thiện tri thức. Thiện tri thức là ai ? Người hiểu được pháp Tối thượng thừa, biết chỉ thẳng con đường chánh, đó là Thiện tri thức. Có nhiều người nói Phật Tổ dạy học đạo phải nhờ Thiện tri thức hướng dẫn, nhưng người nào là Thiện tri thức ? Tùy theo pháp môn, nếu Thiền tông th́ Tổ dạy: Thiện tri thức là người hiểu được pháp Tối thượng thừa và người đó chỉ thẳng con đường chánh cho ḿnh đi. Có nhân duyên lớn là ǵ ? Tức là hóa đạo khiến cho người được thấy tánh. Tất cả pháp lành nhân nơi Thiện tri thức mà hay phát khởi. Ba đời chư Phật, mười hai bộ kinh, ở trong tánh của người vốn tự có đủ, không có thể tự ngộ th́ phải cầu Thiện tri thức chỉ dạy mới thấy. Nếu tự ḿnh ngộ th́ không nhờ cầu bên ngoài, nếu một bề chấp, bảo rằng phải nhờ Thiện tri thức khác, mong được giải thoát th́ không có lẽ phải. Đây là chỗ lầm lẫn của một số người tu. Ngài nói: Giáo pháp Tối thượng thừa này được Phật Tổ chỉ dạy, nếu ngay nơi đó ḿnh ngộ rồi th́ thôi, nếu không ngộ th́ phải nhờ Thiện tri thức chỉ dạy để chúng ta nhân đấy mà ngộ. Như vậy muốn được ngộ là phải nhờ sự chỉ dạy của Thiện tri thức để nhận ra bản tâm, bản tánh của ḿnh, chớ không phải cầu Thiện tri thức ở bên ngoài để làm cho ḿnh được giải thoát. Có nhiều Phật tử cứ nghĩ rằng đi đến cầu Thầy, cầu những vị tu hành cứu ḿnh hết phiền năo, làm cho ḿnh hết khổ. Nếu y theo pháp Phật mà tu th́ mỗi người tự giải khổ, chớ có ai làm cho ai hết khổ được ? Có ai làm cho ai hết phiền năo được ? Như hiện nay quí Thầy tu, c̣n Phật tử chưa tu, quí Thầy muốn dạy cho Phật tử hết phiền năo phải dạy thế nào ? Phật dạy các pháp quán hoặc là nhẫn nhục hoặc là từ bi hoặc là vô thường, hoặc là dùng trí Bát-nhă thấy các pháp là giả dối v.v... Chúng ta biết ứng dụng các pháp Phật dạy, tu sửa lần lần hết phiền năo, chớ các Thầy không thể nào làm cho Phật tử hết phiền năo được. Vậy khi có phiền năo chạy đến cầu Thầy cứu được không ? Chư Tăng chư Ni chỉ là người đi trước, biết được những ǵ Phật Tổ dạy, rồi đem những pháp đó chỉ lại, Phật tử ứng dụng tự nhiên bớt phiền năo, chớ không ai làm cho ḿnh hết phiền năo. Nếu trông cầu Thiện tri thức đưa ḿnh đến chỗ giải thoát th́ không đúng, không bao giờ có việc như vậy. Thiện tri thức chỉ cho ḿnh tự tỉnh, tự giác, sau khi tỉnh giác ḿnh tiến tu mới giải thoát. Nếu người khác làm cho ḿnh giải thoát được th́ thuở xưa những đệ tử gần với Phật nhất như ngài A-nan, ngài La-hầu-la không cần phải tu. Ngài A-nan là em của Phật, ngài La-hầu-la là con Phật, Phật thành Phật rồi hai vị đó nhờ Phật độ cũng được giải thoát ? Nhưng học kinh Lăng Nghiêm, chúng ta thấy ngài A-nan bị Ma-đăng-già dẫn dụ, Ngài khổ sở, hối hận, khóc bạch với Phật: Con ỷ lại là em của Phật, nay mới thấy nếu con không tu th́ không thể nào giải thoát được. Như vậy chính em đức Phật, con đức Phật mà đức Phật không độ cho giải thoát được, huống nữa là chư Tăng phàm phu. Như thế để quí vị hiểu rằng muốn được giải thoát là y theo lời Phật dạy mà tự tu sửa phiền năo che lấp bản tâm. Do tu sửa rồi tự ḿnh sáng, tự ḿnh giác, cái sáng, cái giác đó làm cho ḿnh được giải thoát, chớ không ai làm cho ḿnh giải thoát cả. V́ cớ sao ? Trong tự tâm có tri thức tự ngộ, nếu khởi tà mê vọng niệm điên đảo th́ Thiện tri thức bên ngoài tuy có giáo hóa chỉ dạy, cứu cũng không thể được. Nghĩa là trong tâm ḿnh tự có Thiện tri thức, nếu ḿnh khởi niệm xấu th́ niệm thiện của tâm quở trách cái xấu, cái xấu hết. Niệm thiện biết quở trách cái xấu là Thiện tri thức của tự tâm. C̣n nếu quí vị khởi niệm xấu, ví như ra chợ, ai nói tức, quí vị giận muốn mắng chửi người, khi ấy Thiện tri thức ở chùa làm sao gặp quí vị mà khuyên cho kịp. Khi muốn mắng người, chỉ Thiện tri thức của tự tâm khởi lên mới chận kịp, chớ Thiện tri thức ở chùa xa quá không thể đến chận kịp. Như vậy để biết rằng cứu ḿnh gần nhất là Thiện tri thức của tự tâm, c̣n Thiện tri thức ở xa như thầy bạn khó cứu ḿnh kịp. Thành ra thầy bạn chỉ là người hướng dN |