[Trang chủ] [Kinh sách]

VÀI NÉT CHÍNH LUÂN LÝ PHẬT GIÁO

[Mucluc][Dẫn Khởi]

[P1][P2][P3][P4][P5][P6][P7][P8]


v   THIỆN ÁC KHÔNG CÓ TIÊU CHUẨN RÀNH RẼ


Thiện ác là danh từ thông dụng nhứt, mới nghe qua dường như giản dị dễ hiểu, song khi ban định tiêu chuẩn của nó thực là phức tạp vô cùng. Có những việc lúc đầu thấy là thiện, sau lại biến thành ác. Như bà mẹ cưng con, con đòi gì được nấy, muốn sao cũng chìu, kết quả đứa con hư hỏng bệnh hoạn. Có việc lúc đầu thấy là ác, sau kết quả lại trở thành thiện. Như ông giáo dạy học trò ông thường rầy phạt, bắt chúng phải học, khi ấy chúng cho ông là ác, đến sau học hành đỗ đạt, làm nên danh phận, chừng đó lại thấy ông là thiện. Ngoài ra, còn lắm việc như phong tục, tập quán nay cholà phải, là tốt, mai lại bảo là quấy, là xấu. Như người phụ nữ Việt Nam ngày xưa cho rằng "khuê môn bất xuất" là tốt, nay thì phải ra gánh gồng mọi việc, cho đến nhập ngũ làm quân nhân. là tốt. Hoặc phong tục, tập quán xứ này cho là phải, qua xứ khác lại bảo là quấy. Như ở Á Ðông quý trọng người đàn ông, trái lại Tây phương quý trọng người đàn bà; ở Á Ðông ngày xưa nếu trai gái nắm tay nhau coi như là xấu xa, ở Tây phương lại thấy lịch sự, đẹp đẽ v.v. và v.v. Sự thiện ác, tốt xấu, phải quấy ở thế gian nầy rối bời, khó phân tách rành rẽ. Người thiếu óc phán xét, khó nhận ra đâu là thiện, đâu là ác, đôi khi cứ nói hùa theo, người ta đề xướng sao mình nói theo vậy. Như câu chuyện ông Mặc Tử kể :

"Nay có kẻ vào vườn người ta hái trộm đào, mận thì ai nghe thấy cũng chê cười, quan bắt được tất trừng phạt. Tại sao vậy ? _ Tại người ấy làm điều bất nghĩa, lấy của người để làm lợi cho mình.

"Kẻ vào nhà người ta bắt trộm gà, vịt, chó, lợn so với kẻ vào vườn người ta hái trộm đào, mận thì lại là bất nghĩa hơn nữa. Tại sao vậy ? _ Tại lấy của người càng nhiều thì bất nhân càng lắm, tội càng nặng.

"Kẻ giết người lương thiện, ăn cướp của cải, đồ đạc của người ta, so với kẻ vào chuồng ăn trộm trâu bò, dê ngựa thì lại là bất nghĩa hơn nữ?. Tại sao vậy ? _ Tại giết người, lấy của bất nhân to lắm, tội càng nặng lắm.

"Giết một người là điều bất nghĩa, tất phải chịu một tử tội. Cứ lẽ ấy mà nói rộng ra: giết mười người, tất phải chịu trăm tử tội.

"Nay những kẻ làm điều bất nghĩa, nhỏ mọn, tầm thường như nói trên thì biết chê cười. Ðến như nhữ?g kẻ bất nghĩa thậm tệ như cướp nước người, tàn sát sinh linh hàng ức vạn. thường khi thiên hạ không biết chê cười lại còn hùa theo và khen ngợ? cho là nghĩa, và ca tụng ghi chép công đức, như thế thì có gì gọi được là biết phân biệt nghĩa với bất nghĩa hay không ?

"Kẻ nào lúc thấy đen ít bảo là đen, lúc thấy đen nhiều bảo là trắng, thì ta cho kẻ ấy không biết phân biệt đen với trắng.

"Kẻ nào nếm đắng ít cho là đắng, lúc nếm đắng nhiều cho là ngọt, thì ta cho kẻ ấy không phân biệt đắng với ngọt.

"Thiên hạ bây giờ không phân biệt phải trái, hay lầm lẫn lắm".

(Trích Cổ Học Tinh Hoa tập II, trang 162 của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân)


Thực khó phân tách được đâu là nghĩa, đâu là bất nghĩa, đâu là thiện, đâu là bất thiện. Lại có lắm nhà ngụy biện lý luận điên đảo, khiến người ta đã mờ mịt lại thêm mờ mịt, không phân biệt được thế nào là thiện, thế nào là ác. Rốt cuộc họ cho rằng "thiện ác không có tiêu chuẩn".

v   TIÊU CHUẨN THIỆN ÁC

Pháp Bát chánh đạo là nền tảng tu hành trong Phật giáo. Chánh kiến đứng đầu trong tám pháp, nó giữ một vai trò quan trọng. Thiếu chánh kiến, bảy pháp kia trở thành vô hiệu quả. Người quy y theo đạo Phật mà thiếu chánh kiến không thể gọi là Phật tử. Tại sao vậy ? _ Vì chánh kiến là nhận định phân biệt thiện ác, chánh tà, tốt xấu, phải quấy. Thiếu nhận định này làm sao biết được thiện để tu, biết ác để dứt, biết chánh theo, biết tà tránh. Công nghiệp của người Phật tử sau này có thành hay không đều do chánh kiến quyết định. Ở đây chúng ta dùng con mắt chánh kiến của Phật giáo quy định tiêu chuẩn thiện ác xem thế nào. Có lẽ vấn đề thiện ác này, người xưa không có nghi ngờ, nên tìm trong kinh không thấy định nghĩa, chỉ có tản mác trong các luận.

Thế nào là thiện ác ?

- Theo Luận Thành Thật định nghĩa:

 

"Tùy làm việc gì, hay cho người sự ưa thích, ấy là thiện.

"Khiến người được vui, ấy gọi là ưa thích, cũng gọi là thiện,cũng gọi là phước".

 

(Tùy dĩ hà nghiệp, năng dữ tha hảo sự, thị danh thiện.

Linh tha đắc lạc, thị danh vi hảo, diệc danh vi thiện, diệc danh vi phước).

(Thành Thật Luận 8, phẩm Nghiệp 100)

Lại cũng trong Luận Thành Thật, phẩm Giải: "Nếu được lợi mình lợi người, lợi hiện tại và vị lai đều do tâm thiện làm gốc, nếu bị tổn mình tổn người, tổn hiện tại và vị lai đều do tâm bất thiện làm gốc !".

(Nhược nhơn lợi tha lợi dĩ, kim lợi đương lợi, giai dĩ thiện tâm vi bổn, nhược nhơn tổn dĩ, kim tổn đương tổn giai dĩ bất thiện tâm vi bổn).

Căn cứ theo Luận Thành Thật định nghĩa: Phàm làm việc gì khiến người ta vui thích là thiện, và lợi ích cho mình và người, hiện tại và vị lai là thiện.

Luận Tỳ Bà Sa giải thích ba nghiệp thiện, ác, vô ký có đoạn nói như sau:

Hỏi: Thế nào gọi là thiện, bất thiện, vô ký ?

Ðáp: Nếu việc làm khéo léo, hay chiêu cảm quả ưa thích, tính an ổn, gọi là thiện. Nếu việc làm không khéo léo, hay chuốc lấy quả không thích, tính không an ổn, gọi là bất thiện. Nếu việc làm cùng hai thứ kia trái nhau, gọi là vô ký.

Lại, nếu việc làm hay chiêu cảm quả khả ái, quả được vui, gọi đó là thiện. Nếu hay chiêu cảm quả bất ái, quả bị khổ, gọi là bất thiện. Nếu việc làm cùng hai thứ kia trái nhau, gọi là vô ký.

Lại nếu việc làm hay dẫn mầm trong các cõi khả ái và mầm giải thoát, gọi là thiện. Nếu việc làm hay dẫn mầm trong các cõi phi ái, gọi là bất thiện. Nếu việc làm cùng hai thứ ấy trái nhau, gọi là vô ký.

Lại, nếu việc làm hay khiến sanh cõi lành, gọi là thiện. Nếu việc làm hay khiến sanh cõi ác, gọi là bất thiện. Nếu việc làm cùng hai thứ ấy trái nhau, gọi là vô ký.

Vấn: Hà cố danh thiện, bất thiện, vô ký ?

Ðáp: Nhược pháp xảo tiện sở trì, năng chiêu ái quả, tánh an ổn, cố danh thiện. Nhược pháp phi xảo tiện sở trì, năng chiêu bất ái quả, tánh bất an ổn, cố danh bất thiện. Nhược pháp dữ bỉ nhị chủng tương vi, cố danh vô ký.

Phục thứ, nhược pháp năng chiêu khả ái quả, lạc thọ quả, cố danh thiện. Nhược pháp năng chiêu bất ái quả, khổ thọ quả, cố danh bất thiện. Nhược pháp dữ bỉ nhị chủng tương vi, cố danh vô ký.

Phục thứ, nhược pháp năng dẫn khả ái hữu nha, cập giải thoát nha, cố danh thiện; nhược năng dẫn phi ái hữu nha, cố danh bất thiện; nhược pháp dữ bỉ nhị chủng tương vi, cố danh vô ký.

Phục thứ, nhược pháp năng linh sanh thiện thú, cố danh thiện; nhược pháp năng linh sanh ác thú, cố danh bất thiện; nhược pháp dữ bỉ nhị chủng tương vi, cố danh vô ký.

(Tỳ Bà Sa Luận, quyển 51, tạng Ðại Chánh Tu, tập 27, trang 263)

Theo Luận Tỳ Bà Sa định nghĩa:

Việc làm chiêu cảm quả an ổn, ưa thích, đời nầy và đời sau, gọi là thiện. Việc làm chiêu cảm quả đáng chán, đau khổ, đời nầy và đời sau, gọi là ác. Việc làm không có hai tánh cách trên là vô ký.

Luận Thành Duy thức định nghĩa:

Hay làm cho đời nầy, đời sau lợi ích, gọi là thiện. Quả vui cõi người cõi trời, tuy hiện đời hay lợi ích, không có lợi ích đời sau, nên không gọi là thiện. Hay làm tổn hại đời sau, gọi là bất thiện. Quả khổ trong cõi ác, tuy hiện đời bị tổn hại, đời sau không hại, nên chẳng gọi là bất thiện. Ðối thiện, bất thiện trong nghĩa lợi ích và tổn hại không thể định rõ, nên gọi vô ký.

Năng vi thử thế tha thế thuận ích, cố danh vi thiện. Nhơn thiện lạc quả, tuy ư thử thế năngvi thuận ích, phi ư tha thế, cố bất danh thiện. Năng vi thử thế tha thế vi tổn, cố danh bất thiện. Ác thú quả báo, tuy ư thử thế tha thế vi tổn, phi ư tha thế, cố phi bất thiện. Ư thiện, bất thiện tổn ích nghĩa trung bất khả ký biệt, cố danh vô ký.

(Thành Duy Thức luận quyển 5 tạng Ðại Chánh Tân Tu, tập 31, trang 26)

Theo Luận Thành Duy Thức định nghĩa: Việc làm có lợi ích đời nầy, đời sau gọi là thiện, tuy hiện tại có lợi mà đời vị lai không lợi, chưa phải là thiện. Việc làm tổn hại đời nầy, đời sau gọi là ác, tuy hiện tại có tổn hại mà sau không, chưa hẳn là ác. Việc làm không định rõ thiện hay ác, là vô ký.

Gần đây, ngài Thái Hư định nghĩa nghiệp thiện, ác như sau: "Nghiệp thiện là hành vi theo luân lý học hay đạo đức học ở thế gian, về Phật pháp gọi là thuận hạnh học.

"Nghiệp thiện đứng về không gian là lợi mình, lợi người, về thời gian thì hiện tại, vị lai đều lợi. Nếu không xét đến lợi người và nhìn xa về vị lai, chỉ căn cứ lợi ích mình nhãn tiền, ấy là nghiệp ác.

"Nghiệp thiện lấy lợi ích đại chúng làm tiền đề, nên kết quả tự tha đều lợi. Nghiệp ác lấy tổn hại đại chúng làm tiền đề, nên kết quả tự tha đều hại".

(Thái Hư, trong bài truyền luận Kinh Thập Thiện Nghiệp Ðạo)

Ngài Thái Hư định nghĩa thiện ác: Việc làm lợi mình lợi người, hiện tại và vị lai, lấy đại chúng làm tiền đề là thiện. Việc làm chỉ nhằm lợi ích mình hiện tại, lấy tổn hại người làm tiền đề là ác.

Qua các nhà luận trên, tương đối chúng ta thấy thiện ác đã rõ. Nhưng cũng còn vài nghi vấn nhỏ. Như việc làm lợi mình lợi người, hiện tại và vị lai, gọi là thiện. Thực tế có nhiều việc lợi người, hại mình mà vẫn là thiện. Như thấy nhà cháy, một em bé đang bị kẹt trong ấy, có người hy sinh chạy vào lửa cứu em ra. Khi cứu được em bé, người kia bị cháy phỏng khá nhiều, phải đau khổ vì những vết phỏng hành hạ. Sự an ổn của em bé, trong sự đau khổ của người kia như vậy, đâu phải hiện tại cả hai đều lợi ? Hoặc như người phát nguyện vào bệnh viện lao, hủi săn sóc bệnh nhân. Hiện tại họ an ủi bệnh nhân được phần nào, song tương lai họ có thể bị truyền nhiễm. Như vậy, hiện tại thấy có lợi một phần, mà tương lai đâu hẳn là lợi ?

Tuy nhiên, theo Phật giáo, những hành động cứu người, vì người, hiện tại hoặc vị lai ta có khổ, song cái khổ ấy chỉ thời gian ngắn ngủi, sau này sẽ hưởng cái vui thời gian dài gấp mấy lần. Như trường hợp người cứu em bé sắp chết thiêu, người phát nguyện vào nhà thương lao chẳng hạn. Vì cái khổ ngắn, cái vui dài, nên cũng gọi là vui. Hơn nữa, tuy thân khổ mà cứu được mạng người, tâm vui thích, nên cũng gọi là vui.

Bởi tính cách phức tạp của thiện ác như thế, nên qui định tiêu chuẩn thật khó khăn.

Thể theo những ý trên, tôi qui định tiêu chuẩn thiện ác thế này:

"Ðối tự thân, hành vi xuất phát từ ý chí hướng thượng, được hướng dẫn bằng trí sáng suốt là thiện. Hành vi xuất phát từ tâm niệm hưởng thụ dục lạc, bị sai sử bởi si mê là ác.

Ðối tha nhân, hành động xuất phát từ tình thương chơn thật, được hướng dẫn bằng trí sáng suốt là thiện. Hành động xuất phát từ tâm tổn hại, sai sử bởi si mê là ác. Bản thân chúng ta, bất cứ một hành vi nào xuất phát từ ý chí hướng thượng cộng với trí suy nghĩ sáng suốt, đều đưa đến kết quả tốt đẹp, an ổn. Như từ người xấu xa, hèn hạ muốn tiến lên người thường, từ người thường muốn tiến lên người tốt, từ người tốt muốn tiến thành người hiền, từ người hiền muốn tiến lên thành bậc thánh. Sự mong mỏi tiến lên ấy là ý chí hướng thượng. Có ý chí hướng thượng rồi, cần phải có trí sáng suốt, xét đoán muốn thành người tốt người hiền phải làm thế nào ? Sau khi xét đoán rồi, phải thanh lọc cái gì làm cho mình xấu, phụ trợ cái gì làm cho mình tốt. Có thế mới từ người xấu trở thành người tốt được.

Ngược lại, hành vi xuất phát từ tâm niệm hưởng thụ dục lạc, lại bị si mê sai sử, chắc chắn sẽ đưa đến kết quả xấu xa đau khổ. Như người muốn hưởng thụ sắc dục, cộng với tâm si mê, nên làm việc tà dâm gây thành việc xấu xa đau khổ sau nầy.

Ðối tha nhân, những hành động xuất phát từ tình thương chơn thật, tức là muốn làm lợi ích an vui cho người cộng thêm trí suy nghĩ sáng suốt, xét biết cái vui nào lâu dài, cái vui nào ngắn ngủi, cái vui nào thật, cái vui nào giả, rồi chọn cái vui lâu dài chơn thật đem đến cho người. Có nhiều khi muốn đem cho kẻ khác cái vui lâu dài, nhưng đối với cái giá khổ ngắn ngủi, họ vân can đảm làm. Thí dụ: câu chuyện Lưu Bình, Dương Lễ chẳng hạn.

Ðối tha nhân, những hành động xuất phát từ tâm tổn hại, tức là muốn phá hoại khiến người đau khổ, cộng thêm si mê, không biết suy nghĩ phải trái, chắc chắn sẽ làm cho người đau khổ, cũng chuốc đau khổ về cho mình. Như muốn giết người trả thù, khi đó không biết suy xét kết quả khốc hại sau nầy, cứ làm bướng làm càn, nếu người chết mình bị tù đày. Có khi giết người rồi, họ trốn thoát, hiện tại như khỏi tù đày, song khổ trốn chui trốn nhủi làm sao thoát được".

Tóm lại, hành động thiện phải có tình thương chơn hật (từ bi) và trí sáng suốt trí tuệ) cộng lại mới thành. Hành động ác phải có tâm tổn hại cộng với si mê mới thành. Bởi động cơ thúc đẩy hành động thành thiện hay ác là từ tâm niệm, chúng ta không hiểu thấu được tâm niệm người, chỉ nhìn trên hành động người, phê phán thiện ác không thể nào đúng được. Hành động thiện phải có trí phán xét, thiếu trí phán xét, tuy có lòng thương chơn thật, nhưng đến kết quả chưa hẳn là thiện. Vì vậy, muốn phân biệt thiện ác phải có nhận xét tinh vi, tìm từ chỗ phát xuất của hành động ấy và đến cái kết quả vị lai của nó. Nếu chỉ nhìn hiện tại mà thẩm định thiện ác thì thật là oan.

Sau khi phân biệt được thiện ác, chúng ta tiện bàn luân lý Phật giáo.

 


[Mucluc][Dẫn Khởi]

[P1][P2][P3][P4][P5][P6][P7][P8]

[Trang chủ] [Kinh sách]