|
I. RÚT GỌN LỜI DẠY CHƯ TỔ:
Phần này, tôi
không biên những lời cao siêu của chư Tổ, chỉ rút những chỗ thực hành công
phu khẩn thiết. Lại rút gọn những chuyện cốt yếu cho tiện hằng ngày đọc
qua để kích lệ thân tâm.
1. Hoàng Bá
Vận Thiền sư dạy Chúng:
Về trước tu
tập nếu chưa thấu triệt, một phen lưỡi hái tử thần kề cổ, sẽ thấy trăm mối
rối ren. Thế mà, có một bọn ngoại đạo vừa thấy người hạ thủ công phu, bèn
cười lạt, bảo rằng : Còn có cái ấy nữa. Ta thử hỏi ông : Nếu khi thần chết
đến, ông lấy cái gì để chống cự lại ? Vậy lúc rảnh rang lo giải quyết cho
xong, đến khi gấp rút được ít nhiều tỉnh lực. Chớ đợi khát nước mới lo đào
giếng, khi tay chân co rút, đường trước mịt mờ, trăn trở rối loạn, khổ
thay ! Khổ thay ! Bình nhựt chỉ học Tam muội ngoài môi, nói thiền, nói
đạo, trách Phật, chê Tổ, đến lúc này tất cả buông xuôi. Chỉ tưởng dối với
người, đâu ngờ ngày nay dối mình.
Tôi khuyên hết
thảy huynh đệ, lúc thân thể còn tráng kiện nên chọn lấy những điều mình đã
hiểu, làm động cơ tu tiến thì rất dễ dàng. Tự các ông không chịu lập chí
quyết chết thực tập công phu, chỉ nghĩ là khó thì lại càng thấy khó. Nếu
là bậc trượng phu hãy khán công án. Có vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu : "Con
chó có Phật tánh không ?" Ngài Triệu Châu đáp : "Không". Suốt 12 thời (24
tiếng đồng hồ) khán một chữ KHÔNG. Ngày tham, đêm tham, đi, đứng, ngồi,
nằm, mặc áo, ăn cơm, đại tiểu tiện v.v… đều dồn hết tinh thần khán một chữ
KHÔNG. Lâu ngày chầy tháng kết thành một khối, bỗng nhiên tâm hoa khai
phát, ngộ được cái máy nhiệm mầu của Phật, Tổ, sẽ không còn ngờ vực câu
nói của Lão Hòa thượng, thấu triệt đại ngộ. Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ đến, không
gió đã làm dậy sóng. Đức Thế Tôn đưa cành hoa cả hội đều ngơ ngác. Lý này,
dù nói đến chết, cả ngàn vị Thánh còn chẳng biết thế nào, chưa tin được
cái đạo quá kỳ đặc như thế. Việc này chỉ ngại người hữu tâm.
2. Triệu
Châu Thẩm Thiền sư dạy Chúng:
Các ông chỉ
thấu đạt lý tọa thiền, chuyên khán hai ba mươi năm, nếu không hội ngộ chặt
đầu Lão Tăng đi. Lão Tăng ngót 40 năm chuyên khán không dụng tâm tạp loạn,
trừ hai thời cơm và cháo mới tạp dụng tâm.
3. Huyền Sa
Bị Thiền sư dạy Chúng:
Phàm người học
Bát nhã Bồ tát phải đủ đại căn cơ, đại trí tuệ mới được. Nếu căn cơ trì
độn, phải chuyên cần khổ nhọc, nhẫn nại đêm ngày quên mệt, giống như người
đi đưa đám ma mẹ, cần cù cấp bách sẽ có người phụ lực. Ghi tạc trong lòng
chuyên tâm thật cứu, ắt có ngày hội ngộ.
4. Đại
Nghĩa Thiền sư răn dạy:
Chớ có quên mình với tử tâm,
Bệnh này khó trị thật quá thâm,
Mau mau đề khởi tâm suy xét,
Cần kiếm Tổ sư nghĩa nhiệm mầu
Lỡ
khi ngủ gật, liền trợn mắt,
Xem thử kèo nhà, nó là gì ?
Nếu người tịnh tọa chẳng dụng công,
Bao giờ mới được ngộ tâm không ?
5. Vĩnh
Minh Thọ Thiền sư răn dạy:
Cửa học đạo
không có gì kỳ đặc, chỉ cần gột sạch căn, trần và những chủng tử nghiệp
thức từ vô lượng kiếp đến giờ. Các ông nếu tiêu trừ hết tình niệm, đoạn
dứt vọng duyên, đối với tất cả thứ ái dục ở thế gian tâm không động nhiễm
như cây đá, dù đạo nhãn chưa sáng, tự nhiên thân tâm an tịnh. Nếu gặp bậc
đạo sư chân chánh phải thiết tha thân cận, giả sử tham chưa thấu triệt,
học chưa thành tài, một phen tai nghe đạo vị tạo thành chủng tử đạo trong
tàng thức, kiếp kiếp không sa vào ác thú, đời đời không mất thân người,
vừa sanh ra một nghe ngàn ngộ.
6. Tử Tâm
Tân Thiền sư tiểu tham:
Chư Thượng tọa
! Thân này khó được, Phật pháp khó nghe, chính đời này không lo độ, mong
đời nào độ thân này ? Các ông thích tham thiền ư ? Phải buông bỏ hết.
Buông bỏ cái gì ? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn, buông bỏ những nghiệp thức từ
vô lượng kiếp đến nay. Nhìn xuống gót chân mình suy cùng, xét tận xem nó
là cái gì ? Xét qua xét lại, bỗng nhiên tâm hoa phát sáng, chiếu khắp cõi
nước mười phương.
Có thể nói
được tại tâm, nắm trong tay, mới hay biến quả đất thành vàng ròng, khuấy
nước sông làm tô lạc, thật khoái chí thay ! Chớ nên cắm đầu trên sách vở,
xét lời bàn chữ, nói thiền luận đạo, thiền đạo không có ở trên sách vở. Dù
nhớ hết Đại tạng kinh thuộc lòng Bách gia chư tử, cũng chỉ là luận bàn
suông chơi, đến khi chết trọn không lợi ích gì.
7. Đông Sơn
Diễn Thiền sư tiễn đệ tử đi hành khước:
[Hành khước :
Đi khắp nơi tìm thầy, tìm bạn học hỏi, cốt yếu không ở lâu một chỗ để dứt
tâm quyến luyến nhiễm trước.]
Ông nên ghi
hai chữ Sanh Tử trên trán, xét nét tìm hiểu. Chớ có kết bè, hiệp bọn cười
giỡn qua ngày. Lúc Diêm vương đến không thể đem cơm tiền đút lót được. Chớ
bảo rằng ta chưa từng nhắc ông.
Nếu thực tập
công phu, phải luôn luôn kiểm điểm thường thường xét nét, thế nầy là chỗ
đắc lực, thế kia là chỗ không đắc lực, thế này là chỗ được, thế kia là chỗ
mất. Có một bọn vừa lên Bồ đoàn [Bồ đoàn : Đồ lót ngồi trong lúc tọa thiền
lạnh. Thực tập công phu như vậy, quyết định có ngày đạt đạo.] liền ngủ
gật, đến lúc tỉnh thì tâm tưởng lăng xăng, vừa xuống Bồ đoàn là nói chuyện
vang rân. Biện đạo như thế đến Đức Phật Di Lặc ra đời cũng chưa kết quả.
Phải sáng suốt, mạnh mẽ đề khởi câu thoại đầu, sáng tham, tối tham cùng
với thùy miên, loạn tưởng chống nhau, không nên tọa trong vô sự. Lại không
nên trên Bồ đoàn ngồi như chết. Nếu tạp niệm dấy khởi, càng tranh đấu càng
nhiều chi bằng nhẹ nhàng buông xả, bước xuống đất đi một vòng. Lại lên bồ
đoàn mở mắt, để hai bàn tay ngón cái gối đầu nhau, xương sống thẳng lên, y
như trước đề khởi thoại đầu, liền có cảm giác mát mẻ, in như trả nước sôi
vừa đổ vào một gáo nước.
8. Ghi Am
Chơn Thiền sư dạy:
Tin có 10
phần, nghi cũng có 10 phần ; nghi 10 phần, ngộ cũng 10 phần. Hãy đem những
cái đã nghe, đã thấy, biết quấy, hiểu lầm, câu hay, lời diệu, thiền đạo,
Phật pháp, tâm cống cao ngã mạn … trong lúc bình sanh trút đổ triệt để.
Chỉ để lại công án còn chưa minh liễu, an định tại gót chân, ngồi thẳng
xương sống, không phân biệt ngày đêm, liền được quên lửng đông, tây, nam,
bắc, tợ hồ như người chết. Tâm tùy cảnh hóa, tự nhiên bên trong quên suy
nghĩ, bặt tâm thức, chợt phá vỡ đầu lâu, xưa nay không phải do ai mà được.
Bấy giờ đâu không thỏa chí bình sanh sao !
9. Đại Huệ
Cảo Thiền sư đáp lời hỏi:
Thời nay có
những kẻ tự mắt chưa sáng, chỉ biết dạy người tu tâm như ngây, như chết là
hết việc. Hoặc dạy người tùy duyên quán xét, mang vọng tình lặng lẽ chiếu
soi. Hoặc dạy người việc ấy chớ soi xét. Các bệnh như thế, dụng công phu
rất uổng không bao giờ liễu ngộ. Chỉ cần an tâm một chỗ, không việc gì
chẳng được, một khi thời tiết nhơn duyên đến, tự nhiên xúc chạm liền thấy
khắp nơi đều bừng sáng.
Đem tâm thức
duyên việc thế gian trần tục của mình, xoay lại để trên lầu Bát nhã, dù
đời này chưa triệt ngộ, nhưng khi chết nhất định không bị ác nghiệp kéo
lôi. Kiếp sau, vừa ra đời là được ở trong nhà Bát nhã, thấy nghe liền được
thọ dụng. Việc này quyết định như vậy không thể nghi ngờ.
Chỉ phải tự
luôn luôn đề khởi thoại đầu, khi vọng niệm dấy khởi không cần dụng tâm đàn
áp, nên khán câu thoại đầu. Đi cũng đề khởi, ngồi cũng đề khởi, đề khởi
qua, đề khởi lại, không cần xét ý nghĩa, nơi nào cũng là chỗ tốt, không
nên phóng xả. Bỗng nhiên tâm hoa khai phát chiếu soi khắp mười phương cõi
nước, hay ở trong đầu mảy lông hiện các cõi Phật, ngồi trong hạt bụi
chuyển đại pháp luân.
10. Mông
Sơn Dị Thiền sư dạy chúng:
Tôi năm 20
tuổi mới hiểu đạo, đến năm 32 tuổi đi thưa hỏi 17, 18 vị Trưởng lão, thế
nào thực hành công phu, đều không ai chỉ ra manh mối. Sau đến tham học với
Hoàng Sơn Trưởng lão, dạy khán chữ KHÔNG. Suốt cả ngày đêm chăm chăm khán
nó như mèo rình chuột, như gà ấp trứng, không cho gián đoạn. Khi chưa thấu
triệt phải như chuột khoét rương chưa phủng thì không dời chỗ khác. Thực
hành công phu như vậy nhất định có ngày phát minh. Tôi y lời dạy, ngày đêm
chăm chăm thể cứu trải 18 hôm, sau khi uống trà, chợt ngộ "Đức Thế Tôn đưa
cành hoa, Ngài Ca Diếp mỉm cười", vui mừng vô hạn. Đi cầu 4, 5 vị Trưởng
lão quyết nghi, các ngài đều không dạy một lời. Hoặc bảo dùng Hải ấn tam
muội [Hải ấn Tam muội : Chánh định trong lặng tâm suốt thấu vạn vật, như
biển nước yên lặng vạn tượng đều in hình không sót. tục.], nhất ấn mà ấn
định, ngoài ra chớ để lòng. Tôi tin lời nầy hơn hai năm. Nhằm năm Cảnh
Định thứ 5 tháng sáu, tại Tứ Xuyên phủ Trùng Khánh, tôi bị bệnh kiết nặng,
ngày đêm đi cả trăm lần, nguy kịch sắp chết. Tất cả công phu đều không đắc
lực, đến Hải ấn Tam muội cũng không dùng được. Những điều hiểu ngộ ngày
trước dùng cũng không được, có miệng không thể nói ra lời, có thân không
thể cử động, chỉ chờ chết mà thôi. Tôi cố sức gắng gượng làm chủ, phân phó
mọi việc xong xuôi, bước lên bồ đoàn, sửa soạn một lò trầm, chậm rãi ngồi
định. Thầm khấn: "Tam bảo Long Thiên chứng giám, con xin sám hối các
nghiệp ác về trước. Nếu đại hạn con đã đến, nguyện nương sức Bát nhã chánh
niệm thác sanh, sớm được xuất gia. Nếu bệnh được lành, con xin xả tục làm
Tăng, mau được giác ngộ, rộng độ những kẻ sau". Khởi nguyện nầy rồi, tôi
đề khởi chữ KHÔNG hồi quang tự khán, không bao lâu nghe trong tạng phủ
động ba bốn lần, không quan tâm đến nó, chập lâu mí mắt không động. Lại
lâu lâu không thấy có thân, chỉ có thoại đầu thầm thầm liên
Đến chiều mới
xuất định, bệnh bớt được phân nửa. Lại tọa thiền đến cuối canh ba, các
bệnh đều dứt, thân tâm nhẹ nhàng. Đến tháng 8, tôi sang Giang Lăng xuất
gia.
Qua một năm,
tôi rời đây đi hành khước, giữa đường dừng lại thổi cơm, hiểu được công
phu một mạch liên tục không gián đoạn. Đến Huỳnh Long, vào tạm trú. Một
hôm, đang tọa thiền ma ngủ đến, liền tại tòa chấn chỉnh tinh thần, ma ngủ
nhẹ nhẹ rút lui. Lần thứ hai, ma ngủ lại đến, cũng làm như lần trước chúng
thối lui. Lần thứ ba, ma ngủ rất trầm trọng, bèn bước xuống tòa đi lễ
Phật, chúng liền tiêu tán. Lại lên Bồ đoàn ngồi, y như nghi thức đã định
trước, tinh tấn mãnh liệt đuổi bọn ma ngủ đi mất. Ban đầu khi ngủ dùng gối
ngắn kê đầu, sau dùng cánh tay gối đầu, sau nữa giữ không cho thân xoay
trở. Qua hai ba đêm, ngày đêm đều nhọc nhằn mỏi mệt, dưới chân bức bách
khó chịu, bỗng nhiên trước mắt như mây mù tan, tự thân như tắm mới ra nhẹ
nhàng mát mẻ. Trong tâm nghi tình càng mạnh, không cần dụng công mà thầm
thầm hiện tiền. Tất cả thinh sắc, ngũ dục, bát phong đều không thể xâm
nhập, trong sạch tợ như tách pha lê đựng tuyết, như bầu trời trong tạnh
buổi sáng mùa thu. Tự suy nghĩ công phu tuy khả quan, nhưng không thể
quyết trạch. Tôi liền từ giã đi Chiết Giang.
Dọc đường quá
nhọc nhằn nên công phu thối thất. Đến Thừa Thiên, chỗ Cô Thiềm Hòa thượng
tạm dừng. Tự thệ : "Nếu không được hội ngộ, quyết không đi đâu". Hơn một
tháng công phu phục hồi như cũ. Bấy giờ khắp mình sanh ghẻ lở, tuy thế
không để ý đến, quyết tâm liều chết sấn sướt công phu, tự nhiên được đắc
lực. Thế là, thực hành được công phu trong lúc bệnh. Một hôm nhơn đi thọ
trai, vừa ra khỏi cửa đề khởi thoại đầu, đi mà không hay mình đi cho đến
nhà trai chủ. Lại thực hành được công phu trong lúc động. Công phu đến chỗ
này như trăng hoa dưới đáy nước, tuy sóng gió ầm ầm ở trên mà vẫn không
tan, không mất, hoạt bát linh động.
Ngày mùng 6
tháng 3, tôi trong khi tọa thiền đề khởi chữ KHÔNG, bỗng ngài Thủ tọa vào
thiền đường thắp hương, đụng hộp nhang khua lên tiếng, hốt nhiên như dưới
đất động một tiếng, chợt ngộ được chính mình, thấu đạt được ý ngài Triệu
Châu. Liền đắc ý một bài tụng :
Chớ bảo cuối đường cùng,
Dẫm ngược sóng là nước.
Lão Triệu Châu siêu quần,
Diện mục chỉ như thế.
Nguyên văn :
Một hưng lộ đầu cùng
Đạp phiên ba thị thủy
Triệu Châu lão siêu quần
Diện mục chỉ như thị.
Khoảng mùa thu
đến yết kiến các vị Đại lão : An Kiến, Tuyết Nham, Thối Tỉnh, Thạch Khanh,
Hư Chu. Hư Chu khuyên trở về Hoàng Sơn. Tôi y lời trở về Hoàng Sơn.
Vừa vào chùa
gặp Hoàng Sơn Trưởng lão hỏi : "Quang minh tịch chiếu biến hà sa, đâu
không phải lời của Tú Tài Trương Chuyết ?". Tôi vừa mở miệng, Ngài nạt một
tiếng, rồi đi. Từ đây, đi, ngồi, ăn uống đều không còn ý tứ, trải qua sáu
tháng. Đến năm sau vào mùa xuân, nhơn ra ngoài thành trở về, lên bực thang
đá, bỗng nhiên nghi ngại trong lòng đều tiêu tan, không còn biết có thân
đi trên đường. Tôi vào yết kiến Hoàng Sơn. Ngài hỏi lại câu trước. Tôi bèn
lật ngược thiền sàng. Về trước những phương pháp thực hành, bao nhiêu công
án, giờ này mỗi mỗi đều minh liễu.
Chư nhơn giả !
Tham thiền rất là tinh mật, tôi nếu không bị bệnh nặng ở Trùng Khánh có
thể một đời đã trôi xuôi. Cần thiết gặp bậc thầy thấy biết chơn chánh. Cho
nên, cổ nhơn sáng tham học, chiều thưa hỏi để quyết trạch thân tâm, chăm
chăm khẩn thiết tham cứu cho thấu đáo việc này.
11. Tố Am
Điền Đại sĩ dạy Chúng:
Gần đây những
người dốc chí tham thiền rất ít, vừa tham câu thoại đầu liền bị ma hôn
trầm, tán loạn lôi cuốn. Không biết hôn trầm, tán loạn với nghi tình chống
đối nhau. Tín tâm nặng thì nghi tình nhiều, nghi tình nhiều thì hôn trầm,
tán loạn tự mất.
12. Vô
Lượng - Thương Thiền sư dạy:
Suốt cả ngày
đêm đều ôm câu thoại đầu mà đi, mà đứng, mà ngồi, mà nằm, tâm dường như
dẫm lên gai nhọn, không bị tất cả vô minh, ngũ dục tam độc …, nuốt sống.
Đi đứng ngồi nằm toàn thân là nghi tình, nghi qua, nghi lại, trọn ngày như
ngây ngốc, thấy sắc, nghe tiếng, chỉ giữ một tiếng động ấy thôi.
13. Cương
Nhu Thiền sư đáp thơ người:
Thực tập công
phu cần phải khởi đại nghi tình. Ông tập công phu chưa đầy một tháng đã
kết thành khối. Nếu chơn nghi hiện tiền thì dù khuấy cũng không động. Cần
phải dõng mãnh tiến tới, trọn ngày như kẻ ngây khờ, khi thời tiết đến,
không còn sợ con qui trong vò chạy mất.
14. Tuyết
Nham Khâm Thiền sư dạy:
Thời giờ không
đợi người, một chớp mắt đã qua đời khác, lúc thân thể còn tráng kiện sao
không dốc chí học hỏi cho thấu nguồn tột đáy. Chúng ta có cái diễm phúc gì
mà ngày nay được ở trong Tăng đường ấm cúng, tại pháp hội của Tổ sư, trên
ngọn danh sơn Đại trạch Thần long thế giới này. Ăn thì cơm cháo ngon lành,
uống thì nước nôi ấm áp. Nếu không dốc chí học hỏi giáo lý cho tận cùng,
triệt để, là các ông tự thả trôi đời mình cam chịu trôi lăn, thật là kẻ hạ
liệt ngu si! Nếu thật là mờ mịt không biết, sao không thưa hỏi các bậc
tiên tri ? Phàm những khi có người hỏi đạo, các bậc Trưởng lão chỉ dạy,
hoặc nói ngang nói dọc sao không ghi nhớ xét nghĩ rốt ráo thử cái đó là
cái gì ?
Sơn tăng (Ngài
tự xưng) xuất gia lúc năm tuổi, làm thị giả thượng nhơn, mỗi khi Ngài cùng
khách luận đạo đều lặng tâm lóng nghe, liền biết có việc này, lòng tin
chắc chắn khởi sự học tọa thiền. Năm 16 tuổi làm Tăng, 18 tuổi đi hành
khước. Đến chỗ Hòa Thượng Song Lâm Viễn, thực tập công phu từ sáng đến
chiều không ra khỏi ngõ, dù vào liêu của chúng cũng chỉ đi đến giá phía
sau. Vòng tay trước ngực, không ngó hai bên, chỉ nhìn trước không hơn ba
thước. Ban đầu khán chữ KHÔNG, chợt niệm đầu phát khởi, liền phản quán trở
lại, bỗng được một niệm như băng lạnh, tâm lóng lặng trong trẻo không diêu
động, hơn một ngày và khoảng một khắc (15 phút) không nghe tiếng chuông
trống.
Năm tôi 19
tuổi dừng tại Linh Ẩn, được thơ Xử Châu gởi đến. Trong thơ nói : "Nghe ông
thực tập công phu như nước lạnh, việc ấy không hay, hai tướng động và tịnh
phải đoạn dứt. Phàm tham thiền phải khởi nghi tình, nghi ít ngộ ít, nghi
nhiều ngộ nhiều…". Được Xử Châu chỉ bảo, tôi liền đổi thoại đầu khán "càn
niệu quyết" [Càn niệu quyết : có người hỏi Tổ Vân Môn : "Thế nào là Phật
?" Tổ đáp: "Càn niệu quyết" (đồ hốt phẩn)]. Một bề đông nghi tây nghi,
khán ngang khán dọc, lại bị hôn trầm, tán loạn giao công, không được một
khắc yên tịnh. Tôi bèn dời sang Tịnh Từ. Được bảy huynh đệ kết bạn tọa
thiền, giao ước không đấp mền và không kề lưng xuống chiếu. Ngoài ra, có
Tu Thượng tọa mỗi ngày ngồi trên bồ đoàn in tuồng "thiết quyết tử" [Thiết
quyết tử : Dáng sừng sừng chăm chăm đáu đáu in tuồng cây giá áo sắt.] khi
bước xuống đi mở đôi mắt, xuôi hai tay cũng tợ "thiết quyết tử". Muốn gần
gũi Ngài để hỏi thoại đầu, mà không được. Nhơn hai năm thân không nằm, bị
hôn trầm hành rất khổ sở. Bèn một buông, tất cả đều buông. Sau hai tháng,
mới chỉnh đốn được sự tu tập trước, lần lần tinh thần hồi phục. Lâu nay
cốt mong đạt được bản hoài, nên không nằm quên ngủ ; nhưng không ngủ không
được, đến giữa đêm buồn ngủ muồi phải ngủ một giấc, thức dậy mới có tinh
thần.
Một hôm, bên
hành lang gặp Tu Thượng-tọa, mới một lần được gặp Ngài. Tôi liền hỏi :
"Năm rồi, muốn nhờ thầy dạy câu thoại đầu, tại sao thầy cứ tránh tôi ?".
Thượng tọa bảo : "Người chơn chánh biện đạo không có rảnh mà cắt móng tay,
huống là dạy thoại đầu". Tôi hỏi : "Hiện giờ tôi bị hôn trầm, tán loạn
đuổi không đi, phải làm sao ?". Thượng tọa dạy : "Tại ông không mãnh liệt,
phải lên Bồ đoàn ngồi thẳng xương sống, gom toàn lực vào câu thoại đầu,
không màng đến hôn trầm, tán loạn". Tôi y lời dạy của Thượng tọa thực hành
công phu, bỗng nhiên quên cả thân tâm, trong trẻo sáng suốt cả ba ngày
đêm, hai con mắt không nhắm. Ngày thứ ba, sau buổi ngọ trai, tôi kinh hành
ngoài tam môn, chợt gặp Thượng tọa. Thượng tọa hỏi : "Ông thực hành công
phu thế nào ?". Tôi thưa : "Được đạo". Thượng tọa hỏi : "Ông nói thế nào
được đạo ?". Tôi lặng thinh không thể trả lời, lại tăng thêm mê muội. Toan
quay vào thiền đường tọa thiền, chợt gặp Thủ tọa. Thủ tọa bảo : "Ông chỉ
mở sáng đôi mắt, xem thử cái ấy là cái gì ?". Tôi lại bị đề thêm một câu
thoại đầu, vội vã vào Thiền đường tọa Thiền. Vừa lên ngồi Bồ đoàn, bỗng
nhiên trước mặt mở sáng như tuồng đất lỡ. Trạng thái này không thể trình
bày cho người hiểu được, không thể lấy các tướng thế gian thí dụ được. Tôi
bèn bước xuống đơn tìm Thượng tọa. Thượng tọa thấy, liền bảo : "Tốt lắm !
tốt lắm". Rồi nắm tay tôi dẫn đi một vòng trên bờ liễu trước cửa chùa.
Ngước nhìn trời đất xum la vạn tượng, những vật mắt thấy tai nghe xưa nay
là đáng chán, đáng bỏ, cho đến vô minh, phiền não từ trước đến giờ đều là
Diệu minh của mình, lưu xuất từ chơn tánh. Hơn nửa tháng không khởi xao
động. Rất tiếc ! không gặp bậc Tôn túc sáng suốt hướng dẫn nên không tiến
lên được, phải dừng trụ nơi đây. Không thể vượt được chỗ thấy biết, làm
ngăn ngại chánh tri kiến, mỗi khi ngủ cảnh khác lúc thức. Chỉ thú của công
án thì lý hội, còn "núi bạc vách sắt" [Núi bạc vách sắt : Linh tánh cao
vút khó với tới, thí dụ như núi bạc vách sắt khó vịn được.]thì không hiểu.
Tuy gần gũi những vị Tiên sư chưa đạt đạo, cũng nhiều năm nhập thất, thăng
tòa, mà không có một lời nào giải quyết được sự nghi ngại trong tâm. Trong
kinh giáo và những lời Ngữ lục cũng không cứu được bệnh này. Ôm ấp cái
nghi này trong lòng ngót 10 năm.
Một hôm, ở
Thiên mục, tôi kinh hành trên điện Phật, mắt chợt thấy một gốc Bá cổ, vừa
thất liền phát tỉnh, cảnh giới được lâu nay là vật ngăn ngại, chợt nhiên
tiêu tán, như trong nhà tối hiện mặt trời. Từ đây không còn nghi sanh,
nghi tử, nghi Phật, nghi Tổ mới được thấy chỗ đứng của Kính Sơn Lão Nhơn,
vui vẻ an trụ nơi đây 30 năm.
15. Cao
Phong Diệu Thiền Sư dạy Chúng:
Việc này chỉ
cần người có tâm tha thiết, vừa phát tâm tha thiết chơn nghi liền khởi.
Nghi qua, nghi lại, không nghi tự nghi, từ sáng đến chiều vuốt đầu rút
đuôi làm thành một khối. Khuấy không động, đuổi không đi, sáng suốt linh
diệu, thường hiện ở trước, đây là khi đắc lực. Lại phải sát định chánh
niệm, cẩn thận không khởi nhị tâm, đến đi mà không biết mình đi, ngồi
không biết mình ngồi, lạnh, nóng, đói, khát, tất cả đều không biết, cảnh
giới này hiện tiền tức là tin tức sắp đến nhà. Nắm thì tới, bắt thì được,
chỉ còn đợi thời khắc mà thôi. Lại không nên nghe nói như thế, rồi khởi
tâm tinh tấn cầu nó, cũng không được đem tâm đợi nó, không được buông,
không được bỏ, chỉ cần ngưng đọng chánh niệm, lấy ngộ làm qui tắc. Chính
khi ấy, có tám muôn bốn ngàn quân ma rình rập trước căn môn [Căn môn :
Ngoài cửa sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).] của ông, tất cả việc kỳ
quái, thiện ác … tùy tâm ông mà hiện. Ông vừa khởi một mảy may tâm nhiễm
trước, liền rơi vào rọ của ma, bị chúng làm chủ, chịu chúng chỉ huy, miệng
nói lời ma, thân làm việc ma, chánh nhơn Bát nhã từ đây hằng mất, hạt
giống Bồ đề không thể nẩy mầm. Chỉ dừng khởi tâm như quỷ giữ thây ma, giữ
qua giữ lại, khối nghi bỗng nhiên nổ một tiếng kinh thiên động địa.
Tôi 15 tuổi
xuất gia, 20 tuổi được đắp y, đến Tịnh Từ lập nguyện bốn năm liều chết học
thiền. Ban đầu học với Đoạn Kiều Hòa thượng, dạy tham cứu "sanh từ đâu
đến, chết trở về đâu ?" Ý phân hai đường, tâm không qui nhất. Sau yết kiến
Tuyết Nham Hòa thượng, dạy khán chữ KHÔNG. Lại dạy mỗi ngày đến trình một
lần, như người đi đường mỗi ngày cần thấy công trình, nhơn thấy nói mới có
thứ tự. Rốt sau, đến Ngài không hỏi chỗ công phu. Một hôm vào cửa, Ngài
hỏi : "Ai cùng ông kéo tử thi đến ?" [Nguyên văn : Thùy dữ nê dà giá
tử-thi lai?] Tiếng chưa dứt, Ngài liền đi ra. Sau đến Kinh Sơn, vừa vào
thiền đường, tôi như trong mộng chợt nhớ câu "Muôn pháp về một, một về chỗ
nào ?". Từ đây nghi tình phát hiện, không còn phân biệt đông, tây, nam,
bắc. Ngày thứ sáu ở đây, theo chúng lên gác tụng kinh, vừa ngước đầu nhìn
lên chợt thấy bài Chơn tán của Ngũ tổ Diễn Hòa thượng, hai câu sau :
"Trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày,
Gắng công suy xét nguyên lai là gì"
Nguyên văn :
Bách niên tam vạn lục thiên triêu.
Phản phú nguyên lai thị giá hán
Câu "kéo tử
thi…" ngày trước, bỗng nhiên thấu triệt, liền hồn phi đảm tán, chập sau
tỉnh lại, khác nào người buông gánh nặng 120 cân. Khi đó, tôi được 24
tuổi. Mãn nguyện ba năm, sau bị Hòa thượng hỏi : "Những ngày này tu tập đã
làm chủ được chưa ?". Tôi thưa : "Đã làm chủ". Lại hỏi : "Trong khi ngủ
nằm mộng có làm chủ được không ?". Thưa : "Làm chủ được". Lại hỏi : "Khi
ngủ mê không mộng chủ ở chỗ nào ?". Câu hỏi này không có lời để đáp, không
có lý lẽ trình bày, Hòa thượng dạy : "Từ nay ông không cần học Phật pháp
cùng cổ tột kim, chỉ cần đói thì ăn, mệt thì ngủ, ngủ vừa thức dậy chấn
chỉnh tinh thần, tự hỏi cái ta thức này chủ nhân rốt ráo tại chỗ nào ? An
thần lập mạng, tự thể chuyển một đời ngu si, quyết định phải thấy rõ ràng
cái ấy".
Trải qua năm
năm, một hôm đang ngủ chợt thức giấc, vẫn ôm lòng hoài nghi việc này, bỗng
một đạo hữu cùng ngủ đẩy rớt cái gối xuống đất, động một tiếng, ngẫu nhiên
tan vỡ khối nghi, như chim thoát khỏi lưới. Bao nhiêu công án của Phật tổ,
những nhơn duyên sai biệt nay đều thấu đạt. Từ đây, nhà yên nước thạnh,
thiên hạ thái bình, nhất niệm vô vi mười phương đều dứt.
16. Thiết
Sơn Ái Thiền sư dạy:
Sơn tăng 13
tuổi biết được Phật pháp, 18 tuổi xuất gia, 20 tuổi làm Tăng. Trước đến
Thạch Sương, được Am chủ dạy luôn luôn quán chót mũi trắng, tâm được thanh
tịnh. Sau có vị Tăng từ Tuyết Nham đến, trình bày phương pháp tọa thiền do
Ngài Tuyết Nham dạy. Xét lại công phu của tôi chưa từng được qua lối ấy.
Nhơn đó, tôi đến Tuyết Nham. Ngài dạy thực hành công phu chỉ đề một chữ
KHÔNG. Tôi y đó tu tập, đến đêm thứ tư toàn thân mồ hôi ra ướt dầm, được
mười phần trong sáng. Kế vào Tăng đường, tôi không nói chuyện với ai, chỉ
chuyên tâm vào sự tọa thiền.
Sau đến yết
kiến Diệu Cao Phong. Ngài dạy : "Suốt cả ngày đêm thoại đầu chớ cho gián
đoạn. Canh tư thức dậy theo đuổi thoại đầu sẽ được hiện trước mắt. Vừa
biết ma ngủ đến, liền đứng dậy đi kinh hành vẫn giữ thoại đầu, khi đi mỗi
bước không rời thoại đầu. Dọn đơn, rửa bát, cất muỗng, dẹp đũa, theo chúng
làm việc… đều không rời thoại đầu. Ban ngày, ban đêm đều cũng như vậy,
nhào nặn thành một khối, chắc chắn sẽ được phát minh". Theo lời dạy của
Ngài Cao Phong, tôi thực hành công phu quả nhiên kết thành một khối.
Ngày 20 tháng
3, Ngài Tuyết Nham lên Thiền đường bảo: "Chư huynh đệ ! Nếu ngồi lâu trên
bồ đoàn bị ngủ gật, nên bước xuống đất, đi một vòng, lấy nước lạnh súc
miệng, rửa hai con mắt, lại lên bồ đoàn ngồi thẳng xương sống như vách
đứng ngàn trượng, đề khởi câu thoại đầu. Dụng công như thế quyết định 7
ngày được ngộ. Lối đó là 40 năm về trước, Sơn tăng đã áp dụng công phu".
Tôi y lời dạy
này thực hành, liền biết có công phu dị thường. Ngày thứ hai, cặp mắt muốn
nhắm mà không thể nhắm. Ngày thứ ba, thân này như đi giữa hư không. Ngày
thứ tư, không còn biết tới việc thế gian. Đêm ấy, đứng dựa lan can một
chút, lặng nhiên không biết, kiểm điểm lại thoại đầu vẫn không mất. Trở
vào lên bồ đoàn ngồi chợt nghe từ đầu đến chân tợ như đầu lâu chẻ vỡ, in
tuồng dưới đáy giếng sâu muôn trượng được đưa lên hư không. Khi ấy, vui
mừng vô hạn. Tôi đem việc này thuật lại Ngài Tuyết Nham. Ngài bảo : "Chưa
phải". Lại trở về thực hành công phu, mong được pháp ngữ. Chuyến sau, Ngài
bảo :
"Nối dòng Phật, Tổ việc hướng thượng,
Sau ót trước đây thiếu một chùy".
Nguyên văn :
Thiệu long Phật, Tổ hướng thượng sự,
Não hậu y tiền khiếm nhất chùy.
Trong tâm tự
hỏi, tại sao lại "thiếu một chùy ?". Không tin việc này, liền khởi nghi,
không thể tự giải quyết được. Mỗi ngày chồng chập tọa thiền sắp được nửa
năm. Một hôm, nhơn nhức đầu chưng thuốc, gặp Giác Xích Tỷ, tri khách, hỏi
: "Thái tử Na Tra lóc thịt trả cho mẹ, cắt xương trả cho cha là sao ?".
Nghe hiểu mà không thể đáp, bỗng nhiên phá vỡ khối nghi.
Sau đến tham
học với ngài Mông Sơn. Sơn hỏi : "Tham thiền công phu đến chỗ nào là cùng
tột ?". Liền im lặng không biết mối manh. Sơn dạy : "Lại phải thực hành
định lực công phu, gột sạch tập tục thế gian". Mỗi khi vào thất chỉ nhớ
"thiếu một chùy". Một hôm, từ ban mai tọa thiền đến suốt đêm, dùng định
lực dồn ép, liền được thấy u vi. Khi xuất định gặp Sơn, bèn thuật lại cảnh
này. Sơn bảo: "Cái ấy là bản lai diện mục của ông". Vừa muốn nói, Sơn liền
đóng cửa. Từ đây, công phu mỗi ngày càng đến chỗ mầu nhiệm. Bởi vì rời
ngài Tuyết Nham sớm quá, nên thực hành công phu chưa từng đến chỗ tế mật.
Rất may ! Lại được gặp bậc Thầy khuôn mẫu, mới đạt đến chỗ này. Lâu nay
nhờ thực hành công phu khẩn thiết cùng cực, nên hiện tại giờ giờ ngộ nhập,
bước bước sạch trong. Một hôm, nhìn trên vách thấy bài Minh Tín Tâm của
Tam tổ rằng : "Về nguồn được ý chỉ,
Tùy chiếu mất chơn tông"
Nguyên văn :
Qui căn đắc chỉ, Tùy chiếu thất Tông.
Lại gọt thêm
một lớp nữa. Ngài Mông Sơn bảo : "Việc này in như mài giũa hạt châu, càng
giũa thì càng sáng, càng sáng thì càng trong sạch. Giũa một lần, hơn nhiều
đời khác thực hành công phu". Nhưng, tuy nói vậy, chữ "thiếu" vẫn còn ở
trong tâm. Một hôm trong định, chợt chạm đến chữ "thiếu", bỗng nhiên thân
tâm rỗng rang, triệt xương thấu tủy, như tuyết đọng hốt nhiên chảy tan,
siêu việt không còn ngăn ngại. Liền bước xuống đất tìm Mông Sơn thưa :
"Tôi thiếu cái gì ?" Sơn đánh ba cái, tôi lễ ba lễ. Sơn bảo : "Thiết Sơn
chỉ một cái đó mà mấy năm rồi, đến nay mới liễu ngộ".
Chư huynh đệ !
Nếu tạm thời câu thoại đầu không còn, có khác gì người chết. Tất cả cảnh
giới đến bức bách thân, chỉ lấy câu thoại đầu chống lại. Luôn luôn kiểm
điểm thoại đầu, xét trong động, trong tịnh và đắc lực hay không đắc lực.
Trong định cũng không nên quên thoại đầu, quên thoại đầu thì thành tà
định. Không được khởi tâm mong chờ được ngộ. Không nên tìm hiểu trên văn
tự. Đừng thấy xúc chạm chút ít cho là đã liễu ngộ. Chỉ nên như si như
ngốc, Phật pháp, thế pháp nhồi thành một khối. Thi vi động tác chỉ là tầm
thường, chỉ cần thay đổi đường lối của ngày xưa. Cổ nhơn nói :
Đại đạo xưa nay chẳng dụng lời,
Nghĩ bàn huyền diệu cách vực trời,
Chi bằng quên cả năng và sở,
Mới khá đói ăn, mệt nghỉ ngơi
Nguyên văn :
Đại đạo tùng lai bất thuộc ngôn
Nghĩ đàm huyền diệu cách thiên uyên
Trực tu năng sở câu vong khước
Thủy khả cơ xan khốn tắc miên.
17. Đoạn
Nhai Nghĩa Thiền sư dạy Chúng:
Nếu muốn siêu
phàm nhập thánh thoát khỏi trần lao, phải nên lột da, chẻ xương, dứt hẳn
tái sanh, như trong tro lạnh phát lửa, cây khô nảy chồi, đâu phải là việc
dễ dàng. Tôi trước kia hầu hạ Tiên sư đã nhiều năm, mỗi khi bị đánh phạt,
tâm không khởi một niệm xa lìa. Cho đến ngày nay khi gặp những việc đau
khổ, bất giác nhớ đến Thầy mà rơi nước mắt! Đâu phải như các ông hiện giờ,
gặp một việc khổ nhỏ là bỏ Thầy ra đi không thèm ngó trở lại !
18. Trung
Phong Bổn Thiền sư dạy chúng:
Tiên sư Cao
Phong Hòa thượng dạy người, chỉ dạy tham câu thoại đầu, ôm ấp trong lòng,
đi tham như thế, ngồi cũng tham như thế. Khi tham đến chỗ dụng lực không
tới, lưu ý không được, chợt nhiên thấu đạt, mới biết thành Phật đã tự bao
giờ. Một việc ấy, là do Phật, Tổ đã kinh nghiệm được cái tam muội liễu
sanh thoát tử vậy. Chỉ quí ở chỗ tin quả quyết và trải thời gian lâu xa
không thối chuyển, quyết định sẽ được tương ưng.
Khán thoại đầu
thực hành công phu là chỗ đứng rất ổn đáng, gần gũi bờ giác ngộ. Dù đời
nầy không ngộ, tín tâm vẫn không lui sụt, ắt đời sau hoặc đời sau nữa sẽ
được khai ngộ.
Hoặc hai ba
mươi năm mà chưa khai ngộ, không cần tìm phương tiện nào lạ, chỉ giữ tâm
không duyên cảnh khác, ý dứt các vọng, chăm chăm không bỏ, một bề chú ý
vào câu thoại đầu đang tham, đứng thẳng tại cuối đầu, giữ vững sống cùng
sống, chết cùng chết. Đâu quản ba đời, năm đời, mười đời, một trăm đời,
nếu chưa triệt ngộ, quyết định không thôi. Có cái chánh nhơn như thế rồi,
lo gì đại sự không có ngày minh liễu.
Trong lúc bệnh
thật hành công phu, không cần ông tinh tấn dõng mãnh, cũng không cần mày
chau, mắt trợn, chỉ cần tâm ông như cây như đá, tợ hồ như đống tro tàn.
Đem thân tứ đại huyễn hóa này gởi tận thế giới bên kia. Dù nó bệnh cũng
được, chết cũng được, có người săn sóc cũng được, không ai săn sóc cũng
được, thơm sạch cũng được, lầy thúi cũng được, có thầy trị lành bệnh sống
đến 120 tuổi cũng được, nếu như chết liền bị nghiệp trước lôi vào vạc dầu
sôi, lò lửa đỏ cũng được. Trong những cảnh giới như thế, đều không làm lay
động được tâm, chỉ thiết tha đem câu thoại đầu (không cần xét ý nghĩa) để
bên lò thuốc, gối trên đầu nằm, thầm thầm tham chiếu, không nên lơi lỏng.
19. Thiên
Như Tắc Thiền sư dạy:
Sanh không
biết từ đâu đến, gọi là sanh đại. Tử không biết về đâu, gọi là tử đại. Khi
tử thần đến chỉ còn biết co tay giựt chơn. Huống nữa, đường trước mịt mờ
theo nghiệp thọ báo, thực là cái việc rất khẩn cấp vậy. Cái đó là cảnh quả
báo của sanh tử. Nếu luận về gốc nghiệp sanh tử, tức là ngày nay phóng tâm
chạy theo thinh, sắc khiến phải thất điên bát đảo, chính là gốc ở nó. Do
đó, Phật, Tổ vận đại từ bi hoặc dạy ông tham thoại đầu, hoặc dạy niệm
Phật, khiến ông quét sạch vọng niệm, nhận ra mặt thật xưa nay (bản lai
diện mục), làm cái việc khoáng đạt đại giải thoát.
Nhưng, người
nay tu không linh nghiệm bởi ba thứ bệnh :
1- Không gặp
Thiện tri thức chỉ dạy.
2- Không thống
thiết ghi nhớ việc lớn sanh tử, lửng lơ thong thả không ngờ mình ở trong
vô sự.
3- Đối với
danh hư, lợi ảo ở thế gian quán không tan, buông không rời, lên ngồi trên
bồ đoàn mà vọng duyên ác tập đoạn không được, bỏ không khỏi. Chỗ phong ba
dấy động, bất giác thân này lăn vào trong biển nghiệp, trôi dạt đông tây.
Người chơn
chánh học đạo đâu có cam chịu như vậy. Phải tin quyết lời Tổ sư dạy : "Tạp
niệm lăng xăng làm sao hạ thủ công phu ? Chỉ một câu thoại đầu như cầm cây
chổi sắt quét dọn, càng quét nó càng nhiều, càng nhiều lại càng quét, quét
xuôi không được thì quét ngược, hốt nhiên quét tận thái hư không, muôn sai
ngàn biệt một đường suốt thấu". Chư thiện đức ! nỗ lực đời này cho liễu
ngộ, đừng để vĩnh kiếp thọ tai ương.
Có người tự
nghi niệm Phật cùng tham thiền không đồng ? Đâu biết rằng, tham thiền chỉ
mong biết được tâm, thấy được tánh; niệm Phật ngộ tự tánh Di Đà duy tâm
Tịnh độ, làm gì có hai lý. Kinh nói : "Nhớ Phật, niệm Phật hiện tiền và
đời sau quyết định thấy Phật". Đã nói hiện tiền thấy Phật thì cùng với
tham thiền ngộ đạo, đâu có cái gì là khác ?
Chỉ đem bốn
chữ A Di Đà Phật làm câu thoại đầu, suốt 12 thời (24 giờ) luôn luôn đề
khởi, đến chỗ một niệm không sanh, không mắc trong giai cấp vượt thẳng đến
cõi Phật.
20. Trí
Triệt Thiền sư bàn Tịnh độ huyền môn:
Niệm Phật một,
hoặc ba, năm, bảy tiếng, thầm tự hỏi : tiếng niệm Phật này từ đâu khởi ?
Hoặc hỏi : Niệm Phật là ai ? Có nghi chỉ giữ lấy cái nghi đó. Nếu chỗ hỏi
không thiết tha thì nghi tình không tha thiết. Hỏi trở lại cái câu cứu
kính "niệm Phật là ai ?". Hỏi ít thì nghi ít. Chỉ lấy câu "niệm Phật là ai
?" xét mãi hỏi hoài.
21. Vô Văn
Thông Thiền sư dạy:
Sơn tăng ban
đầu yết kiến Độc Ông Hòa thượng, dạy tham "không phải tâm, không phải vật,
không phải Phật". Sau, cùng với Vân Phong, Nguyệt Sơn v.v… sáu người lập
nguyện tương trợ nhau đến cứu kính. Thứ, yết kiến Hoài Tây, dạy về công
năng chữ KHÔNG, bảo đề một chữ KHÔNG. Kế đi đến Trường Lô, kết bạn miệt
mài điêu luyện. Sau, gặp sư huynh Hoài thượng Kỉnh. Kỉnh hỏi : "Ông sáu
bảy năm rồi có thấy được cái gì ?". Tôi đáp : "Mỗi ngày chỉ tâm ấy không
trước một vật". Kỉnh hỏi : "Một cái ấy bị ràng buộc ở đâu ra đó ?". Tôi
trong tâm in tuồng biết mà không biết, không dám mở miệng. Kỉnh thấy tôi
chỗ thực hành chưa phát tỉnh, bèn bảo : "Ông trong định công phu không
mất, chỗ động liền mất". Bị chỉ trúng bệnh, lòng kinh sợ, tôi hỏi : "Phải
làm thế nào thấu đạt được việc lớn ấy ?" Kỉnh bảo: "Ông không nghe Xuyên
Lão Tử nói : Cần biết ý đoan chánh, xây mặt về hướng Nam xem sao Bắc đẩu"
[Nguyên văn : Yếu tri đoan đích ý, Bắc đẩu diện nam khán.]. Nói xong, liền
bỏ đi. Tôi bị câu nói này, lòng nghi ngờ càng tăng, đi không biết mình đi,
ngồi không biết mình ngồi, khoảng năm bảy ngày như vậy. Không đề chữ KHÔNG
nữa, chuyên khán "cần biết ý đoan chánh, xây mặt về hướng Nam xem sao Bắc
đẩu". Đến liêu Tịnh đầu cùng chúng ngồi trên một cái cây, chỉ vì nghi tình
không giải, độ khoảng bữa ăn, chợt biết trong tâm rỗng rang trong nhẹ,
thấy tình tưởng đổ vỡ giống như lột da, người, vật tất cả cảnh trước mắt
đều không thấy cũng như hư không. Ngủ khoảng nửa giấc thức dậy, toàn thân
đều ra mồ hôi, liền ngộ được câu "Xây mặt về hướng Nam xem sao Bắc đẩu".
Bèn đến gặp Kỉnh, nói bài tụng :
"Đều không ngăn ngại,
Chỉ có một đường hướng thượng.
Chưa được khoáng đãng"
Nguyên văn :
Đô
vô đới ngại
Thượng hữu hướng thượng nhấùt lộ,
Bất đắc sái lạc.
Sau, vào trong
núi Hương Nham qua một mùa hạ, bị muỗi cắn hai tay nát bấy. Nhơn nhớ đến
cổ nhơn vì pháp quên mình, tại sao ta lại sợ muỗi ? Chí tâm quên tất cả,
ngậm khít hai hàm răng, ấn mạnh hai bàn tay, chỉ đề một chữ KHÔNG, nhẫn
lại càng nhẫn. Bất giác thân tâm vắng lặng, như tòa nhà đổ vỡ bốn vách, in
tuồng hư không, không có một việc gì phải nghĩ ngợi. Giờ thìn tọa thiền,
đến giờ mùi xuất định, tự biết Phật pháp không dối người, tại mình công
phu chưa đến. Tuy kiến giải rõ ràng, mà còn vọng tưởng ẩn kín chưa dứt.
Bèn vào núi Quang Châu tập định sáu năm. Đến núi Lục An trụ sáu năm. Sau
lại về núi Quang Châu ở ba năm, mới chứng đến chỗ siêu thoát.
22. Độc
Phong Hòa thượng dạy Chúng:
Kẻ học đạo lấy
cái gì làm chỗ nắm chắc trong tay ? - Chỉ đề một câu thoại đầu là cái nắm
chắc trong tay.
23. Bát Nhã
Hòa thượng dạy Chúng:
Chư huynh đệ !
có người thực hành công phu ba năm, năm năm mà chưa được cái gì , liền đem
câu thoại đầu ấy ném đi, đâu biết thế là đi được nửa đường vội bỏ. Đáng
tiếc ! từ trước đến đây, trong tâm chứa đầy máy móc.
Lại kẻ có chí,
thấy trong chúng sẵn củi khô, nước đầy, nhà ấm, phát nguyện ba năm không
ra khỏi cửa, quyết định được thọ dụng mới chịu. Sau khi được chút ít thọ
dụng, lại gắng sức thực hành công phu, tâm địa được thanh tịnh, thấy cảnh
vật hiện tiền liền thành tứ cú (pháp kệ) tự cho là đại liễu ngộ. Rồi ngon
mồm, thích ý lầm mất một đời, khi tắt ba tấc hơi lấy gì bảo đảm ? Quí Phật
tử ! Nếu muốn giải thoát, tham phải bền chí tham, ngộ phải chơn thật ngộ.
Hoặc thoại đầu
thầm thầm liên tục, không gián đoạn, không biết có thân, gọi đó là quên
thân, chớ pháp chưa quên. Có người đến chỗ quên thân, chợt nhớ tìm lại,
như trong mộng thấy trợt chân rơi xuống vực sâu muôn tượng chỉ lo vớt vát
cứu mạng, liền mắc bệnh điên cuồng. Đến đây, phải khẩn thiết đề thoại đầu,
bỗng nhiên cả thoại đầu cũng quên, gọi là thân pháp đều quên. Thình lình
trong tro lạnh nghe đậu nổ, mới biết Trương Công uống rượu, Lý Công say
(đạt đến chỗ giao cảm không thể nghĩ bàn). Lâu nay ở trong cửa Bát nhã
hoặc nạt, hoặc đánh là tại sao ? Vì phải đập phá lớp cửa chót của chư Tổ
vậy. Phải đi khắp tham vấn các bậc Thiện tri thức để được biết chỗ cạn
sâu, sau sẽ đến bên bờ suối, dưới cội cây bảo dưỡng thánh thai, đợi đến
khi nào Long Thiên đuổi ra, mới nên đi xiển dương chánh pháp, khắp độ quần
sanh.
24. Tuyết
Đình Hòa thượng dạy Chúng:
Suốt 12 thời
(24 giờ) tẩy sạch mọi việc, chỉ khán câu "trước khi cha mẹ chưa sanh, cái
gì là mặt thật xưa nay (bản lai diện mục) của ta ?" Không quản đắc lực hay
không đắc lực, hôn trầm tán loạn hay không hôn trầm tán loạn, chỉ chuyên
đề khởi thoại đầu.
25. Cổ Mai
Hữu Thiền sư dạy Chúng:
Phải cần phát
tâm dõng mãnh, lập chí cương quyết, đem những điều đã học, đã hiểu trong
thuở bình sanh, tất cả Phật pháp, văn chương, thi phú, Tam muội trên ngữ
ngôn, quét sạch, quét ra tận bể đại dương, không bao giờ nhắc đến. Trong
khi tọa thiền đoạn sạch tám muôn bốn ngàn niệm đầu vi tế. Lại đem câu
thoại đầu đã tham, một bề đề khởi, nghi qua nghi lại, đè tới ép lui, thân
tâm lóng lặng, xét phần đã hiểu lấy liễu ngộ làm qui tắc. Không nên trên
công án xét nét, trên kinh sách tìm kiếm, chỉ phải đoạn dứt mọi việc xao
động mới mong đến nhà. Nếu thoại đầu đề không khởi, liên tiếp đề khởi ba
lượt liền thấy có sức mạnh. Nếu thân thể mỏi mệt, tâm thức xao động, nên
nhẹ nhẹ bước xuống đi một vòng , lại lên Bồ đoàn, đem câu thoại đầu cũ như
trước mà nhào nặn.
Nếu vừa lên Bồ
đoàn liền bị ngủ gật, mở được mắt ra thì nghĩ Đông tưởng Tây, xuống Bồ
đoàn thì đi cặp đôi, cặp ba, kề tai giao đầu, nói to nói nhỏ, ghi một bụng
kinh, sách, ngữ lục trên văn tự, thuật hay luận khéo, dụng tâm như thế,
đến phút lâm chung đều không thể nương cậy.
26. Kiệt
Phong Ngu Thiền sư dạy Giảng sư Ngũ Đài:
Giả sử Đức Văn
Thù phóng hào quang kim sắc đến xoa trên đảnh ông, ông được cỡi trên mình
con sư tử, Đức Quan Âm hiện thiên thủ thiên nhãn, ông nắm được chim Anh
ca, đều là chạy theo thinh sắc, nơi ông có lợi ích gì ? Cốt suốt thấu việc
lớn nơi bản thân mình, vượt khỏi ngục tù sanh tử, trước phải dứt tất cả
những cái hiểu biết hư vọng Thánh, Phàm, suốt 12 thời (24 giờ) hồi quang
phản chiếu, chỉ khán cái "không phải tâm, không phải vật, không phải
Phật", cái đó là cái gì ? Cần thiết không chạy ra ngoài bàn luận tìm kiếm.
Dù có một mảy thần thông, Phật pháp, thánh giải lớn bằng hạt gạo, hạt lúa,
hạt bắp, đều là tự dối mình, thảy đều khinh Phật, chê pháp. Phải tham đến
thân trần không áo, chỗ một mảy nhỏ không lập, liền được thấy trước mắt
Thanh Châu mặc áo vải, Trấn Châu ăn rau bặc, đều là vật của mình dùng, lại
không riêng cầu thần thông thánh giải.
27. Hạt
Đường Thiền sư đáp lời Vua hỏi:
Hoàng đế Tống
Hiếu Tôn hỏi : "Làm sao thoát khỏi vòng sanh tử ?"
Đáp : "Không
ngộ Đạo Đại thừa trọn không thể thoát khỏi".
Hỏi : Làm sao
được ngộ ?
Đáp : "Tánh
bản hữu dùng năm tháng mài nó, sẽ được ngộ".
28. Đoạn
Ngạn Hòa thượng dạy Chúng:
"Muôn pháp về
một, một về chỗ nào ?" Không thể ngồi yên lặng rỗng không, không quán
thoại đầu. Không được niệm thoại đầu, ngồi mà không nghi. Như có hôn trầm,
tán loạn không nên khởi niệm đuổi dẹp, tiện lợi nhất là đề khởi thoại đầu,
chấn chỉnh thân tâm, dõng mãnh tinh tiến. Nếu không có hiệu quả, nên bước
xuống đi kinh hành, chừng biết hôn, tán hết sẽ lên Bồ đoàn. Bỗng nhiên
không đề cử mà tự đề, không nghi mà tự nghi, đi không biết mình đi, ngồi
không biết mình ngồi, chỉ có nghi tình vọi vọi thẳm thẳm rõ ràng sáng
suốt. Đó gọi là chỗ đoạn phiền não, cũng gọi là chỗ ngã tiêu tan.
Tuy nhiên, như
thế chưa phải là cứu kính, lại thêm cố gắng khán "một về chỗ nào ?". Đến
cái chỗ đề cử thoại đầu không còn thứ tự, duy có nghi tình, nếu quên liền
đề khởi, thẳng đến tâm phản chiếu dứt, ấy gọi là quên pháp. Đến cái chỗ vô
tâm, chớ cho là cứu kính. Cổ nhơn nói :
"Chớ bảo vô tâm ấy là đạo,
Vô
tâm còn cách một lớp rào"
Nguyên văn :
Mạc vị vô tâm vân thị đạo
Vô
tâm du cách nhứt trùng quang
Chỗ này, chợt
gặp thinh gặp sắc chống chọi nhau soang soảng. Phải cười to một tiếng
chuyển mình vượt qua, mới là cái đạo con trâu Hoài Châu ăn lúa, mà con
ngựa Ích Châu đầy bụng (đạo giao cảm không thể nghĩ bàn).
29. Cổ
Chuyết Thiền sư dạy Chúng:
Chư Đại Đức !
Sao không khởi đại tinh tấn, ở trước Tam bảo tha thiết phát trọng nguyện :
"Nếu không rõ suốt việc sanh tử, không vượt khỏi cửa chư Tổ, thệ không
xuống núi". Đến trước cái đơn bảy thước, trên liên sàng dài, treo cao đảy
bát, ngồi thẳng như vách cao ngàn trượng, trọn một đời này thực hành cho
thấu triệt giáo pháp. Nếu đạt được tâm này, quyết không dối nhau. Bằng
người phát tâm không chơn, chí không mãnh liệt, bên này ở mùa Đông, bên
kia ở mùa Hạ, ngày nay tiến tới, ngày mai thối lui, nhớ một bụng, sao một
bộ, hôi như hèm đựng trong hũ người nghe đâu khỏi chán ghét ụa mửa, dù đến
Đức Phật Di Lặc ra đời cũng không can thiệp gì. Khổ thay!
30. Thái Hư
Thiền sư dạy Chúng:
Nếu chưa liễu
ngộ, phải lên Bồ đoàn ngồi, tâm như tro lạnh, mười năm, hai mươi năm, ba
mươi năm cũng phải khán, khán cái "mặt thật trước khi cha mẹ chưa sanh".
31. Sở
Thạch Kỳ Thiền sư dạy Chúng:
Huynh đệ ! Mở
miệng liền nói ta là người tham thiền và hỏi kẻ khác thế nào là thiền ?
Xem Đông, ngó Tây, miệng như tuồng vác tấm biển. Khổ thay ! Dốt thay ! Aên
cơm của Phật, Tổ mà không lý hội việc bổn phận, đua học văn chương thế
tục, giọng cao nói to, lỗi lầm mà không kiêng sợ, hoàn toàn không biết hổ
thẹn. Có một bọn thôi không chịu đến Bồ đoàn tham cứu cho rõ "cái mặt thật
xưa nay trước khi cha mẹ chưa sanh", chỉ bắt chước theo người làm công
quả, mong cầu phước báo, sám trừ nghiệp chướng, thật là cách đạo rất xa.
Hoặc một bọn
lóng lòng kềm niệm, nhiếp sự về không, niệm tưởng vừa sanh liền đè bẹp,
cái thấy biết như vậy tức là đã rơi vào không, là người chết, học theo
ngoại đạo. Lại có một bọn vọng chấp cái hay giận, hay mừng, hay thấy, hay
biết nhận được rõ ràng liền cho là sự tham học một đời đã xong. Ta hỏi ông
: khi ngọn lửa vô thường thiêu đốt thành một đống tro tàn, cái hay giận,
hay mừng, hay thấy, hay biết ấy đi đến chỗ nào ? Giả sử ông tham đến Dược
Hống Ngân Thiền (lối tu thiền của Tiên gia), thứ ngân này không phải chơn
thật, một phen bị nấu liền chảy.
- Nhơn tôi hỏi
: Ông bình thường tham cái gì ? Đáp rằng : Có thầy dạy tham "muôn pháp về
một, một về chỗ nào", lại dạy chỉ như thế mà hội. Ngày nay mới biết không
phải, đến cầu xin Hòa thượng dạy câu thoại đầu. Tôi nói : Công án của Cổ
nhơn có cái nào không phải, tại mắt ông không chánh, nên thấy thầy dạy tà,
rồi đi cầu thỉnh mãi không thôi. Vậy nên tham câu "con chó không có Phật
tánh", sẽ có ngày đập bể thùng sơn (đại ngộ), từ trước đến giờ Sơn tăng
nhờ đó mà đạt được. Tham đi !
32. Phổ Tế
Thiền sư đáp thơ Lý Tướng Quốc:
Đã lâu tham
chữ KHÔNG, không cần thay đổi thoại đầu khác, huống là đề cử thoại đầu
khác. Tham chữ KHÔNG đã lâu, ắt nơi chữ KHÔNG có chút ít thuần thục, cần
thiết chớ di động, chớ tham thoại đầu khác. Chỉ suốt 12 thời (24 giờ)
trong bốn oai nghi luôn luôn đề cử thoại đầu. Chớ trông đợi bao giờ ngộ
hay không ngộ, chớ nghĩ thấm nhuần mùi vị hay không mùi vị, cũng chớ quản
đắc lực hay không đắc lực, dồn ép cho đến chỗ tâm nghĩ không tới, ý bàn
không đến, tức là chỗ thân mạng của chư Phật, Tổ vậy.
33. Sở Sơn
Kỳ Thiền sư giải chế :
Chư Đại đức !
Trong 90 ngày qua đã được chứng ngộ hay chưa ? Nếu như chưa ngộ thì thêm
một mùa Đông sẽ được tan biến ấy vậy. Nếu là người đống lương Phật pháp,
lấy mười phương pháp giới làm hạn kỳ hoàn toàn giác ngộ. Một trăm ngày,
một ngàn ngày, kiết chế, giải chế chỉ lấy đề cử thoại đầu làm gốc. Nếu một
năm chưa ngộ tham thêm một năm, mười năm chưa ngộ tham thêm mười năm; hai
chục năm chưa ngộ tham thêm hai chục năm, trọn đời chưa ngộ, quyết định
không đổi chí ; cần phải thấy được chỗ chơn thật cứu kính mới là ngày nghỉ
tham.
Nếu như không
thể trên lời nói thấu đạt ý chỉ, nên đem một câu A Di Đà Phật ôm ấp trong
lòng thầm thầm thể cứu, thường thường đề khởi nghi tình "niệm Phật là ai
?". Mỗi niệm tiếp nối, tâm tâm không gián đoạn, như người đi đường đến chỗ
cùng nguồn, tột núi, tự nhiên có cái việc chuyển thân, động đất một tiếng
liền khế nhập tâm thể.
34. Độc
Phong Thiện Thiền sư dạy Chúng:
Nếu thật muốn
liễu thoát sanh tử, trước phải phát tín tâm to, lập thệ nguyện lớn. Nguyện
: "Nếu không phá vỡ công án đang tham, thấy suốt mặt thật trước khi cha mẹ
chưa sanh, ngồi đoạn sanh tử hiện hành vi tế, thệ không bỏ thoại đầu đang
tham, không xa lìa chơn thiện tri thức và không tham mê danh lợi ; nếu cố
trái nguyện này, sẽ đọa ác đạo". Phát đại nguyện này rồi, để phòng ngừa
tâm, nhiên hậu mới kham lãnh thọ công án.
Hoặc khán chữ
KHÔNG, cần yếu vận dụng tâm lực để tại "con chó không có Phật tánh". Hoặc
khán muôn pháp về một, cần yếu tại "một về chỗ nào ?". Hoặc tham cứu niệm
Phật cần yếu tại "niệm Phật là ai ?". Xoay lại phản chiếu cho thâm nhập
nghi tình. Nếu thoại đầu không đắc lực, trở lại đề trọn câu khiến đầu đuôi
nhất quán, mới dễ khởi nghi. Nghi tình không dứt, khẩn thiết dụng tâm, bất
giác bước đi ngã nhào, liền nhảy vọt tận hư không xa thẳm. Trở lại tham đi
!
35. Không
Cốc Long Thiền sư dạy Chúng:
Không nên dại
khờ niệm thoại đầu, cũng chớ suy xét thoại đầu, chỉ nên hoài nghi mong
thấu rõ việc này. Bỗng nhiên buông tay đi trên dốc đứng, một phen chuyển
thân liền thấy chót vót rực rỡ. Đến đây không nên đắm trước, còn một chùy
rốt sau thật là khó vượt. Ông hãy như thế tham đi !
Không tham mà
tự ngộ, thượng cổ còn có thể có, hiện nay chưa có ai không nỗ lực tham mà
được ngộ.
Ưu Đàm Hòa
thượng dạy tham "niệm Phật là ai?". Ông nay không cần dùng những pháp này,
chỉ cốt bình thường niệm Phật. Niệm mãi không quên, bỗng nhiên chạm duyên,
xúc cảnh chỉ do một câu thấu đạt, mới biết Tịch quang Tịnh độ không rời
chỗ này, Phật A Di Đà không rời tự tâm.
36. Thiên
kỳ Hòa thượng dạy Chúng:
Các ông từ nay
phải phát tâm quyết định, ngày ba thời, đêm ba thời đề cử an định câu
thoại đầu đã tham, xem nó đạo lý thế nào ? Cần thiết phán xét cái mình đã
hiểu, lâu ngày nhiều năm không lọc luyện hôn trầm mà hôn trầm tự mất,
không trừ tán loạn mà tán loạn tự tiêu, thuần nhất không tạp loạn. Tâm
niệm không sanh, bỗng nhiên được ngộ, như mộng chợt tỉnh, xem lui về trước
đều là hư huyễn, chính nơi đây bộ máy xưa nay hiện thành sum la vạn tượng
hoàn toàn hiện bày. Như thế, mới không uổng làm người sanh trên đất nước,
cũng không uổng làm vị Tăng ở trong pháp môn này, từ đây tùy duyên qua
ngày, chẳng sướng sao ! chẳng khoái sao !
37. Cổ Âm
Cầm Thiền sư dạy Chúng:
Trong khi tọa
thiền thấy những cảnh giới thiện, ác đều do lúc ngồi không khởi quán sát,
không suy xét chân chánh, chỉ ngồi nhắm mắt yên lặng, tâm không tinh tấn
biện biệt, ý thả trôi theo cảnh, nửa mộng nửa tỉnh, hoặc vì tham trước
cảnh tịnh, bởi thích nên mới thấy các cảnh.
Người chơn
chánh thực hành công phu, thấy buồn ngủ nhiều thì đi ngủ một giấc, khi
thức giấc liền dậy, chấn chỉnh tinh thần, xoa tay áp vào mắt, ngậm khít
hàm răng, để hai tay chồng lên nhau, thẳng khán thoại đầu rơi tại chỗ nào
? Cần yếu chớ theo hôn trầm, một mảy may ngoại cảnh không thể dính mắc.
Trong lúc đi,
đứng, ngồi, nằm một câu A Di Đà Phật không cho gián đoạn, phải tin nhơn
sâu thì quả dày, cho đến không niệm mà tự niệm. Nếu chuyên niệm thì niệm
chẳng phải không, cần nhào nặn niệm lại thành một khối. Chính khi niệm,
nhận được người niệm Phật, Đức Phật A Di Đà cùng ta đồng hiện.
38. Dị Nham
Đăng Thiền sư thích nghi:
Học nhơn tham
cầu Thiện tri thức, hoặc vị dạy đề câu thoại đầu, hoặc vị dạy nghi thoại
đầu, như vậy là đồng hay khác ? Vừa cử thoại đầu, liền đó khởi nghi, đâu
có hai lý. Một niệm đề khởi nghi tình liền hiện. Lật tới, trở lui chuyên
cần nghiên cứu, công sâu sức mạnh tự nhiên được liễu ngộ.
39. Nguyệt
Tâm Hòa thượng dạy Chúng:
Ý chí phấn
khởi, tinh thần sáng suốt đề cử thoại đầu, quan trọng trên chữ sau chót,
nghi tình còn mãi thống thiết thầm thầm. Hoặc ngậm miệng tham thầm, hoặc
nói ra tiếng theo đuổi, như mất vật quí, cần phải gặp trước mắt, nắm được
trong tay mới chịu. Những ngày dụng công, tất cả giờ, tất cả chỗ đều không
khởi hai niệm.
* |