VÀI NÉT CHÍNH LUÂN LÝ PHẬT GIÁO
[P1][P2][P3][P4][P5][P6][P7][P8]
|
B. GIA ÐÌNH : I. CHA MẸ Người Phật tử đối với cha mẹ phải là đứa con chí hiếu. Bởi vì chúng ta đã biết chọn con đường đạo đức, học theo đạo từ bi, với tất cả chúng sanh còn phát tâm thương xót, huống hồ là cha mẹ, người đã sanh thành dưỡng dục chúng ta. Dù bởi lý do nầy hay lý do khác, người Phật tử cũng không có quyền bất hiếu. Ðã bất hiếu với cha mẹ thì không còn tội ác nào mà chẳng dám làm. Ðối với cha mẹ mà bất hiếu, ai tin mình là người đạo đức được. Người bất hiếu đã phá vỡ tất cả công hạnh lành, hủy hoại hết hạt giống phước đức. Trong kinh có đoạn chép: "Thế Tôn bảo các thầy Tỳ kheo: "Nếu có người biết đền đáp, người nầy đáng kính đáng mến, dù một chút ơn nhỏ còn không quên, huống là ơn lớn. Giả sử người nầy ở cách xa ta ngàn do tuần, trăm ngàn do tuần vẫn không phải là xa, mà gần bên ta. Vì cớ sao? Tỳ kheo ! Vì ta hằng khen ngợi người biết đền đáp. "Những người không biết đền đáp, ơn lớn còn không nhớ, huống là ơn nhỏ. Người ấy không thể gần ta, ta cũng không gần người ấy. Giả sử người ấy mặc y đứng hầu bên cạnh ta, người ấy vẫn cách xa ta muôn dặm. Vì cớ sao? Vì ta không bao giờ nói không đền đáp." (Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 10, phẩm Thiện tri thức 20, bài số 5). Phật dạy: "Ơn nhỏ còn chẳng quên, huống là ơn lớn". Ơn cha mẹ sánh với tất cả ơn trong đời chúng ta có ơn nào bằng? Ơn lớn ấy, chúng ta còn quên được, tất cả ơn khác lửng đi nào có khó gì? Ơn nghĩa là nền tảng đạo đức, chúng ta không quý trọng thử hỏi còn gì là đạo đức? Vì thế, Phật nói: "Người quên ơn dù mặc y đứng hầu bên cạnh ta, vẫn cách xa ta muôn dặm". Ơn cha mẹ như trời cao biển cả, muốn đền đáp dù nát thân này cũng chưa tròn. Như kinh chép: "Thế Tôn bảo các thầy Tỳ kheo: Dạy hai người làm lành không được đền ơn. Hai người là ai? Là cha là mẹ. "Tỳ kheo ! Nếu có người vai trái cõng cha, vai mặt cõng mẹ đến ngàn muôn năm, cha mẹ ăn uống, ngồi năm, bệnh hoạn, cho đến đại tiểu tiện đều ở trên vai, vẫn không được đền ơn. Tỳ kheo! Phải biết ơn nặng của cha mẹ: bồng ẵm, nuôi nấng, tùy thời săn sóc không sái thời tiết, không kể ngày tháng. Vì thế ơn cha mẹ rất khó đền đáp.". (Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 10, phẩm Thiện tri thức 20, bài số 11) Công ơn cha mẹ nặng nề như vậy, Phật tử chúng ta làm sao dám quên. Cha mẹ đã tạo nên thân này, dù đem thân nầy lót làm sàng làm ghế cho cha mẹ ngồi cũng chưa đủ đền ơn. Ðối với người xuất gia mà Phật còn đinh ninh dạy bảo phải lo đền đáp, huống là Phật tử tại tư gia. Ơn cha mẹ rất khó đền đáp, song người con hiếu cứ đem hết tấm lòng hiếu thảo của mình mà ăn ở cũng quí lắm rồi. Có vị Bà La Môn niên thiếu hỏi Phật: "Thế Tôn! Tôi thường như pháp đi khất thực đem về cúng dường cha mẹ khiến lìa khổ được vui. Thế Tôn! Tôi làm như thế được phước nhiều chăng?". Phật bảo: "Thật được phước nhiều. Vì cớ sao? - Nếu có người như pháp cầu xin, cúng dường cha mẹ khiến lìa khổ được an vui, thật có đại phước". Thế Tôn liền nói kệ: Như pháp đối cha mẹ, Cung kính nên cúng dường Hiện đời được tiếng tốt, Mạng chung sanh cõi trời. (Kinh Tạp A Hàm, quyển 4, kinh Uất Ða La). Biết cúng dường cha mẹ, dù đi khất thực đem về dâng cha mẹ còn có phước lớn, huống người tự làm ra tiền của cúng dường cha mẹ, quý biết chừng nào! Chỉ lo chúng ta không có thật tâm hiếu thảo, nếu có thật tâm hiếu thảo bất cứ ở hoàn cảnh nào cũng có thể thực hiện được. Lo cung cấp cha mẹ mọi điều kiện vật chất đầy đủ, đã chí hiếu lắm rồi, song chưa đủ đền đáp công ơn cha mẹ. Muốn đền đáp công ơn cha mẹ phải khuyên cha mẹ hướng về đạo đức, quy kính Tam Bảo, được vậy mới gọi là đền đáp công ơn cha mẹ. Kinh chép: "Phật hỏi các thầy Sa môn: "Con nuôi cha mẹ, lấy cam lồ trăm vị làm thức ăn, dùng thiên nhạc làm vui tai, sắm y phục hảo hạng mặc nơi thân, vai cõng cha mẹ đi khắp bốn phương, suốt đời phụng dưỡng như vậy, đáng gọi là hiếu chăng? Các thầy Sa môn thưa: "Người nầy là đại hiếu!" Phật dạy: "Chưa gọi là hiếu". Phật bảo các thầy Sa môn: "Xem người thế gian không có hiếu thảo, chỉ thế này mới gọi là hiếu: Hãy khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, thọ tam qui, giữ ngũ giới. Dù cha mẹ sớm mai thọ trì quy giới, chiều có chết, đối với ơn nặng cha mẹ nuôi dưỡng, bú sú vô lượng cũng gọi là tạm đền". (Kinh Hiếu Tử N.687 Ð.C.T.T. tập 32. trang 780) Người con muốn báo đáp ơn cha mẹ, phải lo cung cấp những thứ cần dùng cho cha mẹ được no ấm an ổn, lại phải tìm phương tiện khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành và quy y, giữ giới. Ðược vậy, mới gọi là báo đáp toàn vẹn cả vật chất lẫn tinh thần ở hiện tại và vị lai. Nếu ai có phúc được cha mẹ sớm biết đạo đức, phải cố gắng làm sao cho cha mẹ có nhiều phương tiện hoạt động đạo đức hơn. Không bao giờ dám ngăn cản cha mẹ làm việc đạo đức, mà chính mình có bổn phận khuyến khích thêm. Cha mẹ là đấng tối tôn, tối kính nhất đối với con. Cho nên người biết thờ kính cha mẹ là thờ kính Phật, thiên, thần. đầy đủ cả. Kinh chép: "Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà hãy hiếu dưỡng cha mẹ, vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà, muốn có Ðế Thích ở trong nhà, muốn được tất cả thiên thần ở trong nhà hãy hiếu dưỡng cha mẹ, Ðế Thích sẵn ở trong nhà, chỉ cúng dường cha mẹ, tất cả thiên thần đều ở trong nhà, cho đến muốn cúng dường Thánh, Hiền và Phật, chỉ cúng dường cha mẹ, các vị Thánh, Hiền và Phật đều ở trong nhà". (Kinh Tạp Bảo Tạng). Như vậy, kính thờ cha mẹ là kính thờ tất cả Thánh, Hiền và Phật. Tại sao chúng ta chỉ biết quý kính Thánh, Hiền và Phật mà thờ ơ với cha mẹ? Ðó là chúng ta đã bỏ cội gốc phước đức, đi tìm ngọn ngành. Thực đúng câu: "Phật trong nhà không thờ, Thờ Thích Ca ngoài đường. Thật ơn cha mẹ cao cả lớn lao biết mấy ngàn xưa các bậc Thánh, Hiền đều kính thờ tôn trọng, mà hiện nay có một bọn vong ân bội nghĩa chủ trương rằng: "Cha mẹ không có ơn nghĩa gì với con, sự bất đắc dĩ phải nuôi ấy thôi". Họ là người từ chối mọi ân nghĩa, phản đối tất cả Thánh hiền, thật là kẻ đang xây mặt vào ngục tối, đáng thương thay! Người Phật tử sống trong gia đình phải giữ trên thuận, dưới hòa. Anh em có hòa mục thì gia đình mới an vui, êm ấm. Ðối với cha mẹ, chúng ta là đứa con hiếu, đối với anh chị em, chúng ta phải là người anh chị hiền, đứa em thảo. Phải y cứ vào tinh thần đạo đức cư xử với anh chị em, cho tình cốt nhục càng thêm gắn bó. Chị ngã em nâng, em khổ chị buồn. Sự sống chết có nhau, đói no đồng hưởng, đừng vì tiền của, đừng vì tất cả bên ngoài, cắt đứt tình ruột thịt, chia rẽ nghĩa tay chân. Trong gia đình không tạo được tình thân yêu nhau, ngoài xã hội tìm đâu có tình thương chân thật. Lòng từ bi của chúng ta có thể bủa khắp nhân loại, nhưng điểm phát xuất của nó phải từ trong gia đình. Ðối với anh em ruột thịt, chúng ta hằn học nhau, với người không chung máu mủ làm sao có lòng thương chân thành? Tuy nhiên, anh em chị em đôi khi tánh tình khác nhau, vì thế sợi dây hòa mục lắm lúc bị thương tổn. Dù vậy với tinh thần Phật tử, chúng ta phải trải hết tâm can để cư xử với anh em. Phải vận dụng tất cả lòng chân thành và trí sáng suốt để cảnh tỉnh anh em mình. Ðức Phật trước kia còn hy sinh thân mình cho cọp đói, tại sao chúng ta không thể hy sinh những gì cần thiết cho anh em ruột thịt chúng ta? Tình anh em muốn được ngày càng thấm thía đậm đà, Phật dạy phải đủ bốn điều: 1) Ðồng chung vui khổ: Nghĩa là phải vì anh em mà quên cả thân mình, quên cả vợ con và chịu đựng mọi lời phiền trách. 2) Hằng thương tưởng: Phải vì anh em khuyên dạy những điều lành, cản ngăn những việc ác, khen ngợi những điều tốt, tìm cách dứt những oán thù. 3) Cầu lợi: Ðối với anh em có những việc kín không dấu giếm nhau, được lợi cùng vui mừng, không được lợi cũng chẳng buồn rầu. 4) Giúp ích: Biết anh em tiền của còn hay hết; nếu biết hết sẵn sàng giúp đỡ, thấy anh em chơi bời thì tìm cách ngăn cản quở trách, luôn luôn thương xót. (Kinh Trung A Hàm, phẩm Ðại, bài Kinh Thiện Sanh 19) Ðối xử như bốn điều Ðức Phật dạy ở đây, chắc rằng tình anh em, chị em không bao giờ chia lìa được. Tinh thần Phật tử, chúng ta cố gắng siết chặt tình huynh đệ, đừng bao giờ để cho "cốt nhục tương tàn". Nghĩa vợ chồng cần phải kính mến, nhường nhịn nhau. Sự sống chung đụng lâu ngày dù thương nhau thế mấy, nếu thiếu sự kính nhường đều có ((1) Phần nầy nên xem trong kinh Thiện Sanh đã dịch ra Việt ngữ, và trong Phật Học Phổ Thông khóa II, bài Bổn Phận Phật tử tại gia.) thể gây tổn mối tình chung thủy. Ðừng lấy quyền chồng lấn hiếp vợ, đừng ỷ thế vợ khinh khi chồng, quyền lợi phải giữ như cán cân, không thiên lệch bên nào. Nếu có thiên lệch sẽ có chia rẽ. Cũng đừng để ai hy sinh cho ai. Bởi vì cuộc sống hợp đồng, phải tôn trọng quyền lợi thiêng liêng của đôi bên. Không bao giờ có hai vợ chồng tánh tình giống hệt nhau. Vì thế, không hợp nhau là lẽ dĩ nhiên, cho nên hai bên phải khéo dung hòa nhau. Mến tánh tốt nầy của nhau, phải chịu đựng tánh xấu nọ của nhau. Ðừng than phiền, đừng đòi hỏi, đừng kiếm tìm đâu nữa, cái người như mình tưởng tượng. Lúc ở xa nhau, thấy tánh tình hạnh nết rất thích hợp, nhưng bắt buộc sống chung sẽ thấy hiện nhiều tật xấu khó chịu. Nguyên tắc duy nhất bảo đảm cho cuộc sống chung là "khôn khéo sửa đổi cho nhau và chân thành phục thiện". Dù người chồng hay người vợ, lúc nào cũng dẹp tự ái, đừng coi mình là hiện thân của chân lý. Sống trong cuộc đời tương đối, cái gì cũng phải châm chước với nhau. Ðòi hỏi một con người toàn thiện, tìm khắp thế gian không thể có. Theo tinh thần Phật dạy trong kinh Thiện Sanh: Người chồng phải thật tình thương mến vợ, không bao giờ dám khinh khi, sắm đồ trang sức tùy khả năng, tùy sở thích của vợ, cho vợ trọn quyền sắp đặt việc nhà, xem thân tộc bên vợ cũng như bên mình. Người vợ phải mến trọng săn sóc chồng, hằng tưởng nhớ đến chồng, quản thủ việc nhà, chăm nom thân tộc của chồng, thức khuya dậy sớm lo gia nghiệp, nói năng chơn thật, ôn hòa, không bó buộc chồng quá đáng, chào mừng khi đi đâu về và lo thức ăn chỗ nghỉ cho chồng (1). Ðương nhiên vợ chồng đều phải giữ ba giới đầu. Có vậy, trong nhà mới trọn niềm tin tưởng nhau. Ðã tin cậy nhau, phải tôn trọng tự do, đừng kềm hãm, bó buộc, khiến người ta sinh bực bội, dù vì tình thương cũng vậy. Làm cha mẹ phải khéo dạy dỗ con cái. Từ tấm bé, cha mẹ phải để ý đến khả năng, đạo đức của con. Thấy nó có khả năng nào, lớn lên cho theo học ngành đó. Nhất là về đạo đức, cha mẹ phải tập tành cho con thuần thục. Những trò chơi ác như bắn chim, đá dế, đập bồ cào., cha mẹ phải dạy rầy cho chúng bỏ. Cắt nghĩa cho chúng biết sợ tội, ham làm phước. Thấy người bệnh tật, nghèo đói, dạy chúng thương xót cứu giúp. Kể cho chúng nghe những gương đức hạnh, hiếu thảo, tiết nghĩa. Dạy cho chúng biết chọn bạn tốt chơi, bạn xấu lánh xa. Cha mẹ đừng vì thương con cố làm giàu để của cho chúng mà phải lo cho con có đức, có tài. Sự nghiệp của cải không đảm bảo đời sống của chúng sau nầy, chỉ có tài đức mớt thật là một bảo đảm hữu hiệu. Ðừng vì thương con cố làm ác, có của nhiều để lại cho chúng; để lại như vậy chỉ là lưu oan gia chớ không phải sự nghiệp. Cha mẹ phải lấy đức hạnh để lại cho con; để đức hạnh mới là một gia bảo quý giá. Cha mẹ là tấm gương sáng gần nhất để con cái hằng ngày noi theo. Nếu cha mẹ hằng ngày làm những điều sái quấy, tội lỗi, bất hòa, muốn con được hòa thuận và làm phải là vô lý. Cha mẹ luôn phải nhớ câu nầy: "Cha lành con thảo". Cha có lành con mới thảo được. Khi nghĩ tới giáo dục con cái, cha mẹ phải nhớ mình là gương mẫu của chúng. Con lớn lên, cha mẹ đừng bao giờ lấy quyền cha mẹ bắt con phải làm thế nầy, thế nọ. Phải hiểu tư tưởng tâm lý chúng, tùy theo đó hướng dẫn chúng. Có nhiều đứa con kêu lên: "Cha mẹ không thông cảm con". Chỉ vì cha mẹ hiểu theo cái tuổi và nếp sống của mình, không chịu tìm hiểu hoàn cảnh xã hội của con hiện tại theo lứa tuổi của chúng. Cha mẹ phải khéo quan sát tinh tường hoàn cảnh tư tưởng của con mà giáo dục chúng. Ðừng làm việc độc tài, bắt chúng phải răm rắp tuân theo mình. Có thế mới hy vọng giáo dục con được.
|