[Trang chu] [Kinh sach]

KINH VIÊN GIÁC GIẢNG GIẢI

[mục lục][kinh viên giác giảng giải]

[c1][c2][c3][c4][c5][c6][c7][c8][c9][c10][c11][c12]


CHƯƠNG XI:

BỒ-TÁT VIÊN GIÁC THƯA HỎI 

1. ÂM :

Ư thị Viên Giác Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường qú xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:

- Đại bi Thế Tôn, vị ngă đẳng bối quảng thuyết tịnh giác chủng chủng phương tiện, linh mạt thế chúng sanh hữu đại tăng ích. Thế Tôn, ngă đẳng kim giả dĩ đắc khai ngộ, nhược Phật diệt hậu, mạt thế chúng sanh vị đắc ngộ giả, vân hà an cư, tu thử Viên giác thanh tịnh cảnh giới? Thử Viên giác trung tam chủng tịnh quán, dĩ hà vi thủ? Duy nguyện đại bi vị chư đại chúng cập mạt thế chúng sanh thí đại nhiêu ích.

Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh, chung nhi phục thủy.

DỊCH :

Lúc đó, Bồ-tát Viên Giác ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật đi nhiễu bên phải ba ṿng, qú gối chấp tay, bạch Phật rằng:

- Đức Thế Tôn đại bi, v́ bọn chúng con rộng nói các thứ phương tiện tịnh giác, khiến cho chúng sanh đời sau được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, chúng con ngày nay đă được khai ngộ, nếu sau khi Phật diệt độ chúng sanh đời sau chưa được ngộ làm thế nào mà an cư để tu cảnh giới thanh tịnh Viên giác này? Trong Viên giác này ba thứ quán thanh tịnh, tu pháp nào trước? Cúi mong Thế Tôn đại bi v́ các đại chúng và chúng sanh đời sau bố thí lợi ích lớn.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như thế lặp lại ba lần.

GIẢNG :

Viên giác là giác viên măn hoàn toàn. V́ Viên giác là tṛn khắp nên không những bậc thượng căn được giác, trung căn được giác mà hạ căn cũng được giác. Ở trước Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng thưa hỏi để dạy cho người tu dẹp sạch các nghiệp chướng. Tuy sạch các nghiệp chướng nhưng tánh Viên giác chưa được phổ biến, nên Bồ-tát Phổ Giác cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu hành để cho tánh giác được phổ biến. Tuy tánh giác được phổ biến mà vẫn chưa viên măn, v́ vậy ở đây Bồ-tát Viên Giác đứng lên hỏi Phật hai câu:

1. Chúng sanh đời sau chưa ngộ làm sao an cư được trong cảnh giới Viên giác thanh tịnh?

2. Ba thứ phương tiện (Chỉ, Quán, Thiền) nên tu pháp nào trước?

Đoạn này chú trọng về phần sự tướng tu hành.

2. ÂM :

Nhĩ thời Thế Tôn cáo Viên Giác Bồ-tát ngôn:

- Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng năi vấn ư Như Lai, như thị phương tiện dĩ đại nhiêu ích thí chư chúng sanh. Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.

Thời Viên Giác Bồ-tát phụng giáo hoan hỷ cập chư đại chúng mặc nhiên nhi thính.

- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh nhược Phật trụ thế, nhược Phật diệt hậu, nhược pháp mạt thời, hữu chư chúng sanh cụ Đại thừa tánh, tín Phật bí mật đại Viên giác tâm, dục tu hành giả, nhược tại già-lam, an xử đồ chúng, hữu duyên sự cố, tùy phần tư sát như ngă dĩ thuyết.

DỊCH :

Khi ấy đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Viên Giác rằng:

- Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông mới hay hỏi Như Lai phương tiện như thế, đem lợi ích lớn bố thí cho các chúng sanh. Nay ông hăy lắng nghe ta sẽ v́ ông nói.

Lúc ấy Bồ-tát Viên Giác vâng lời dạy hoan hỷ cùng đại chúng lặng lẽ lắng nghe.

- Này thiện nam, tất cả chúng sanh trong thời Phật tại thế, hoặc sau khi Phật diệt độ, hoặc thời mạt pháp, nếu có chúng sanh đầy đủ căn tánh đại thừa, tin được tâm đại Viên giác bí mật của Phật, muốn tu hành, nếu tại già-lam th́ nên sắp xếp trong đồ chúng, hoặc có duyên sự th́ nên tùy phần mà quán sát như ta đă nói.

GIẢNG :

Đầu tiên đức Phật dạy lập h́nh tướng đạo tràng. Khi Phật c̣n ở đời hoặc sau khi Phật diệt độ hay trong thời mạt pháp, nếu người có căn tánh Đại thừa muốn tu, điều căn bản là phải ở trong già-lam và ở trong đại chúng mà tu, c̣n nếu có duyên sự bận rộn th́ tùy phần quán sát như Phật đă dạy.

3. ÂM :

Nhược phục vô hữu tha sự nhân duyên, tức kiến đạo tràng, đương lập kỳ hạn, nhược lập trường kỳ bá nhị thập nhật, trung kỳ bá nhật, hạ kỳ bát thập nhật, an trí tịnh cư. Nhược Phật hiện tại đương chánh tư duy, nhược Phật diệt hậu thi thiết h́nh tượng, tâm tồn mục tưởng sanh chánh ức niệm, hoàn đồng Như Lai thường trụ chi nhật, huyền chư phan hoa, kinh tam thất nhật khể thủ thập phương chư Phật danh tự cầu ai sám hối, ngộ thiện cảnh giới đắc tâm khinh an, quá tam thất nhật, nhất hướng nhiếp niệm.

DỊCH :

Nếu người không có các duyên sự khác th́ dựng lập đạo tràng nên lập kỳ hạn, hoặc lập trường kỳ một trăm hai mươi ngày, hoặc trung kỳ th́ một trăm ngày, c̣n hạ kỳ th́ tám mươi ngày để an cư cho thanh tịnh. Nếu Phật c̣n tại thế th́ nên chánh tư duy. Nếu sau khi Phật diệt độ nên thiết lập h́nh tượng, mắt nh́n tâm tưởng sanh nghĩ nhớ chân chánh, như lúc Phật c̣n ở đời vậy. Treo các tràng phan hương hoa trải qua hai mươi mốt ngày, đầu thành đảnh lễ danh hiệu chư Phật mười phương chí thành sám hối, thấy những cảnh giới lành th́ tâm được nhẹ nhàng, qua hai mươi mốt ngày một bề nhiếp niệm.

GIẢNG:

Phật dạy: Nếu Phật c̣n tại thế th́ chúng ta chỉ chánh tâm nhớ nghĩ đến đức Phật từ h́nh dáng ngôn ngữ và những điều thấy nghe nơi Phật không cần có h́nh tượng. Nếu sau khi Phật diệt độ th́ nên lập ra h́nh tượng để mắt nh́n tâm tưởng khởi niệm chân chánh, xem như đức Phật c̣n ở đời vậy. Cách an cư này Phật dạy cũng giống như cách nhập thất, trong mỗi kỳ hạn hoặc dài hoặc ngắn, th́ trong hai mươi mốt ngày đầu thành đảnh lễ các đức Phật trong mười phương, chí thành sám hối chừng nào thấy điềm lành th́ tâm mới nhẹ nhàng, từ đó bắt đầu dụng tâm nhiếp niệm.

4. ÂM :

Nhược kinh hạ thủ tam nguyệt an cư, đương vi thanh tịnh Bồ-tát chỉ trụ, tâm ly Thanh văn, bất giả đồ chúng. Chí an cư nhật tức ư Phật tiền tác như thị ngôn: Ngă Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di mỗ giáp cứ Bồ-tát thừa, tu tịch diệt hạnh đồng nhập thanh tịnh thật tướng trụ tŕ, dĩ Đại viên giác vi ngă già-lam, thân tâm an cư b́nh đẳng tánh trí, Niết-bàn tự tánh vô hệ thuộc cố. Kim ngă kính thỉnh bất y Thanh văn đương y thập phương Như Lai cập đại Bồ-tát tam nguyệt an cư, vị tu Bồ-tát Vô thượng Diệu giác, đại nhân duyên cố bất hệ đồ chúng. Thiện nam tử, thử danh Bồ-tát thị hiện an cư, quá tam kỳ nhật tùy văng vô ngại.

DỊCH :

Nếu nhằm đầu mùa Hạ an cư ba tháng phải an trụ theo hạnh thanh tịnh của Bồ-tát, tâm ĺa Thanh văn, chẳng nương đồ chúng. Đến ngày an cư phải đối trước Phật, bạch như thế này: “Con là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni hoặc Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di tên là… y cứ theo Bồ-tát thừa tu hạnh tịch diệt, đồng vào trụ tŕ thật tướng thanh tịnh, lấy Đại viên giác làm ngôi già-lam của con, thân tâm an cư trong tánh trí b́nh đẳng, v́ tự tánh Niết-bàn không có hệ thuộc. Nay con kính xin không y nơi Thanh văn, chỉ y mười phương Như Lai  và đại Bồ-tát an cư ba tháng. Con v́ nhân duyên lớn tu hạnh Bồ-tát Vô thượng Diệu giác, nên không hệ thuộc đồ chúng.” Này thiện nam đây gọi là Bồ-tát thị hiện an cư, qua ba hạn kỳ th́ qua lại không ngại.

GIẢNG :

Phật dạy cách an cư này khác hơn cách an cư của chúng ta. Chúng ta an cư th́ ở trong đồ chúng Thanh văn, Tỳ-kheo hoặc Tỳ-kheo ni, rồi lấy giới luật Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni làm căn bản. Ở đây Phật dạy các vị nên y cứ theo Bồ-tát thừa tu về hạnh tịch diệt và trụ nơi thật tướng thanh tịnh, lấy Đại viên giác làm già-lam, thân tâm an cư trong tánh trí b́nh đẳng, chớ không phải an cư trong một khu vực như chúng ta. Các vị này chẳng nương nơi Thanh văn mà y nơi mười phương chư Phật và Bồ-tát an cư ba tháng. Các vị này v́ nhân duyên lớn tu hạnh Bồ-tát cầu quả Vô thượng Diệu giác nên không lệ thuộc vào đồ chúng. Tu như vậy là tu theo hạnh Bồ-tát nên chỉ nương Bồ-tát và chư Phật, đó là Phật dạy an cư theo tánh Viên giác.

5. ÂM :

Thiện nam tử, nhược bỉ mạt thế tu hành chúng sanh cầu Bồ-tát đạo, nhập tam kỳ giả, phi bỉ sở văn nhất thiết cảnh giới, chung bất khả thủ.

DỊCH :

Này thiện nam, nếu những chúng sanh đời sau kia tu hành cầu Bồ-tát đạo vào ba kỳ đó, chẳng phải tất cả cảnh giới đă nghe kia th́ trọn không được giữ.

GIẢNG :

Phật dạy tu trong ba kỳ hạn, nếu có cảnh giới ǵ hiện mà không đúng những lời Phật dạy như đă nghe th́ không chấp nhận. Ngoài những cái đă được nghe được học mà có những tướng ǵ khác hiện th́ chúng ta không chấp nhận, nếu chấp nhận th́ thành bệnh. Nên ở đây Phật dặn kỹ.

6. ÂM :

Thiệïn nam tử, nhược chư chúng sanh tu Xa-ma-tha, tiên thủ chí tĩnh, bất khởi tư niệm, tĩnh cực tiện giác. Như thị sơ tĩnh, tùng ư nhất thân chí nhất thế giới, giác diệc như thị. Thiện nam tử, nhược giác biến măn nhất thế giới giả, nhất thế giới trung, hữu nhất chúng sanh khởi nhất niệm giả, giai tất năng tri, bá thiên thế giới diệc phục như thị, phi bỉ sở văn nhất thiết cảnh giới, chung bất khả thủ.

DỊCH :

Này thiện nam, nếu các chúng sanh tu Chỉ trước giữ cho thật lặng lẽ, chẳng khởi suy nghĩ, lặng lẽ tột cùng liền giác. Cái lặng lẽ ban đầu như thế, từ nơi một thân đến một thế giới, tánh giác cũng lại như vậy. Này thiện nam, nếu tánh giác đầy khắp một thế giới, trong thế giới ấy có một chúng sanh khởi một niệm thảy đều hay biết, trăm ngàn thế giới cũng lại như thế, chẳng phải tất cả cảnh giới đă nghe kia trọn chẳng nên thủ.

GIẢNG :

Người tu hạnh Chỉ trước hết là phải giữ tâm cho thật lặng lẽ. Lặng lẽ tới chỗ cùng tột th́ tánh Viên giác hiện tiền. Bởi từ một thân thanh tịnh cho đến một thế giới thanh tịnh, nên trí giác phát ra cũng từ một thân cho đến khắp cả thế giới. V́ cả thế giới đều là tri giác của người ấy, nên trong thế giới có một chúng sanh dấy niệm người ấy liền biết. Thấy biết được như vậy là phải, c̣n khác đi là không phải. Chính trong chỗ lặng lẽ đó, mà hằng giác như ngài Vĩnh Gia nói: “Lặng lặng tỉnh tỉnh phải”. Từ cái lặng lẽ nơi tâm ḿnh lần lần khắp cả pháp giới, đây là tâm trùm cả pháp giới, chừng ấy mỗi động niệm của chúng sanh ḿnh đều biết. Ví dụ như món đồ vuông hoặc tṛn, nh́n trong món đồ có một khoảng hư không tṛn hoặc vuông. Đập nát món đồ, hư không trong món đồ ḥa đồng với hư không mười phương thế giới. Không c̣n ranh vực th́ làm sao nói một thế giới, hai thế giới. Cũng thế, khi tâm đang c̣n hạn cuộc trong thân ngũ uẩn này th́ c̣n có hạn lượng, khi tâm lặng lẽ thanh tịnh không c̣n vọng tưởng th́ trùm khắp mười phương.

7. ÂM :

Thiện nam tử, nhược chư chúng sanh tu Tam-ma-bát-đề, tiên đương ức tưởng thập phương Như Lai, thập phương thế giới nhất thiết Bồ-tát, y chủng chủng môn, tiệm thứ tu hành, cần khổ tam-muội, quảng phát đại nguyện, tự huân thành chủng. Phi bỉ sở văn nhất thiết cảnh giới, chung bất khả thủ.

DỊCH :

Này thiện nam, nếu các chúng sanh tu Quán, trước phải nhớ tưởng mười phương Như Lai và tất cả Bồ-tát trong mười phương thế giới. Y theo các pháp môn thứ lớp tu hành cần khổ được chánh định, rộng phát đại nguyện, tự huân thành chủng tử. Chẳng phải tất cả cảnh giới đă nghe kia, trọn không được giữ.

GIẢNG :

Nếu tu Quán th́ trước phải nhớ tưởng mười phương chư Phật và Bồ-tát, rồi y theo các pháp môn của Phật dạy, siêng năng khổ hạnh tuần tự tu hành để được tam-muội và phải phát đại nguyện, huân tập những cái đó thành chủng tử. Trong khi tu, nếu có hiện những cảnh giới không đúng như chỗ đă nghe dạy trong kinh th́ không nên chấp nhận v́ đó là ma hiện.

8. ÂM :

Thiện nam tử, nhược chư chúng sanh tu ư Thiền-na, tiên thủ sổ môn, tâm trung liễu tri sanh trụ diệt niệm, phần tề đầu số, như thị chu biến tứ oai nghi trung, phân biệt niệm số, vô bất liễu tri. Tiệm thứ tăng tiến, năi chí đắc tri bá thiên thế giới nhất trích chi vũ, do như mục đổ sở thọ dụng vật, phi bỉ sở văn nhất thiết cảnh giới, chung bất khả thủ.

DỊCH :

Này thiện nam, nếu các chúng sanh tu Thiền, trước phải tu sổ tức, tâm rơ biết các niệm sanh trụ diệt, chừng ngằn số lượng, như thế khắp trong bốn oai nghi đều phân biệt biết rơ ràng số niệm. Dần dần tăng tiến cho đến biết được một hạt mưa trong trăm ngàn thế giới, như mắt xem thấy những vật ḿnh thọ dụng vậy. Nếu không phải tất cả cảnh giới đă nghe kia, trọn không được giữ.

GIẢNG :

Nếu tu Thiền th́ trước phải tu sổ tức, sổ tức là đếm hơi thở. Do hơi thở điều ḥa nên tâm được thanh tịnh, do tâm thanh tịnh nên thấy biết rơ ràng mỗi vọng niệm dấy khởi, dừng trụ, lặng dứt. Dụng tâm như thế lâu ngày thuần thục th́ trong tất cả thời hoặc đi, đứng, nằm, ngồi… thấy rơ từng vọng niệm sanh khởi, dừng trụ và diệt mất. Và khi công hạnh thành tựu th́ thấy rơ ràng từng giọt mưa trong trăm ngàn thế giới như xem thấy vật đang dùng vậy. Nếu thấy những cảnh giới đúng như vậy là tốt, c̣n thấy khác đi là không được. Bây giờ có ai tu sổ tức được như thế không? Chúng ta đừng xem thường pháp môn sổ tức, sổ tức mà đến chỗ cứu cánh không phải dễ.

9. ÂM :

Thị danh tam quán sơ thủ phương tiện. Nhược chư chúng sanh biến tu tam chủng, cần hành tinh tiến, tức danh Như Lai xuất hiện ư thế.

DỊCH :

Đó là phương tiện tu ban đầu của ba pháp quán. Nếu chúng sanh siêng năng tu đúng cả ba pháp này tức gọi là Như Lai xuất hiện ở đời.

GIẢNG :

Ba pháp quán ấy nếu tu hành cho đúng th́ gọi là Như Lai xuất hiện ở đời, c̣n nếu tu hành lơ mơ th́ Như Lai diệt độ. Vậy Như Lai ở đời hay diệt độ là do người tu tinh tấn hay không, chớ đừng tủi thân ḿnh sanh nhằm đời mạt pháp.

10. ÂM :

Nhược hậu mạt thế độn căn chúng sanh, tâm dục cầu đạo, bất đắc thành tựu, do tích nghiệp chướng, đương cần sám hối, thường khởi hy vọng, tiên đoạn tắng ái, tật đố siểm khúc, cầu thắng thượng tâm, tam chủng tịnh quán, tùy học nhất sự, thử quán bất đắc, phục tập bỉ quán, tâm bất phóng xả, tiệm thứ cầu chứng.

DỊCH :

Nếu những chúng sanh độn căn đời sau, tâm muốn cầu đạo mà chẳng được thành tựu, do những nghiệp chướng xưa cần phải siêng năng sám hối, thường khởi hy vọng trước đoạn yêu ghét, tật đố siểm khúc, cầu tâm thắng thượng. Trong ba thứ tịnh quán tùy học một môn, pháp này không được th́ tập pháp quán khác, tâm không buông bỏ dần dần cầu chứng.

GIẢNG :

Người độn căn là do nghiệp chướng đời trước sâu dày, nên Phật dạy phải siêng năng sám hối và khởi tâm mong cầu Phật đạo, thường mong đoạn yêu ghét, tật đố, siểm khúc, để tâm được thiện thù thắng. Trong ba môn Chỉ, Quán, Thiền theo một môn mà tu tập. Tập môn này không được th́ đổi qua môn khác, tùy theo căn cơ phù hợp với môn nào mà đổi thay, tu cho tiến bộ. Như vậy, kinh này Phật dạy người lợi căn độn căn ǵ tu cũng được. Người độn căn, Phật cũng dạy tu Chỉ, Quán và Thiền, chớ không dạy pháp nào khác, có khác là thêm sám hối mà trọng tâm là phải dứt tâm yêu ghét, tật đố, siểm khúc. Nếu chúng ta biết ḿnh là độn căn th́ phải tập như vậy.

11. ÂM :

Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa nhi thuyết kệ ngôn:

            Viên Giác nhữ đương tri

            Nhất thiết chư chúng sanh

            Dục cầu vô thượng đạo

            Tiên đương kết tam kỳ

            Sám hối vô thủy nghiệp

            Kinh ư tam thất nhật

            Nhiên hậu chánh tư duy

            Phi bỉ sở văn cảnh

            Tất cánh bất khả thủ

            Xa-ma-tha chí tĩnh

            Tam-ma chánh ức tŕ

            Thiền-na minh sổ môn

            Thị danh tam tịnh quán

            Nhược năng cần tu tập

            Thị danh Phật xuất thế

            Độn căn vị thành giả

            Thường đương cần tâm sám

            Vô thủy nhất thiết tội

            Chư chướng nhược tiêu diệt

            Phật cảnh tiện hiện tiền.

DỊCH:

Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nói kệ rằng:

            Viên Giác ông nên biết

            Tất cả các chúng sanh

            Muốn cầu Vô thượng đạo

            Trước nên kết ba kỳ

            Sám hối nghiệp vô thủy

            Qua hai mươi mốt ngày

            Sau đó chánh tư duy

            Nếu không phải chỗ nghe

            Rốt ráo chẳng nên chấp

            Xa-ma-tha rất tịnh

            Tam-ma chánh nhớ nghĩ

            Thiền-na rơ sổ tức

            Ấy gọi ba tịnh quán

            Nếu siêng năng tu tập

            Ấy gọi Phật xuất thế

            Độn căn chưa thành tựu

            Tâm thường siêng sám hối

            Tất cả tội vô thủy

            Các chướng nếu tiêu diệt

            Cảnh Phật liền hiện tiền.

GIẢNG :

Phật dạy chúng sanh muốn cầu đạo vô thượng Bồ-đề th́ phải lập ba thời kỳ tu tập. Hai mươi mốt ngày đầu phải thành tâm sám hối nghiệp chướng từ vô thủy, sau đó chánh tâm tư duy. Trong thời gian tu nếu có hiện ra cảnh giới không đúng như chỗ đă nghe dạy th́ chớ có chấp thủ. Nếu siêng năng tu ba pháp Chỉ, Quán, Thiền được thành tựu th́ gọi là Phật hiệân thế. Nếu người độn căn, nghiệp chướng sâu dày tu ba pháp này không kết quả th́ phải siêng năng sám hối tội lỗi từ vô thủy, khi nghiệp chướng tiêu rồi th́ cảnh Phật hiện tiền. 

]

 


[mục lục][kinh viên giác giảng giải]

[c1][c2][c3][c4][c5][c6][c7][c8][c9][c10][c11][c12]

[Trang chu] [Kinh sach]