|
II. SỰ KHỔ CÔNG TU TẬP CỦA CHƯ TỔ
1. Một mình
ngồi trong tịnh thất:
Đạo An Đại sư
một mình ngồi trong tịnh thất ngót 12 năm, chuyên gạn lọc tâm tư, mới được
ngộ đạo.
2. Ngồi
trên cây dựa mé hố:
Tịnh Lâm Thiền
sư, sau khi nghỉ diễn giảng để tu tập thiền định, thường bị bệnh ngủ làm
mê loạn tâm. Ngài cố hết sức trấn tỉnh, nhưng cứ mỗi lần ngồi được một
lúc, lại mơ màng hồi nào không hay. Gần chỗ Ngài ở có một cây đại thọ
nghiêng mình ra giữa hố đá sâu thăm thẳm. Muốn đuổi con ma ngủ đi, Ngài
leo lên cây ngồi thiền. Trải mấy ngày đêm, vì sợ hơ hỏng sẽ té nát thây,
Ngài giữ tâm định tỉnh không dám chợp mắt. Nhờ thế, Ngài được đại ngộ.
3. Ăn rau
ngủ dưới gốc cây:
Thông Đạt
Thiền sư vào núi Thái Bạch tu, không có cơm gạo, đói thì ăn rau, nghỉ thì
nằm dưới gốc cây. Ngài tọa thiền tư duy năm năm liền không dừng. Do sự cố
gắng đó, nhào nặn tâm tư thành một khối ; một hôm, bỗng nhiên khối ấy tan
vỡ, Ngài đại ngộ.
4. Không
giải y:
Kim quang
Chiếu Thiền sư xuất gia hồi 13 tuổi, 19 tuổi vào núi Hồng Dương, nương
theo Ca Diếp Hòa thượng tu tập. Ngài chuyên cần ngót ba năm chưa bao giờ
giải y, ngủ không đặt lưng xuống chiếu. Sau, Ngài đến núi Cô Xạ cũng
chuyên cần như thế, bỗng nhiên khai ngộ.
5. Lấy dùi
chích vào mình:
Từ Minh, Cốc
Tuyền, Lang Hương ba người kết bạn đến Phần Dương tham học. Bấy giờ ở Hà
Đông lạnh tột độ, mọi người đều kinh sợ thối lui. Duy có Từ Minh quyết chí
cầu đạo cam chịu lạnh ở lại đây, sớm chiều bền chí tinh tấn tu tập. Ban
đêm tọa thiền ma ngủ đến, Minh lấy dùi chích vào mình khiến ma ngủ tan
mất. Sau này, Từ Minh thay thế Tổ Phần Dương đạo phong phát triển, được
hiệu là Sư tử Tây Hà.
6. Trong
thất tối không quên:
Hoằng Trí
Thiền sư đến tham học nơi Tổ Đơn Hà. Một hôm, nhơn cùng bạn đồng tu gạn
hỏi nhau về công án, Thiền sư bỗng cười to lên. Tổ nghe, trách "một tiếng
cười của ông đã mất bao nhiêu việc tốt. Nếu tạm thời tâm không định, đồng
như người chết !". Hoằng Trí Thiền sư bái tạ, ghi lòng. Từ đấy về sau, dù
ở trong thất tối, Ngài cũng không bao giờ quên.
7. Chiều về
rơi nước mắt:
Y Am Thiền sư
tu hành rất tinh tấn. Mỗi khi trời ngã bóng về chiều, Ngài sa nước mắt,
than : "Ngày nay vẫn chưa được gì, ngày mai chưa biết công phu ra sao !".
Ở trong Tăng chúng, không bao giờ Ngài thốt ra một lời vô ích.
8. Tám năm
nỗ lực tu hành:
Hối Đường Tâm
Thiền sư tự nói : Lúc mới vào đạo trong tâm thầm nghĩ việc tu rất dễ dàng.
Đến khi gặp Tổ Huỳnh Long, nghĩ lại tâm niệm ngày trước rất mâu thuẫn với
lý đạo. Tôi bèn nỗ lực tu hành, suốt ba năm, nhiều lúc lạnh như cắt, nóng
như thiêu vẫn không lay chuyển chí nguyện, mới được mọi việc hợp lý đạo.
Hiện nay, dù tôi vung tay, tằng hắng đều là trúng ý Tổ Sư từ Aán Độ truyền
sang.
9. Đánh
thức bằng cách kê đầu gối tròn:
Thị Giả Triết
khi ngủ lấy cây tròn làm gối, gối đầu. Ngủ vừa trở mình thì đầu rớt xuống
chiếu, Ngài giựt mình thức dậy tu tập. Ngài lấy đó làm qui tắc nhất định
hằng ngày trong việc tu hành. Có người bảo : "Dụng tâm như thế là thái
quá". Ngài đáp : "Tôi duyên trong đạo Bát nhã rất mỏng manh, nếu không cố
gắng như vậy, e bị vọng tập lôi cuốn".
10. Bị mưa
không hay:
Am chủ Toàn
dụng công tu tập rất mãnh liệt, đến bỏ ăn quên ngủ. Một hôm, Ngài đứng dựa
lan can khán câu "con chó không có Phật tánh", mưa đến bao giờ không hay,
khi ướt cả áo mới biết.
11. Thề
không xổ mền:
Phật Đăng Tuần
Thiền sư học đạo với Tổ Phật Giám. Tham hỏi mãi mà không khế ngộ, Ngài
than : "Nếu đời này không tỏ ngộ, ta thề không xổ mền ra nằm nghỉ". Phát
thệ rồi, ngót 49 ngày, Thiền sư chỉ đứng dựa cột chuyên tâm tham cứu,
trạng như ngây dại, không khác nào người mất mẹ. Do đó, Ngài được đại ngộ.
12. Ném thơ
không xem:
Thiết Diện
Bỉnh Thiền sư đi hành khước, ly hương chưa bao lâu, được thơ nhà gửi đến,
Ngài ném thơ, nói : "Đây là việc làm rối loạn ý người".
13. Do kiên
thệ được giác ngộ:
Linh Nguyên
Thanh Thiền sư ban đầu đến tham học với Tổ Huỳnh Long, nhiều lần thưa hỏi
mà vẫn mờ mịt không biết manh mối. Đêm lại, Ngài đến trước bàn Phật phát
thệ : "Con nguyện trọn đời phụng sự chánh pháp, cầu mong sớm được khai
ngộ". Sau này, Ngài xem bản Ngữ lục của Tổ Huyền Sa, xem xong cuốn lại để
dựa vách, đứng dậy đi kinh hành. Ngài vừa bước đi sút chiếc dép, cúi đầu
xuống tìm, chợt đại ngộ.
14. Không
lúc nào duyên cảnh khác:
Viên Ngộ Cần
Thiền sư trở lại tham học với Tổ Đông Sơn Diễn. Ngài làm thị giả, ngày đêm
chuyên cần gắng sức tham cứu. Thiền sư tự nói : "Sơn tăng ở trong Chúng
không lúc nào tâm duyên cảnh khác, ngót mười năm mới được thấu đạt".
15. Giây
phút không quên:
Mục Am Trung
Thiền sư lúc đầu học tập Thiên Thai giáo, sau chuyên về Thiền tông. Ngài
đến tham học với Tổ Long Môn Nhãn. Ở đây, Thiền sư không một phút giây
quên phản tỉnh. Một hôm, Ngài đến chỗ quay nước, thấy trên ngạch đề "Pháp
luân thường chuyển", chợt đại ngộ.
16. Quên đò
đến bến:
Khánh Thọ
Hưởng Thiền sư đến tham học với Tổ Bảo Công, chuyên cần quên cả sớm chiều.
Một hôm, có duyên sự đến Huy Dương, qua bến đò Triệu, nghi tình chưa tan,
Thiền sư quên đò đã cập bến. Người đồng hành thấy thế, gọi : "Đò đến bến
rồi, sao không lên ?". Bỗng nhiên, Thiền sư buồn vui lẫn lộn. Trở về,
Thiền sư đem việc ấy bạch lại Bảo Công. Công nói : "Đó là kẻ nằm cứng đờ,
chưa phải ngộ". Lại dạy khán "Mặt trời lời Phật". Một đêm, cùng Chúng họp
lên Thiền đường, tịnh tọa, nghe tiếng bảng cây, Thiền sư đại ngộ.
17. Quên cả
ăn ngủ:
Tùng Nguyên
Nhạc Thiền sư lúc còn làm cư sĩ đến tham vấn Ưng Am Hoa, không khế hội,
nhưng vẫn cố gắng tinh tấn. Sau Ngài đến học với Mật Am Kiệt. Kiệt hỏi
đâu, Ngài trả lời suốt thông cả. Kiệt than : "Thiền như cây Hoàng Dương
!". Ngài càng cố gắng tinh tấn hơn, cho đến quên ăn, quên ngủ. Một hôm,
Mật Am Kiệt vào thất một vị Tăng bên cạnh hỏi: "Không phải tâm, không phải
vật, không phải Phật?". Ngài nghe lóm liền đại ngộ.
18. Thân
miệng đều quên:
Cao Phong Diệu
Thiền sư ở trong Chúng lưng không bén chiếu, thân miệng đều quên. Có khi,
Ngài ngậm miệng bụm mũi đi như người trong nhà vệ sinh mới ra; hoặc khi,
Ngài hả hoát miệng như cửa không gài. Sau đến Kinh Sơn, Ngài vừa vào đến
nhà, liền đại ngộ.
19. Bỏ hết
muôn việc:
Kiệt Phong Ngu
Thiền sư trước tiên học đạo với Tổ Thạch Môn. Sư vâng giữ pháp ngữ của Tổ,
ngày đêm mải miết tham cứu. Về sau, Sư đến tham vấn Tổ Chỉ Nham, tham câu
"không phải tâm, không phải vật, không phải Phật". Lúc ấy lòng nghi càng
tăng, Sư bỏ hết muôn việc, quên cả ăn, ngủ. Hết mai lại chiều, Sư ngồi
sững như tượng gỗ. Một đêm, Sư nghe vị Tăng ở phòng cạnh bên ngâm câu :
"Chẳng trừ vọng tưởng, chẳng cầu chơn" trong bài CHỨNG ĐẠO CA, bỗng nhiên
thấy tự do như người trút gánh nặng. Sư đắc ý hai câu :
"Đêm vắng bỗng quên tay chỉ nguyệt,
"Hư không thoát lộ bóng dương hồng.
Nguyên văn :
Dạ
bán hốt nhiên vong nguyệt chỉ
Hư
không tịnh xuất nhật luân hồng.
20. Bế cửa
nỗ lực tham cứu:
Thừa tướng Di
Thích Sở Tài đến tham học với Vạn Tùng Lão nhơn. Ông bỏ hết việc nhà bế
cửa thất không tiếp khách. Dù những khi giá lạnh, nóng bức, không ngày nào
ông dừng nghỉ tham cứu. Đêm đến, ông thắp đèn sáng kế tiếp mặt trời để bỏ
ngủ. Ban ngày thì ông quên ăn. Như vậy, suốt ba năm, ông mới được ấn
chứng.
21. Đụng
đầu vào cột:
Trung phong
Bổn Thiền sư theo hầu Ngài Tử Quan. Ngày đêm chuyên cần tu tập, mỗi khi
buồn ngủ lắm, Sư đụng đầu vào cột nhà cho ma ngủ tan biến. Một hôm, Sư
tụnh kinh Kim cang đến câu "Hà đảm Như Lai sứ" (gánh vác việc Như Lai)
bỗng nhiên thấu đạt. Sư tự cho rằng chỗ chứng chưa cùng tột, càng cố gắng
tinh tấn, thưa hỏi không dám bê trễ. Một lúc nọ, Sư nhìn dòng nước chảy,
chợt đại ngộ.
22. Trong
thất khắc khổ:
Độc Phong
Thiện Thiền sư bế quan ở Dục Khê. Trong thất, Ngài không kê giường, chỉ để
một cái ghế ngồi. Ngài tự nguyện: "Nếu chẳng tỏ ngộ, ta không rời khỏi chỗ
này". Một đêm, hành đạo quá mỏi mệt, Ngài vừa lại ghế ngồi, bất giác ngủ
quên đến canh ba.
Tự trách mình,
Ngài chỉ đi đứng chớ không ngồi nữa. Nhưng một hôm, Ngài lại dựa vách ngủ
quên. Sau khi thức giấc, rất hối hận, Thiền sư lập thệ : "không nương tựa
vách". Chừng ấy, thân thể nặng nề mỏi mệt, mí mắt chỉ muốn sụp xuống, Ngài
khóc lóc lễ Phật sám hối, tìm đủ cách để đánh đuổi ma ngủ đi. Nhờ thế,
công phu của Ngài càng lúc càng tăng tiến thêm. Một đêm, nghe tiếng
chuông, Ngài bỗng cảm thấy thân tâm vắng lặng không còn chỗ nương tựa,
liền đắc ý bài kệ :
"Thầm thầm lặng lặng bặt duyên ngàn,
"Một tiếng chày kình tợ sấm vang !
"Manh mối khôn tìm, tin tức vắng,
"Đầu xương sọ nát, mộng vừa tan.
Nguyên văn :
Trầm trầm tịch tịch tuyệt thi vi,
Xúc trước vô đoan, hầu tợ lôi.
Động địa nhất thinh tiêu tức tận,
Độc lâu phấn túy mộng sơ hồi.
23. Quên
nằm:
Bích Phong Kim
Thiền sư tham học với Ngài Phổ Vân Hải. Phổ Vân dạy khán công án "muôn
pháp về một, một về chỗ nào ?". Ngài nghi đến ba năm. Một hôm, nhơn đi hái
rau với Phổ Vân, Ngài chợt im lặng rất lâu. Phổ Vân hỏi : "Ông định sao
?". Ngài thưa :
"Định và động
không quan hệ". Phổ Vân hỏi : "Định động không quan hệ, ấy là người gì ?".
Ngài lấy cái sọt đựng rau đưa lên. Phổ Vân không chịu. Ngài ném cái sọt
xuống đất. Phổ Vân cũng không chịu. Từ đó về sau, Ngài càng thiết tha công
phu, đến lưng không bén chiếu, một lần tọa thiền đến bảy ngày mới xuất.
Một hôm, nghe tiếng bảng cây, Ngài đại ngộ.
24. Giữ độn
công phu :
Vô Tế Thiền sư
lúc mới thực hành công phu không đọc đến bốn quyển Kinh Lăng Già, và những
bản Ngữ lục cũng không xem. Ngài cam chịu mù tối chuyên ròng thực hành độn
công phu. Thế mà sau này, Ngài vẫn được đại ngộ.
* |