KINH VIÊN GIÁC GIẢNG GIẢI
[mục lục][kinh viên giác giảng giải]
[c1][c2][c3][c4][c5][c6][c7][c8][c9][c10][c11][c12]
|
CHƯƠNG IX: BỒ-TÁT TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG THƯA HỎI 1. ÂM : Ư thị Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường qú xoa thủ nhi bạch Phật ngôn: - Đại bi Thế Tôn vị ngă đẳng bối quảng thuyết như thị bất tư ngh́ sự nhất thiết Như Lai nhân địa hành tướng, linh chư đại chúng, đắc vị tằng hữu đổ kiến Điều Ngự lịch hằng sa kiếp, cần khổ cảnh giới, nhất thiết công dụng, do như nhất niệm, ngă đẳng Bồ-tát thâm tự khánh ủy. Thế Tôn, nhược thử giác tâm, bản tánh thanh tịnh. Nhân hà nhiễm ô sử chư chúng sanh mê muộn bất nhập? Duy nguyện Như Lai quảng vị ngă đẳng khai ngộ pháp tánh linh thử đại chúng cập mạt thế chúng sanh tác tương lai nhăn. Tác thị ngữ dĩ ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh chung nhi phục thủy. DỊCH : Lúc bấy giờ Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải ba ṿng, qú gối chấp tay bạch Phật rằng: - Đấng Thế Tôn đại bi, v́ bọn chúng con rộng nói việc bất tư ngh́ như thế, tất cả hành tướng nhân địa của Như Lai, khiến cho đại chúng được điều chưa từng có, xem thấy đấng Điều Ngựï trải qua cảnh giới siêng năng cần khổ trong hằng sa kiếp, tất cả công dụng giống như trong một niệm, Bồ-tát chúng con thâm tâm tự thích thú. Thưa Thế Tôn, nếu tâm Viên giác này tánh vốn thanh tịnh, tại sao bị nhiễm ô, khiến cho chúng sanh mê muộn không vào được? Cúi mong đức Thế Tôn rộng v́ bọn chúng con khai ngộ pháp tánh, khiến cho đại chúng này và chúng sanh đời sau (lấy đó) làm mắt trí tuệ. Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, thưa thỉnh như vậy lặp lại ba lần. GIẢNG : Tịnh chư nghiệp chướng là làm sạch hết các nghiệp chướng, cho nên câu hỏi của Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng là: Tánh giác vốn tự thanh tịnh, vậy do nguyên nhân nào bị nhiễm ô? Và v́ sao làm cho chúng sanh mê muội không thể nhập được tánh giác? Phẩm đầu Bồ-tát Văn Thù thưa hỏi về nhân địa tu hành của Phật và chư Bồ-tát, đă được Phật giải đáp một cách rơ ràng. Từ phẩm thứ hai tới phẩm thứ tám, chư Bồ-tát hỏi về phương tiện tu hành cũng đă được Phật chỉ dạy một cách tường tận. Đến phẩm này là giải quyết những điều nghi ngờ: Tại sao có tánh giác mà không nhập được. Chúng ta tu mà không biết được bệnh chướng của ḿnh th́ không thể điều phục để tiến. V́ vậy mà Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng nêu lên vấn đề này xin Phật giải đáp cho chúng ta biết để điều phục. Đây là câu hỏi rất thiết yếu. 2. ÂM : Nhĩ thời Thế Tôn cáo Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ-tát ngôn: - Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng năi năng vị chư đại chúng cập mạt thế chúng sanh tư vấn Như Lai như thị phương tiện. Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết. Thời Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ-tát phụng giáo hoan hỷ cập chư đại chúng mặc nhiên nhi thính. - Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh tùng vô thủy lai, vọng tưởng chấp hữu ngă nhân chúng sanh cập dữ thọ mạng, nhận tứ điên đảo vi thật ngă thể, do thử tiện sanh tắng ái nhị cảnh, ư hư vọng thể, trùng chấp hư vọng. Nhị vọng tương y, sanh vọng nghiệp đạo. Hữu vọng nghiệp cố, vọng kiến lưu chuyển. Yểm lưu chuyển giả, vọng kiến Niết-bàn. DỊCH : Khi ấy đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng rằng: - Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông hay v́ đại chúng và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai phương tiện như thế. Vậy các ông hăy lắng nghe, ta sẽ v́ các ông nói. Khi ấy Bồ-tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng vâng lời dạy hoan hỷ cùng đại chúng lặng lẽ lắng nghe. - Này thiện nam, tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay do vọng tưởng chấp có ngă, nhân, chúng sanh và thọ mạng, nhận bốn thứ điên đảo làm ngă thể thật, do đây liền sanh hai cảnh yêu ghét. Đối với thể hư vọng lại thêm một lớp chấp hư vọng. Hai cái vọng này nương nhau sanh ra nghiệp đạo hư vọng. V́ có nghiệp đạo hư vọng nên vọng thấy lưu chuyển. Do nhàm chán lưu chuyển nên vọng thấy Niết-bàn. GIẢNG : Đây Phật chỉ cái nhân mê lầm sâu xa của chúng sanh là chấp ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Mọi người ai cũng có tánh giác thanh tịnh tṛn sáng mà không sống được với tánh giác của ḿnh, cứ khởi vọng niệm chấp ta, chấp người, chấp cảnh… nên trôi lăn trong luân hồi sanh tử chịu khổ đau không có ngày an ổn. Chấp ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng ở kinh này khác với ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng ở kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương nói chấp ngă là chấp tướng do tứ đại ngũ uẩn hợp lại cho là ta thật, đó là chấp ngă. Chấp nhân là chấp tướng do tứ đại ngũ uẩn hợp lại thành chúng sanh ngoài ḿnh gọi là chấp nhân. Thấy chúng sanh chẳng phải một người mà vô số người gọi là chấp chúng sanh. Thấy tất cả chúng sanh có mạng sống kéo dài năm, sáu mươi năm hay bảy, tám mươi năm… đó là chấp thọ mạng. Kinh Kim Cương chỉ bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng nơi con người, bốn tướng này là vọng chấp cạn cợt của phàm phu; c̣n bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng của kinh Viên Giác là bốn tướng mà hàng tu hành chấp. Người tu hành đă bước lên hàng Thánh giả cũng vẫn c̣n chấp tướng đó cho nên mắc kẹt không hoàn toàn nhập tánh Viên giác. Bốn tướng này do tu tiến mà chấp chớ không phải bốn tướng thông thường của phàm phu chấp. Quí vị nên lưu ư để hiểu chỗ này mới không thấy lạ ở đoạn sau. Song, dù bốn tướng của phàm phu chấp hay bốn tướng của người tu bước lên hàng Thánh chấp cũng đều gốc ở chấp ngă mà ra. Thế nên Phật nói do điên đảo lầm chấp bốn món đất, nước, gió, lửa cho là ta. Bốn món này không thuận hợp nhau, nước th́ không ưa lửa, lửa nhiều nước khô cạn, lửa th́ không chịu nước, nước nhiều lửa tắt, đất với gió cũng vậy. Bốn món này luôn luôn trái nghịch, ở chung một chỗ th́ chống đối nhau khiến cho chúng ta đau khổ. Giống như bốn tên giặc ở chung một nhà, mỗi tên có một hướng khác, lúc nào cũng sẵn sàng chống cự nhau, nếu trong bốn đứa mà có một đứa thua th́ chúng ta khổ. Do nhận lầm nó là ta cho nên chúng ta khổ dài dài không lúc nào an ổn, măi sống trong hồi hộp lo âu. Trời chuyển mưa cũng sợ, v́ mưa thêm nước lạnh, lửa trong thân không đủ ấm th́ phát run. Nắng gắt quá cũng sợ, v́ thêm lửa nóng quá nên đau đầu. Chúng ta đang mang một cái tổng hợp mâu thuẫn tột độ nơi cơ thể mà lại nhận là ta, lúc nào cũng bảo vệ ch́u chuộng nó đủ cách, rồi cũng v́ nó tạo không biết bao nhiêu nghiệp tội. V́ vậy mà đức Phật nói chúng ta nhận giặc làm con nên gia sản bị nó phá sạch. Kiểm lại xem có người nào không lầm nhận như vậy không ? Trước hết Phật chỉ cho thấy những cái lầm. Cái lầm thứ nhất là bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng không thật mà cho là thật. Cái lầm thứ hai là thuận theo ngă th́ ta yêu, nghịch với ngă là ta ghét. Cái lầm thứ ba là do yêu ghét nên tạo nghiệp: yêu th́ tạo nghiệp ái, ghét th́ tạo nghiệp tắng. Thứ tư là tạo nghiệp rồi theo nghiệp đi trong luân hồi chịu khổ đau. Đức Phật chỉ cho chúng ta biết gốc của mê lầm là chấp ngă. Đối với bốn tướng hư vọng không thật lại chấp là thật là cái hư vọng thứ nhất. Khi chấp bốn tướng, ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng rồi sanh yêu ghét là cái hư vọng thứ hai. Hai cái vọng này làm nhân duyên cho nhau mà sanh ra vọng nghiệp đạo. Bởi có vọng nghiệp nên mới vọng thấy sanh tử lưu chuyển. Tất cả những lớp đó đều là những lớp vọng; thân mạng vọng, nghiệp vọng, luân hồi cũng vọng. Đó là chiều thuận của phàm phu. Bây giờ có người chán những cái vọng đó, nhất là chán luân hồi nên vọng thấy có Niết-bàn th́ Niết-bàn cũng vọng. Hàng Nhị thừa tu hành thấy ḿnh chứng được Niết-bàn th́ Niết-bàn là cái bị chứng, ḿnh là cái hay chứng. Như vậy ngă chấp vẫn c̣n, nó c̣n tiềm ẩn chưa hết. Thế nên nói vọng thấy Niết-bàn chớ chưa phải là Niết-bàn thật. Tánh Viên giác không có bốn tướng, nếu c̣n thấy bốn tướng th́ chưa nhập được tánh Viên giác. Đức Phật chỉ thật là thấu đáo, chúng ta không c̣n ngờ vực nữa. Nếu xét thấy bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng là hư vọng, th́ trước khi ḿnh ra đời là cái ǵ ? Biết ḿnh là cái ǵ không? Mờ mờ mịt mịt không biết ḿnh là cái ǵ! Bây giờ do các duyên hợp lại thành thân này, rồi mai kia ta ngừng thở sẽ đi đâu? Cũng mờ mờ mịt mịt không biết đi đâu. Trước khi sanh không biết ḿnh là ǵ, sau khi chết không biết ḿnh ra sao. Không biết ḿnh ở giai đoạn trước, không biết ḿnh ở giai đoạn sau, giai đoạn giữa chợt có thân liền chấp là ḿnh, thật vô lư làm sao! Nếu ḿnh thật th́ trước phải có sau phải c̣n. Nhưng trước không biết ra sao hết, chợt có một lúc rồi mất. Như vậy đâu phải thật. Giả sử chúng ta nh́n mặt hồ thấy mặt hồ đang phẳng lặng, chợt có một con cá trồi lên đớp bọt nổi trên mặt hồ. Mặt hồ vốn phẳng lặng, bỗng có ḥn bọt nổi lên một lát mất. Vậy ḥn bọt đó sánh với mặt hồ có nghĩa lư ǵ không? Trước chỉ là mặt hồ phẳng lặng, không bọt không sóng, chợt có ḥn bọt nhỏ nổi lên lăn tăn một lát rồi mất. Thân này cũng vậy, trước khi chưa sanh chúng ta không biết là ǵ, rồi sau khi mất cũng không biết ra sao. Chỉ biết trong giai đoạn mấy chục năm khi cha mẹ sanh ra, lớn lên, ăn nói, vui buồn, lăng xăng một lúc rồi mất, vậy mà chấp khoảng thời gian lăng xăng lộn xộn đó là ta thật. Thật sao được mà thật, nếu thật phải có măi về trước và măi về sau mới được! Tuổi thọ cũng vậy, nhiều người sống tới sáu bảy chục tuổi, hănh diện cho rằng ḿnh có tuổi thọ dài lâu. Nhưng đến sáu bảy mươi tuổi là lúc thân già bệnh hoạn sắp chết, thân ră tan th́ có ǵ mà hănh diện? Nếùu nh́n lui ôn lại quăng đời đă qua th́ trống rỗng, nếu có c̣n th́ c̣n những cái vụn vặt li ti chẳng có nghĩa ǵ hết. Rồi tới ngày mai thân này sẽ ra sao? Điều này không thể biết. Vậy thọ mạng có dài lâu thật không? Nếu dài lâu thật th́ phải sống hoài không chết, v́ chết nên thọ mạng không thật. Đức Phật nói chúng sanh điên đảo nhận bốn tướng đó là thật, rồi tùy theo thương ghét mà tạo nghiệp thiện hay ác, đă tạo nghiệp rồi th́ nghiệp nó không tha, cứ lôi đi chẳng khác nào người tự tử, tự cột dây trên cây để sẵn ṿng, rồi tḥ đầu vô, buông thơng tay chân, ṿng dây xiết cổ, giẫy giụa rồi tắt thở. Đó là tự ḿnh tạo rồi tự ḿnh chịu lấy, không ai tạo cho ḿnh mà cũng không ai chịu thế cho ḿnh. Chính v́ cái bệnh trầm kha ấy thúc đẩy, khiến chúng ta tạo nghiệp lưu chuyển trong ṿng luân hồi không bao giờ dừng, nên Phật gọi là vọng kiến lưu chuyển. Vọng kiến là cái thấy sai lầm chấp thân này thật. V́ chấp thân là ḿnh thật nên nó vừa mất là vội t́m thân khác, hoặc v́ chấp ta chấp người nên có thương có oán rồi t́m nhau gặp nhau… Nếu trên đường lưu chuyển mà tu, tuy có chán sự lưu chuyển, nhưng c̣n quí cái thân nên vọng thấy có Niết-bàn để cho ta an trú. Đa số người thấy cơi Ta-bà khổ, chán quá muốn t́m cơi khác sướng hơn, đó cũng là vọng kiến. V́ đă mang cái bệnh chấp ngă nên lúc nào cũng nghĩ đến cái ngă, tu cũng v́ cái ngă mà tu. Chúng ta muốn tu hành cho đạt đạo th́ phải phá vỡ bản ngă. Nếu bệnh chấp ngă không giảm th́ tu ngàn đời cũng không giải thoát, nếu gắng tu có phước th́ đời sau cái ngă tốt hơn đời này một chút, đó là chuyện thực của sự tu hành. Cho nên ở đây Phật nói, từ cái vọng kiến lưu chuyển rồi chán cái lưu chuyển th́ được cái vọng kiến Niết-bàn. Nói cảnh Niết-bàn th́ họ nghĩ tu để được Niết-bàn và có chỗ để ḿnh ở. Từ bệnh đó mà hiểu lệch lạc ư nghĩa lời Phật dạy. 3. ÂM : Do thử bất năng nhập thanh tịnh giác, phi giác vi cự chư năng nhập giả, hữu chư năng nhập, phi giác nhập cố, thị cố động niệm cập dữ tức niệm giai qui mê muộn. DỊCH : Do bệnh này nên không nhập tánh Viên giác thanh tịnh, chẳng phải tánh Viên giác chống cự không cho người thể nhập. Và người thể nhập được, không phải tánh Viên giác cho nhập. Thế nên khởi niệm và dừng niệm đều là mê muội. GIẢNG : Do chấp ngă nên không thể nhập tánh Viên giác thanh tịnh được, chớ không phải tánh Viên giác ngăn cản chống cự không cho vào. Thí dụ trưa nắng chúng ta đang ở trong nhà, nhưng có người ở ngoài đường khiêu khích, chúng ta tức quá chạy ra cự với họ. V́ cái tức nên chạy ra nắng. Đó là về mặt tắng. C̣n ái cũng vậy. Có người ḿnh ưa đứng ngoài nắng, muốn nói chuyện với họ ḿnh cũng phải ra nắng đứng. Cái nhà đâu cấm chúng ta vô, nó mở sẵn cửa nhưng v́ ưa và ghét mà chúng ta không chịu vô. Và người nhập được tánh Viên giác cũng không phải do tánh Viên giác chấp thuận cho vào, mà do không chấp ngă, nhân… mới thể nhập được. Thế nên nói khởi vọng niệm và dứt vọng niệm đều là mê muội. Động niệm là niệm chạy theo cảnh, dứt niệm là đè cho hết niệm để được Niết-bàn, đó là mê rồi. Tánh giác không có động không có dừng. Nếu c̣n thấy có cái hay nhập th́ không phải là nhập tánh Viên giác, v́ tánh Viên giác chính là ḿnh th́ ai hay nhập nữa? Nếu có cái hay nhập th́ tánh Viên giác là cái bị nhập sao ? Mà bị nhập là có người có cảnh. Hễ c̣n người tức là c̣n ngă, c̣n ngă th́ làm sao nhập được tánh Viên giác? Động niệm là mê, v́ ngă mà dứt niệm th́ cũng c̣n mê chớ chưa phải thực là giác. 4. ÂM : Hà dĩ cố? Do hữu vô thủy bản khởi vô minh vị kỷ chủ tể. Nhất thiết chúng sanh, sanh vô tuệ mục, thân tâm đẳng tánh giai thị vô minh. Thí như hữu nhân bất tự đoạn mệnh, thị cố đương tri hữu ái ngă giả, ngă dữ tùy thuận, phi tùy thuận giả tiện sanh tắng oán. Vị tắng ái tâm dưỡng vô minh cố, tương tục cầu đạo giai bất thành tựu. DỊCH : V́ cớ sao? V́ gốc vô minh khởi từ vô thủy làm chủ tể ḿnh. Tất cả chúng sanh sanh ra không có mắt tuệ, thân tâm bản tánh nó đều là vô minh v.v… Thí như có người không thể tự giết ḿnh, thế nên phải biết có cái ái ngă, ngă cùng tùy thuận; nếu chẳng tùy thuận liền sanh oán ghét. V́ tâm yêu ghét nuôi lớn vô minh, nên tiếp tục cầu đạo đều không thành tựu. GIẢNG : Ở đây Phật dùng thí dụ như ḿnh không thể tự chặt đầu ḿnh được, v́ vô minh sẵn từ vô thủy, nó làm chủ ḿnh nên thân tâm này mang nặng chất vô minh. Đă coi vô minh là ḿnh th́ ḿnh đâu dám giết ḿnh. Không dám dứt vô minh chỉ v́ vô minh làm chủ ḿnh. Đức Phật lặp lại để cho thấy rơ thêm, v́ không trí tuệ và vô minh chấp ngă yêu ngă nên cái ǵ hợp với ngă th́ yêu, cái ǵ không thích hợp với ngă th́ oán ghét, đó là bệnh chung của chúng sanh. Nếu c̣n mang bệnh đó mà cầu đạo th́ không bao giờ thành tựu, nghĩa là cầu đạo bằng bản ngă th́ không bao giờ thành đạo. Một số người có thiện chí tu, họ có thể nhịn đói, ăn rau ăn quả, sống hết sức kham khổ. Khi họ loé thấy được một cái ǵ là họ tự xưng ta chứng đạo, ta có thần thông…, thấy có sở chứng như vậy là bệnh rồi! Cũng chịu khổ nhọc để tu hành, nhưng tu v́ cái ngă nên càng tu càng xa đạo. Xa đạo là v́ bản ngă thấy ta đây có sở chứng sở đắc, ta là Bồ-tát là Phật… Tu như vậy là rơi vào đường tà, thế nên người tu hành chân chánh là phải phá cho được cái ngă. Ai tu mà cái ngă cao th́ dầu cho người đó một ngày ngồi thiền mười hai tiếng đồng hồ cũng chưa phải là cao. C̣n người trọn ngày đi làm việc mà ai khen cũng được, chê cũng cười, ăn ngon cũng được, ăn dở cũng chẳng chê, người đó mới là người gần với đạo v́ cái ngă của họ thấp. Người cố gắng tu cho thật nhiều, tu cho hơn người, hễ có niệm hơn người là đă xa đạo rồi. 5. ÂM : Thiện nam tử, vân hà ngă tướng? Vị chư chúng sanh tâm sở chứng giả. Thiện nam tử, thí như hữu nhân bá hài điều thích, hốt vong ngă thân, tứ chi huyền hoăn, nhiếp dưỡng quai phương vi gia châm ngải, tức tri hữu ngă, thị cố chứng thủ phương hiện ngă thể. DỊCH : Này thiện nam tử, thế nào gọi là ngă tướng? Nghĩa là các chúng sanh tâm c̣n có sở chứng. Này thiện nam, như có người toàn thân điều ḥa an ổn chợt như quên ḿnh, tay chân thư thả, nhưng khi điều dưỡng trái nghịch, có sự châm đốt nhỏ liền thấy có ngă. V́ thế mà chứng biết có cái Ta. GIẢNG : Ví dụ khi làm mệt chúng ta nằm dài ra nhắm mắt lại, thân thể điều ḥa, lúc đó coi như quên bản ngă, nhưng bất thần có sự châm chích rất nhỏ nhiệm th́ bản ngă trồi dậy liền. Nghĩa là khi an ổn th́ dường như quên bản ngă, nhưng động tới th́ bản ngă trồi dậy ngay. Như bây giờ quư vị ngồi nghe tôi giảng thân thể điều ḥa, lúc ấy bản ngă dường như không có, nhưng nếu ra đường gặp sự không vừa ư, hoặc vô cớ bị người ta mắng chửi mạ nhục th́ bản ngă trỗi dậy y nguyên. Đó là cái ngă thô. C̣n cái ngă tế là người dụng công tu, khi tâm hơi yên, thấy có những tướng lành hiện ra, bèn cho là ḿnh đă chứng đắc, thế là bệnh. Tu khó ở chỗ đó. Người không hiểu tưởng tu ăn chay là khó, tưởng tụng kinh ngồi thiền là khó. Thực sự những cái đó không khó mà phá ngă mới là khó. V́ đó là cái chấp muôn đời của chúng sanh chớ không phải một đời, phá được bản ngă thực là cay đắng. Nếu không phá được bản ngă th́ dầu có tu cũng lẩn quẩn trong ṿng luân hồi, lên cao một chút hưởng hết phước rồi cũng tuột xuống. Lên xuống lẩn quẩn chớ không bao giờ giải thoát sanh tử. V́ vậy nên nói c̣n cái tâm sở chứng là c̣n ngă tướng. 6. ÂM : Thiện nam tử, kỳ tâm năi chí chứng ư Như Lai, tất cảnh liễu tri thanh tịnh Niết-bàn, giai thị ngă tướng. DỊCH : Này thiện nam, cho đến tâm kia chứng quả Như Lai hoặc biết rơ Niết-bàn thanh tịnh rốt ráo đều là tướng ngă. GIẢNG : Tâm kia là tâm c̣n thấy có ngă, hoặc nói tôi đắc quả Phật, hoặc nói tôi thấy có tướng Niết-bàn thanh tịnh… cũng là tâm thấy có ngă. Do đây chúng ta mới thấy rơ ư nghĩa thâm sâu của lời Phật nói: “Không thấy có pháp A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề để đắc nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kư ta thành Phật.” Vậy ai tu hành mà cứ khoe tôi chứng cái này đắc cái kia, sự chứng đắc đó là hiện thân của bản ngă, mà hiện thân của bản ngă là vô minh chớù không phải chứng đắc. Người thế gian th́ hay nghe, hễ ai khoe chứng khoe đắc th́ lễ bái, cho rằng vị đó là Bồ-tát là Phật. Người biết đạo nghe nói chứng đắc là bỏ đi liền, v́ đó là cái tướng của ma quái chớ không phải của người tu chân chánh. Nhưng rất tiếc một số Phật tử thuần thành cũng bị lầm, hễ nghe ai nói chứng đắc hay nói chuyện quá khứ vị lai là bái phục, và cũng thích t́m thầy để hỏi chuyện quá khứ vị lai nữa. Như vậy mới biết không phải người thế gian lầm mà người trong đạo cũng lầm. Nếu người học đạo, nghiên cứu kinh Phật kỹ và có tập tu chút chút, nghe người nào nói quá khứ vị lai nói chứng đắc là bái lui, không ở đó mà nghe cho hết chuyện. Khi nghe một vị thầy dạy tu, chúng ta phải dùng trí tuệ nhận xét xem vị đó dạy có đúng với tinh thần của Phật dạy trong kinh hay không, đem áp dụng vào đời sống có được lợi ích hay không, chớ chúng ta nghe đâu tin đó là càng học càng mê. Phật dạy, tu mà c̣n thấy chứng là c̣n chấp ngă, dù cho chứng được quả Như Lai, hay thấy được Niết-bàn thanh tịnh, đó là hiện tướng của bản ngă chớ không phải tu cao. Như vậy để thấy bệnh chấp ngă là một căn bệnh nặng khó trị nhất. Thế nên người ngồi tu mà cứ mong chứng cái này đắc cái kia là bệnh, tu chỉ mong hết vô minh vọng tưởng, đừng mong cái ǵ khác hơn. Như lau gương không phải mong gương phát sáng mà chỉ mong hết bụi, v́ biết gương tự nó đă sáng, lau hết bụi th́ gương sáng. Cũng vậy mỗi người đều có tánh giác, hễ tu hết vô minh vọng tưởng th́ tánh giác hiện bày, chớ c̣n cầu chứng đắc là c̣n tướng ngă. 7. ÂM : Thiện nam tử, vân hà nhân tướng? Vị chư chúng sanh tâm ngộ chứng giả. Thiện nam tử, ngộ hữu ngă giả bất phục nhận ngă, sở ngộ phi ngă, ngộ diệc như thị. Ngộ di siêu quá nhất thiết chứng giả, tất vi nhân tướng. Thiện nam tử, kỳ tâm năi chí viên ngộ Niết-bàn câu thị ngă giả. Tâm tồn thiểu ngộ bị đàn chứng lư, giai danh nhân tướng. DỊCH : Này thiện nam, thế nào là tướng nhân? Nghĩa là trong tâm chúng sanh ngộ cái chứng đó. Này thiện nam, ngộ có ngă, lại chẳng nhận là ngă, chỗ ngộ chẳng phải ngă, ngộ cũng như thế. Ngộ này vượt hơn tất cả cái chứng, đều là nhân tướng. Này thiện nam, cho đến tâm kia viên ngộ Niết-bàn cũng đều là ngă. Tâm c̣n một chút ngộ cho rằng chứng lư đầy đủ đều gọi là nhân tướng. GIẢNG : Ở đây tế nhị hơn trước một chút, trước thấy ḿnh có sở chứng là ngă tướng, giờ đến nhân tướng th́ thấy ḿnh có ngộ. Tại sao vậy? Bởi v́ nếu thấy có ngộ th́ cũng c̣n có ngă. Thông thường nói ngộ rồi mới chứng, tại sao ở đây nói ngộ vượt hơn chứng? V́ chứng ở đây không phải thực chứng mà khởi niệm cho rằng ḿnh chứng quả này quả kia. Tu mà mong được kết quả, v́ bản ngă mà mong, đó là ngă tướng. Ngộ là mong thấy lư, siêu hơn chứng một chút, v́ lư cho nên vượt hơn cái chứng ở trên. Khi thấy lư th́ tâm c̣n nghĩ viên ngộ Niết-bàn. Nghĩ như vậy là vẫn c̣n có ngă v́ phải ngộ được Niết-bàn tṛn đầy, cho nên nói trong tâm c̣n một chút biết ḿnh ngộ gọi là đầy đủ cái chứng lư th́ người đó c̣n nhân tướng. Tại sao vậy? Bởi v́ ngộ là khai ngộ, khai ngộ là đạt lư, chứng là kết quả, mà có kết quả là được cái này được cái kia cho nên thuộc về ngă, ngộ thuộc về lư thuộc về tâm, nên nói c̣n một tí xíu biết ḿnh ngộ th́ cũng là đầy đủ cái chứng lư đó là người c̣n nhân tướng. Tại sao vậy? Hỏi ai ngộ? Ta ngộ. Ngộ khác hơn chứng một chút, chứng th́ thực tế ở nơi người, c̣n ngộ th́ nó hơi thiên về lư nên thuộc về trí. Bởi thuộc về trí cho nên nói là nhân, cũng như ḿnh th́ thiết thực nơi bản thân, c̣n người th́ nó rời ra ngoài, cái ngă th́ nó thuộc về bản chất thực tế, c̣n lư tức là trí th́ nó có cái vẻ trừu tượng nên nó vượt hơn cái chứng ở trước. Tu hành mà c̣n thấy có một chút ngộ cũng là bệnh. Đối với người tu theo Phật hay người tu theo thiền th́ thường nói ngộ rồi cũng đồng chưa ngộ, không thêm không bớt ǵ. Bởi v́ ngộ là thấy được cái thật có sẵn nơi ḿnh mà trước kia chưa thấy. Ngộ chỉ là danh từ tạm thôi, nếu chấp ngộ là thật đó là nhân tướng. 8. ÂM : Thiện nam tử, vân hà chúng sanh tướng? Vị chư chúng sanh tâm tự chứng ngộ sở bất cập giả. Thiện nam tử, thí như hữu nhân, tác như thị ngôn ngă thị chúng sanh, tắc tri bỉ nhân thuyết chúng sanh giả, phi ngă phi bỉ. Vân hà phi ngă? Ngă thị chúng sanh, tắc phi thị ngă. Vân hà phi bỉ? Ngă thị chúng sanh phi bỉ ngă cố. Thiện nam tử, đản chư chúng sanh liễu chứng liễu ngộ giai vi ngă nhân phi ngă nhân tướng sở bất cập giả, tồn hữu sở liễu danh chúng sanh tướng. DỊCH : Này thiện nam thế nào là tướng chúng sanh? Nghĩa là các chúng sanh chỗ tâm tự chứng ngộ không đến kịp. Này thiện nam, ví như có người nói như thế này, ta là chúng sanh ắt biết người nói chúng sanh đó chẳng phải ngă chẳng phải bỉ (nhân). Thế nào chẳng phải ngă? V́ ta là chúng sanh ắt không phải ngă. Thế nào chẳng phải bỉ? V́ ta là chúng sanh nên chẳng phải ngă của người khác (bỉ). Này thiện nam, nhưng các chúng sanh liễu chứng liễu ngộ đều là ngă nhân, mà tướng ngă nhân người khác không đến kịp, c̣n có sở liễu gọi là chúng sanh tướng. GIẢNG : Chứng là tướng ngă, ngộ là tướng nhân và liễu là tướng chúng sanh, đối với tướng chúng sanh vi tế hơn tướng ngă tướng nhân. Liễu là dùng trí liễu tri không chứng không ngộ. Nếu c̣n liễu tri chứng và ngộ không thật là c̣n ngă. V́ ḿnh c̣n dụng công tu mới liễu tri chứng và ngộ không thật, vậy th́ liễu tri cũng là dụng của ngă. Song liễu tri vi tế hơn chứng và ngộ, nên nói chứng và ngộ không đến kịp. Đây gọi liễu tri là tướng chúng sanh. Để cho dễ hiểu Phật mới ví dụ: Tôi không phải là ngă, v́ tôi là chúng sanh nên không phải ngă. Tôi không phải là nhân, v́ tôi là chúng sanh nên không phải nhân. Ngă là chỉ cho ḿnh, nhân là chỉ cho người khác, chúng sanh th́ trùm hết. Gọi chúng sanh th́ thoát ra khỏi tên ngă tên nhân, nhưng chúng sanh cũng là trá h́nh của ngă, ngă vi tế hơn. V́ quá vi tế nên người tu thiền dễ bị lầm lẫn. Chẳng hạn như người tu thể nhập tánh Viên giác th́ tâm hoàn toàn lặng lẽ sáng suốt, không một niệm dấy khởi dù là niệm vi tế rằng ḿnh đang lặng lẽ, ḿnh chẳng phải chứng, ḿnh chẳng phải ngộ. C̣n khởi niệm là bệnh. 9. ÂM : Thiện nam tử, vân hà thọ mạng tướng? Vị chư chúng sanh tâm chiếu thanh tịnh giác sở liễu giả nhất thiết nghiệp trí sở bất tự kiến, do như mạng căn. DỊCH : Này thiện nam, thế nào là tướng thọ mạng? Nghĩa là các chúng sanh tâm chiếu thanh tịnh đă giác được cái sở liễu, tất cả nghiệp trí không thể tự thấy ví như là mạng căn. GIẢNG : Thọ mạng là giác chiếu, giác chiếu là c̣n có một cái sáng soi. Tức là dùng trí tuệ giác chiếu cái liễu tri là không thật, v́ ngă chấp vẫn c̣n. Song c̣n giác chiếu cũng thuộc về tướng thọ mạng. Tướng thọ mạng vi tế hơn tướng chúng sanh, tướng này khó biết, như thọ mạng trong con người chúng ta, chúng ta thấy được không? Tướng ngă, tướng nhân ai cũng thấy, tướng chúng sanh cũng thấy được, nhưng thọ mạng là khi người đó c̣n đi c̣n đứng c̣n nói th́ biết người đó sống, c̣n mạng sống ngầm ngầm trong đó chúng ta đâu thấy. V́ vậy mạng sống là cái tế nhị không có tướng trạng. Ở đây nói chỉ là một cái chiếu soi, cái tâm chiếu này là cái mà tất cả trí nghiệp không thể thấy được. Những trí nghiệp thường không thể thấy được bệnh đó nên gọi là mạng căn. C̣n có cái chiếu tánh giác thanh tịnh th́ mạng căn chưa dứt, nên nói rằng có tướng thọ mạng. Tôi ví dụ như ngồi thiền, lúc đầu vọng tưởng dấy khởi nhiều và mạnh, lúc đó chúng ta phá vọng tưởng bằng cách nh́n và nói vọng tưởng không thật, nh́n và nói một hai lần như vậy vọng tưởng mới lặng. Sau đó vọng tưởng dấy lên chúng ta không nh́n và nói vọng tưởng không thật nữa, mà chỉ dùng trí quán vọng tưởng không thật th́ vọng tưởng lặng. Sau đó nữa, vọng tưởng dấy khởi, chúng ta không c̣n quán vọng tưởng không thật , chỉ nh́n nó một cách nhẹ nhàng th́ vọng tưởng lặng. Như vậy đối trị vọng tưởng từ thô đến tế qua những giai đoạn khác nhau. Lúc đầu phải nh́n và nói vọng tưởng không thật để phá vọng tưởng, giai đoạn này có năng có sở rơ ràng. Sau đó dùng trí quán vọng tưởng không thật , giai đoạn này cũng c̣n năng c̣n sở. Lần lần không c̣n nh́n, không c̣n nói, không c̣n quán, chỉ giác biết là nó tan. Chúng ta thấy dường như không c̣n năng sở nữa, nhưng kỳ thật vẫn c̣n, chỉ khi nào không c̣n quán, không c̣n chiếu, chỉ một tâm lặng lẽ sáng suốt như như mới thuần là bản giác thanh tịnh không sanh không diệt, đây là chỗ cứu cánh thành Phật. Những bệnh chấp ngă, nhân, chúng sanh, thọ mạng ở đây không phải là bệnh của phàm phu mà là bệnh của người tu chứng. V́ Phật muốn cho chúng ta thể nhập được tánh Viên giác nên mới chỉ tế nhị như thế. Chúng ta tu là phải biết thấu đáo để khi tu, giả sử chúng ta thấy có tướng lạ ǵ, không lấy đó làm sở chứng sở đắc khoe khoang thành bệnh. 10. ÂM : Thiện nam tử, nhược tâm chiếu kiến nhất thiết giác giả giai vi trần cấu, giác sở giác giả bất ly trần cố, như thang tiêu băng, vô biệt hữu băng tri băng tiêu giả, tồn ngă giác ngă diệc phục như thị. DỊCH : Này thiện nam, nếu tâm soi thấy tất cả cái giác đều là trần cấu th́ cái giác sở giác chẳng ĺa trần, như nước nóng làm tan băng, không riêng có băng biết băng tan, c̣n ngă để giác cái ngă cũng lại như thế. GIẢNG : Chính ḿnh tu để ḿnh giác cũng chưa phải, v́ c̣n có cái sở giác để ḿnh năng giác, năng sở là đối đăi, mà c̣n đối đăi là c̣n hai bên cho nên không nhập tánh Viên giác được. Tới chỗ cuối cùng th́ năng sở đều bặt, năng sở không c̣n mới đi tới chỗ cứu cánh. Mục thứ tám của mười bức tranh chăn trâu chỉ là một ṿng tṛn không c̣n người chăn không c̣n trâu, người chăn và trâu phải tiêu vong mới đi tới chỗ chim bay về tổ, nước chảy về nguồn. Sau cùng mới buông thơng tay vào chợ, chớ c̣n người chăn c̣n trâu là chưa xong. Vừa thấy ḿnh có cái để chứng để ngộ để liễu để giác là có lỗi. Phật mới ví như nước nóng mà chế trên băng. Nếu chúng ta cứ chế nước nóng trên khối nước đá th́ nước đá sẽ tan. Khi tan ra nó có biết nó đang tan ra không? Không. Khi tan ra th́ nước nóng và nước đá có thành hai thứ hay không? Không. Như vậy, là năng sở không có, chính khi năng sở bặt dứt ấy mới nhập được tánh Viên giác. Quí vị thấy Thiền sư không bao giờ chấp nhận hai bên, v́ c̣n hai bên là c̣n năng sở, mà c̣n năng sở th́ không bao giờ vào được biển Viên giác thanh tịnh. Như vậy là các Thiền sư đi vào chỗ không năng chứng sở chứng, năng ngộ sở ngộ, năng liễu sở liễu, năng giác sở giác, nên mới nhập vào được thể Viên giác thanh tịnh. Các Thiền sư nói thấy được chỗ này rồi như người câm nằm mộng. Nằm mộng thấy đủ thứ, sáng ra muốn kể cho người khác nghe, không biết làm sao mà kể. Chỗ này cũng vậy, nói ra là nằm trong năng sở. Nên Tô Đông Pha nói rằng: “Ban đêm thấy được tám muôn bốn ngàn bài kệ, sáng ra không biết tŕnh cái ǵ với người đây.” Thiền sư Việt Nam th́ nói: “Bất tương hà ngữ dĩ truyền tâm (Không biết đem lời ǵ để truyền tâm cho được).” 11. ÂM : Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh bất liễu tứ tướng, tuy kinh đa kiếp cần khổ tu đạo, đản danh hữu vi, chung bất năng thành nhất thiết thánh quả. Thị cố danh vi chánh pháp mạt thế. DỊCH : Này thiện nam, chúng sanh đời sau không rơ bốn tướng, tuy trải qua nhiều kiếp cần khổ tu hành chỉ gọi là hữu vi, trọn không thể thành tựu được tất cả thánh quả. Cho nên gọi là chánh pháp mạt thế. GIẢNG : Đức Phật nói những chúng sanh sau này tu hành không rơ bốn tướng, dù siêng năng tu hành mà rốt cuộc chỉ thuộc về pháp hữu vi chớ không được thành thánh quả. Tu như vậy là mạt pháp ở trong thời chánh pháp. Nếu chúng ta ở trong thời mạt pháp mà tu hành phá được bốn tướng th́ nói ngược lại là chánh pháp ở trong thời mạt pháp. Như vậy, chánh pháp hay mạt pháp là do chúng ta tu theo pháp hữu vi hay vô vi. Nếu tu theo pháp hữu vi để thụ hưởng, đó là chánh pháp trở thành mạt pháp. Nay nếu tu theo pháp vô vi để giải thoát sanh tử th́ mạt pháp trở thành chánh pháp. Như vậy, chỗ chí yếu là phải đạt đạo chớ không phải đời này hay đời kia. 12. ÂM : Hà dĩ cố? Nhận nhất thiết ngă vi Niết-bàn cố, hữu chứng hữu ngộ danh thành tựu cố. Thí như hữu nhân nhận tặc vi tử, kỳ gia tài bảo, chung bất thành tựu. DỊCH : V́ cớ sao? V́ nhận tất cả ngă làm Niết-bàn, có chứng có ngộ gọi là thành tựu. Giống như người nhận giặc làm con th́ gia bảo của họ trọn chẳng thành tựu. GIẢNG : Vừa nhận ngă tướng là nhận giặc làm con rồi v́ ngă tướng là vô minh, mà nhận ngă tướng để tu th́ cũng như ôm vô minh mà tu làm sao thành Thánh quả? Khác nào chứa giặc trong nhà, làm sao bảo tŕ được của báu? Cho nên muốn tu thành Thánh quả phải phá tan bản ngă, phải sống với chánh pháp. Nên trong nhà thiền thường nói “Phải tới chỗ đoạn mạng căn đó th́ mới thể nhập được”. Chớ c̣n thấy ḿnh cần có cái để sống để chứng để đắc th́ chưa qua nổi, nhà thiền gọi là lao quan, cái cửa chắc nhất, cứng nhất. Thoát qua cửa đó rồi mới nhập được tánh Viên giác. Đức Phật đă hết lời chỉ dạy chỗ cốt yếu, vậy chúng ta rán nhận cho ra và nắm lấy yếu chỉ đó mà tu hành, để khỏi phụ ḷng Ngài và phụ chí xuất gia của ḿnh. 13. ÂM : Hà dĩ cố? Hữu ngă ái giả diệc ái Niết bàn phục ngă ái căn vi Niết-bàn tướng. DỊCH : V́ cớ sao? V́ ái ngă th́ cũng ái Niết-bàn, dẹp được gốc ái ngă là tướng Niết-bàn. GIẢNG : V́ c̣n ái ngă nên khi tu chúng ta mong có được cảnh an vui như Niết-bàn. V́ thế Niết-bàn do ḷng yêu thích của ḿnh muốn được, rốt cuộc rồi cũng là gốc sanh tử, chưa phải Niết-bàn cứu cánh. Thường người Việt Nam khi đề cập đến cái sướng th́ hay nói sướng như tiên, cảnh nào đẹp đẽ th́ nói đẹp như cảnh tiên. Có nhiều người tu, được hỏi: Muốn thành cái ǵ? Họ trả lời: Thành tiên. Tu mà muốn sướng như tiên, đó cũng là v́ bản ngă mà tu. C̣n chấp ngă là c̣n vô minh chớ chưa thật tỉnh, chưa thật giải thoát sanh tử. Chính v́ vậy tôi thường nói, nếu ai tu theo đạo Phật mà quan niệm ḿnh tu thiền nhưng Phật không dạy cách tu để cho thân khoẻ mạnh sống lâu như đạo Tiên, thôi bây giờ ḿnh lợi dụng pháp tu tiên để sống lâu khoẻ mạnh để có nhiều thời gian tu cho đạt đạo. Nghĩ như thế có lỗi không? Có niệm muốn kéo dài mạng sống là c̣n ái ngă, c̣n ái ngă là c̣n vô minh, ôm vô minh để tu th́ không bao giờ đạt được Thánh quả! Đó là bệnh chớ không phải là Đạo, cũng không phải là Thiền. Chủ yếu của đạo Phật tu là phá ngă, vừa khởi niệm lập ngă là bệnh rồi. Sở dĩ chúng ta thích Niết-bàn v́ biết Niết-bàn là cảnh an vui, và muốn chứng nhập để hưởng thụ, đó là lối tu hữu lậu chớ không phải vô lậu giải thoát. 14. ÂM : Hữu tắng ngă giả diệc tắng sanh tử, bất tri ái giả, chân sanh tử cố, biệt tắng sanh tử, danh bất giải thoát. DỊCH : Có ghét ngă cũng ghét sanh tử, v́ không biết ái chính là sanh tử, riêng ghét sanh tử gọi là không giải thoát. GIẢNG : Có người nói chúng ta khổ v́ sanh tử nên chán ghét sanh tử, phải làm sao tu để ra khỏi sanh tử. Tôi xin hỏi: Ai ra khỏi sanh tử? Có phải ngă không? Thế nên ghét sanh tử không phải là giải thoát, v́ c̣n ngă tướng. Người tu chân chánh th́ không yêu không ghét không cầu không mong, cứ nhậm vận mà tiêu ṃn nghiệp cũ, và không tạo nghiệp đi trong sanh tử nữa mới là giải thoát. Ở thế gian có nhiều người thoạt nh́n thấy như họ hay lắm, nhưng đi sâu mới biết họ bệnh. Chẳng hạn như người nam thấy nữ sắc thích lắm, đó là người bệnh đành rồi; nhưng có người nam đối với nữ sắc, họ chê bai mạt sát, tránh né không dám nh́n, người ấy có bệnh không? Cũng bệnh luôn. Người tham đắm danh lợi không rời, đó là bệnh; c̣n người luôn luôn chửi bới danh lợi, người ấy cũng bệnh luôn. Ngày xưa mấy ông đồ Nho thi rớt làm thơ, chúng ta đọc bài nào cũng thấy họ chửi bới danh lợi. Tại sao? V́ đi thi muốn đậu mà không đậu, nên tức mới chửi bới công danh. Những người chửi nhiều là ham danh lợi nhiều, bệnh cũng nhiều. Chính những người không yêu không ghét mới là người không bệnh. Khi hiểu kỹ rồi chúng ta thấy cơi đời này không có ǵ đáng yêu hay đáng chán, thế gian là như vậy, biết đúng lẽ thật của nó th́ có ǵ ưa chán nữa đâu. Phật, Bồ-tát đâu có chán ghét thế gian, các Ngài c̣n t́m phương tiện đi vào thế gian này độ chúng sanh cho hết khổ kia mà! 15. ÂM : Vân hà đương tri pháp bất giải thoát? Thiện nam tử, bỉ mạt thế chúng sanh tập Bồ đề giả, dĩ dĩ vi chứng vi tự thanh tịnh, do vị năng tận ngă tướng căn bản. Nhược phục hữu nhân tán thán bỉ pháp, tức sanh hoan hỷ, tiện dục tế độ. Nhược phục phỉ báng bỉ sở đắc giả, tiện sanh sân hận. Tắc tri ngă tướng kiên cố chấp tŕ, tiềm phục tạng thức, du hí chư căn tằng bất gián đoạn. Thiện nam tử, bỉ tu đạo giả, bất trừ ngă tướng, thị cố bất năng nhập thanh tịnh giác. DỊCH : Làm sao biết được pháp không giải thoát? Này thiện nam, những chúng sanh đời sau tu đạo Bồ-đề, do đă chứng chút ít mà tự cho thanh tịnh nhưng vẫn chưa đoạn tận gốc ngă tướng. Nếu lại có người khen ngợi pháp của họ, họ liền sanh hoan hỷ, muốn độ người đó. Nếu lại chê bai chỗ sở đắc của họ, họ liền sanh sân hận, tức biết ngă tướng kiên cố chấp tŕ vẫn c̣n ẩn núp nơi tạng thức và luôn lai văng ở các căn không gián đoạn. Này thiện nam, người tu kia không đoạn trừ được ngă tướng nên không nhập được tánh Viên giác thanh tịnh. GIẢNG : Đức Phật chỉ tướng ngă c̣n thầm thầm tế nhị vô cùng, chúng ta tu tập hạnh Bồ-đề giải thoát và được niềm vui vi diệu nho nhỏ cho là tâm được thanh tịnh, nhưng sự thật chưa dứt được cội gốc bản ngă. V́ nếu có người tới khen pháp ḿnh tu th́ vui vẻ hài ḷng, tới chê pháp ḿnh tu tà vạy th́ nổi giận hầm hầm. Vậy rơ ràng bản ngă c̣n kiên cố, c̣n chấp tŕ bền vững chưa mất, c̣n đang ẩn trong tàng thức, đang dạo chơi nơi các căn nên vừa gặp cảnh liền phát ra. Biết vậy rồi chúng ta nên nỗ lực tu, nỗ lực dè dặt đề pḥng ḿnh. Được yên ổn chút ít đừng cho là rồi, chờ gặp cảnh mới biết. Ở đây Đức Phật chỉ thêm cho chúng ta thấy một bệnh nữa là bệnh ái pháp. Ví dụ như ở đây, tôi dạy quí vị tu thiền, quí vị tu một thời gian tâm được yên yên, có người tới khen pháp tu thiền là đốn giáo thích hợp với người lư trí mạnh, quí vị sanh tâm vui mừng, muốn làm thầy tế độ người đó. Ngược lại có người tu Tịnh Độ đến chê tu thiền là bậy, tu riết rồi điên, quí vị liền nổi giận cự với họ. V́ chúng ta c̣n chấp ngă nên khen pháp của ta th́ ta vui mừng, chê pháp của ta th́ ta liền nổi giận. Pháp Phật dạy là để chúng ta tu cho tâm được an ổn, được lợi ích, nhưng chúng ta v́ pháp mà tranh hơn thua th́ mất lợi ích rồi. Đối với người, ai cần tu th́ chúng ta sẵn sàng chỉ cho, ai không cần th́ thôi. Người cho pháp tu của chúng ta sai là cái thấy của họ, họ có quyền phê phán, chúng ta cự lại làm ǵ cho mất ḿnh? Họ nói pháp tu thiền điên mà chúng ta tu không điên th́ có hại ǵ đâu? Chúng ta nổi sân cự lại họ th́ hóa ra tu thiền điên thật rồi! Ḿnh tu ḿnh biết, ai khen ai chê cũng được. Học pháp để tu chớ không phải học pháp để tranh hơn thua. C̣n tranh hơn thua th́ không phải là người chân chánh tu hành, v́ sự tranh hơn thua gốc từ bản ngă. Người c̣n chấp ngă, dù là vi tế, vẫn c̣n vô minh th́ làm sao nhập được tánh Viên giác thanh tịnh? 16. ÂM : Thiện nam tử, nhược tri ngă không, vô hủy ngă giả, hữu ngă thuyết pháp, ngă vị đoạn cố, chúng sanh thọ mạng diệc phục như thị. DỊCH : Này thiện nam, nếu biết ngă không, không phá hoại ngă. C̣n thấy có ta nói pháp, là chưa đoạn sạch ngă tướng, chúng sanh, thọ mạng cũng như thế. GIẢNG : Đức Phật nói: Tuy biết ngă tướng là không, nhưng cũng không nên t́m mọi cách để miệt thị hủy hoại ngă tướng. Nếu c̣n thấy ta là người thuyết pháp th́ ngă tướng cũng chưa đoạn hết. Quí vị c̣n nhớ kinh Kim Cương định nghĩa: Thuyết pháp là không có người hay thuyết, ấy gọi là thuyết pháp. 17. ÂM : Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh, thuyết bệnh vi pháp, thị cố danh vi khả lân mẫn giả. Tuy cần tinh tiến, tăng ích chư bệnh, thị cố bất năng nhập thanh tịnh giác. DỊCH : Này thiện nam, những chúng sanh đời sau nói bệnh làm pháp, thế nên gọi là người đáng thương xót. Tuy cần mẫn siêng năng, nhưng tăng thêm các bệnh. Thế nên không nhập được tánh Viên giác thanh tịnh. GIẢNG : Chúng ta bây giờ nói pháp là nói bệnh làm pháp. Quí vị rán nhớ cho kỹ chỗ này: Người nói pháp, nói một hồi th́ đề cập đến nhóm của ta, đoàn thể của ta… ta và của ta là hơn hết, rồi đả kích người này nhóm kia… Người học đạo chân chánh phải hiểu cho thấu đáo, đừng nghe những vị hướng dẫn sai lầm rồi mắc kẹt trong đó. Chúng ta không khéo tu th́ cái ngă này chưa phá vỡ lại chồng thêm cái ngă khác, tu măi ngàn đời cũng không giải thoát. Nói pháp của Phật mà nói không đúng nên thành bệnh. Lẽ ra đức Phật quở, nhưng Ngài đầy ḷng từ bi, nên chỉ nói những người này đáng thương xót vậy, và nói chúng sanh đời sau nói bệnh làm pháp. Tuy có siêng năng tinh tấn nhưng chỉ làm thêm lớn bệnh của họ thôi, chớ không thể vào được tánh Viên giác thanh tịnh. 18. ÂM : Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh, bất liễu tứ tướng, dĩ Như Lai giải cập sở hành xứ vi tự tu hành, chung bất thành tựu. DỊCH : Này thiện nam, những chúng sanh đời sau chẳng rơ bốn tướng, lấy chỗ hiểu và hành của Như Lai làm chỗ tu hành của ḿnh, trọn không thể thành tựu. GIẢNG : Khuyết điểm lớn của chúng ta là chưa phá được bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả mà lấy chỗ hiểu và hành của Như Lai làm chỗ tu hành của ḿnh nên không thể thành Thánh đạo. V́ chưa phá chấp bốn tướng nên tu theo bản ngă, bởi chấp lời dạy và sở hành của Phật, không hiểu nghĩa lư Phật dạy, tu hành theo cái chấp riêng tư của ḿnh nên không có kết quả. 19. ÂM : Hoặc hữu chúng sanh vị đắc vị đắc, vị chứng vị chứng, kiến thắng tiến giả, tâm sanh tật đố. Do bỉ chúng sanh vị đoạn ngă ái, thị cố bất năng nhập thanh tịnh giác. DỊCH : Hoặc có chúng sanh chưa được nói được, chưa chứng nói chứng, thấy người hơn ḿnh tâm sanh tật đố. Bởi chúng sanh ấy chưa đoạn được ngă ái, cho nên chẳng nhập được tánh Viên giác thanh tịnh. GIẢNG : Người chưa được nói được, chưa chứng nói chứng, Phật gọi là Tăng thượng mạn trong kinh Pháp Hoa. Thấy ai tu hơn ḿnh, ai thuyết pháp hướng dẫn bổn đạo tu hành chân chánh, Phật tử theo đông, sanh ḷng đố kỵ, nên biết người này chưa đoạn dứt ngă ái, bởi chưa dứt được ngă ái, nên họ không vào được tánh Viên giác. 20. ÂM : Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh hy vọng thành đạo, vô linh cầu ngộ, duy ích đa văn, tăng trưởng ngă kiến. Đản đương tinh cần hàng phục phiền năo, khởi đại dơng mănh, vị đắc linh đắc, vị đoạn linh đoạn, tham, sân, ái, mạn, siểm khúc, tật đố, đối cảnh bất sanh, bỉ ngă ân ái, nhất thiết tịch diệt. Phật thuyết thị nhân, tiệm thứ thành tựu, cầu thiện tri thức, bất đọa tà kiến. Nhược ư sở cầu, biệt sanh tắng ái, tắc bất năng nhập thanh tịnh giác hải. DỊCH : Này thiện nam, chúng sanh đời sau mong được thành đạo, chẳng cầu giác ngộ chỉ cốt học nhiều, khiến cho tăng trưởng ngă kiến. Phải tinh tấn hàng phục phiền năo, khởi đại dơng mănh, những pháp chưa được khiến cho được, những cái chưa đoạn khiến phải đoạn, tham, sân, ái, mạn, siểm khúc, tật đố đối cảnh không sanh, ta người ân ái, tất cả đều vắng lặng. Phật nói người này thứ lớp thành tựu, cầu thiện tri thức chẳng rơi vào tà kiến. C̣n nếu đối với sở cầu, riêng sanh yêu ghét, chắc chắn không thể vào biển Viên giác thanh tịnh được . GIẢNG : Tới đây đức Phật chỉ cho chúng ta thêm một bệnh nữa là: Người tu chân chánh tuy thành tâm cầu đạo, tham học nhiều mà không tu, chỉ tăng trưởng thêm đa văn, tức là thêm ngă kiến. Muốn tiến đạo phải cố gắng hàng phục phiền năo, khởi tâm đại dơng mănh, những pháp lành chưa được phải thực hiện cho được, pháp ác chưa đoạn phải đoạn dứt, đưa tất cả những phiền năo tham, sân, tắng, ái… vào chỗ tịch diệt. Khi gặp cảnh đáng sân không sân, gặp cảnh đáng tham không tham… Làm sao khi gặp cảnh những thứ đó không khởi, được vậy th́ Phật ấn chứng người đó thứ lớp được thành tựu đạo quả. Phật c̣n dạy người tu phải cầu thầy sáng bạn tốt chỉ giáo để khỏi rơi vào tà kiến. Thêm nữa Phật bảo phải dè dặt, đối với thiện tri thức chớ sanh ḷng yêu hay ghét riêng, nếu sanh ḷng yêu ghét không thể vào biển Viên Giác được. Nghĩa là dù với bậc thầy dạy ḿnh mà có niệm yêu ghét cũng khó vào biển Viên giác. 21. ÂM : Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa nhi thuyết kệ ngôn: Tịnh Nghiệp nhữ đương tri Nhất thiết chư chúng sanh Giai do chấp ngă ái Vô thủy vọng lưu chuyển Vị trừ tứ chủng tướng Bất đắc thành Bồ-đề Ái tắng sanh ư tâm Siểm khúc tồn chư niệm Thị cố đa mê muộn Bất năng nhập giác thành Nhược năng qui ngộ sát Tiên khử tham sân si Pháp ái bất tồn tâm Tiệm thứ khả thành tựu Ngă thân bản bất hữu Tắng ái hà do sanh Thử nhân cầu thiện hữu Chung bất đọa tà kiến Sở cầu biệt sanh tâm Cứu cánh phi thành tựu. DỊCH : Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng: Tịnh Nghiệp ông nên biết Tất cả các chúng sanh Đều do chấp ngă ái Luân hồi từ vô thủy Chưa trừ được bốn tướng Chẳng được thành Bồ-đề Yêu ghét sanh nơi tâm Siểm khúc c̣n các niệm Cho nên nhiều mê muội Không vào được thành giác Nếu hay về cơi ngộ Trước dẹp tham sân si Ái chẳng c̣n nơi tâm Dần dần sẽ thành tựu Thân ta vốn chẳng có Yêu ghét từ đâu sanh Người này cầu thiện hữu Trọn chẳng rơi tà kiến Chỗ cầu riêng sanh tâm Cứu cánh chẳng thành tựu. GIẢNG : Quí vị thấy đức Phật trị hết tất cả bệnh cho chúng ta, thật là một bậc Đại y vương. Nào là bệnh chấp ngă, ái ngă, ái pháp, ái sư… chúng ta phải dẹp hết những bệnh đó th́ mới mong vào được biển Viên giác thanh tịnh, nếu không th́ chúng ta trôi lăn măi trong ṿng luân hồi. Ngài chỉ rất rơ người tu mà c̣n kẹt trong bốn tướng, dù vi tế cũng không thành tựu đạo Bồ-đề, tâm c̣n niệm yêu ghét là c̣n mê muội không vào được tánh Viên giác. Muốn vào cảnh giới giác ngộ th́ phải bỏ những bệnh tham, sân, si, ái ngă, ái pháp… mới thành tựu đạo Bồ-đề. Phật lại dạy: Sở dĩ chúng ta có yêu ghét là do chấp thân này thật, nếu chúng ta thấy rơ thân này không thật có th́ yêu ghét không từ đâu mà sanh. Người hiểu được lư vô ngă và áp dụng tu hành th́ tiến vào biển Viên giác không khó. Thêm nữa, chúng ta t́m thầy học đạo đừng để rơi vào tà kiến và khi gặp thầy học đạo cũng đừng sanh tâm yêu ghét, nếu có yêu ghét th́ chướng ngại trên đường tu. Bỏ yêu ghét ở thế gian mà sanh yêu ghét ở trong đạo cũng là bệnh. Hiểu cho thật kỹ tu hành mới tiến được, hiểu không thật kỹ th́ vừa mới hết bệnh này lại sanh bệnh khác. Người tu dùng pháp của Phật dạy cũng như người bệnh dùng thuốc vậy, biết bệnh biết thuốc th́ hết bệnh, nếu không th́ lầm lẫn có hại. ] |
[mục lục][kinh viên giác giảng giải]