DIEÄU PHAÙP LIEÂN HOA GIAÛNG GIAÛI
[muc luc][loi dau sach][kinh lieu phap lien hoa]
[p1][p2-d1][p2-d2][p3-d1][p3-d2][p4][p5][p6][p7-d1][p7-d2][p8][p9][p10][p11][p12]
[p13][p14][p15][p16][p17][p18][p19][p20][p21][p22][p23][p24][p25][p26][p27][p28][toat yeu toan bo kinh]
|
PHẨM 1: TỰA Thông thường ở mỗi bộ kinh, phần đầu là tựa. Phẩm Tựa nói lên ư nghĩa tổng quát toàn bộ kinh. Các kinh mở đầu đều có Lục chủng chứng tín. Đó là sáu điều chứng cứ của ngài A-nan nêu ra, để người nghe có đủ ḷng tin pháp Ngài tụng là do Phật nói. Lục chủng chứng tín giống như một biên bản của thơ kư trong phiên họp ngày nay vậy. 1. CHÁNH VĂN : * Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai ngh́n người câu hội. Các vị đó đều là bậc A-la-hán, các lậu đă hết, không c̣n phiền năo, việc lợi ḿnh đă xong, dứt sự ràng rịt trong các cơi, tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A-nhă Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu- lâu-tần-loa Ca-diếp, Dà-gia Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-ta, Bạc-câu-la, Ma-ha Câu-si-la, Nan-đà, Tôn-đà-la Nan-đà, Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la v.v... đó là những vị đại A-la-hán hàng trí thức của chúng. Lại có bậc hữu học và vô học hai ngh́n người. Bà Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng với quyến thuộc sáu ngh́n người câu hội. Mẹ của La- hầu-la là bà Tỳ-kheo ni Gia-thâu-đà-la cũng cùng với quyến thuộc câu hội. * Bậc đại Bồ-tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo Vôâ thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều chứng được pháp Đà-la-ni nhạo thuyết biện tài, chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm ngh́n chư Phật, ở nơi các đức Phật trồng các cội công đức. Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí huệ của Phật thông đạt đại trí đến nơi bờ kia, danh đồn khắp vô lượng thế giới, có thể độ vô số trăm ngh́n chúng sanh. Tên của các vị đó là: Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Thường Tinh Tấn Bồ-tát, Bất Hưu Tức Bồ-tát, Bửu Chưởng Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dơng Thí Bồ-tát, Bửu Nguyệt Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát, Măn Nguyệt Bồ-tát, Đại Lực Bồ-tát, Vô Lượng Lực Bồ-tát, Việt Tam Giới Bồ-tát, Bạt-đà-bà-la Bồ-tát, Di-lặc Bồ-tát, Bửu Tích Bồ-tát, Đạo Sư Bồ-tát v.v... các vị đại Bồ-tát như thế tám muôn người câu hội. * Lúc bấy giờ, Thích đề-hoàn-nhân cùng quyến thuộc hai muôn vị thiên tử câu hội. Lại có Minh Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bửu Quang thiên tử, bốn vị đại Thiên vương cùng với quyến thuộc một muôn thiên tử câu hội. Tự Tại thiên tử, Đại Tự Tại thiên tử, cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử câu hội. Chủ cơi Ta-bà: Phạm Thiên vương, Thi-khí Đại Phạm, Quang Minh Đại Phạm v.v... cùng với quyến thuộc một muôn hai ngh́n vị thiên tử câu hội. Có tám vị Long vương: Nan-đà Long vương, Bạt-nan-đà Long vương, Ta-dà-la Long vương, Ḥa-tu-kiết Long vương, Đức-xoa-ca Long vương, A-na-bà-đạt-đa Long vương, Ma-na-tư Long vương, Ưu-bát-la Long vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Khẩn-na-la vương: Pháp khẩn-na-la vương, Diệu Pháp khẩn-na-la vương, Đại Pháp khẩn-na-la vương, Tŕ Pháp khẩn-na-la vương đều cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Càn-thát-bà vương: Nhạc càn-thát-bà vương, Nhạc Âm càn-thát-bà vương, Mỹ càn-thát-bà vương, Mỹ Âm càn thát-bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Có bốn vị A-tu-la vương: Bà-trỉ A-tu-la vương, Khư-la-khiên-đà A-tu-la vương, Tỳ-ma-chất-đa-la A-tu-la vương, La-hầu A-tu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Ca-lầu-la vương: Đại Oai Đức ca-lầu-la vương, Đại Thân ca-lầu-la vương, Đại Măn ca-lầu-la vương, Như Ư ca-lầu-la vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi, cùng bao nhiêu trăm ngh́n quyến thuộc câu hội. Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía. GIẢNG : “Tôi nghe”, chỉ cho tôn giả A-nan, người nghe và thuật lại kinh này - Văn thành tựu. “Như thế này”, chỉ pháp mà ngài A-nan nghe Phật nói, đó là kinh Pháp Hoa - Tín thành tựu. “Một thuở nọ”, là thời gian nói kinh. Xưa, thời gian mỗi nơi mỗi khác, không thống nhất, nên chỉ nói một thuở nọ, chớ không nói ngày mấy, tháng mấy, lúc mấy giờ - Thời thành tựu. “Đức Phật”, là vị chủ tọa trong buổi thuyết pháp - Chủ thành tựu. “Núi Kỳ-xà-quật”, nơi thành Vương Xá là chỗ Phật thuyết pháp - Xứ thành tựu. “Chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai ngh́n người là bậc A-la-hán, như A-nhă Kiều-trần-như..., hàng Tỳ-kheo hữu học và vô học có trên 2000 người. Các Tỳ-kheo ni như Ma-ha Ba-xà-ba-đề, Gia-thâu-đà-la và quyến thuộc. Hàng Bồ-tát có tới tám muôn như Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Quán Âm... Thích đề-hoàn nhân và quyến thuộc. Tứ thiên vương và quyến thuộc. Phạm Thiên vương và các vị trời cùng với quyến thuộc. Long vương và quyến thuộc. Khẩn-na-la vương cùng quyến thuộc. Càn-thát-bà vương cùng quyến thuộc. A-tu-la vương cùng quyến thuộc. Ca-lâu-la vương cùng với quyến thuộc. Vua A-xà-thế cùng với quyến thuộc” là những cử tọa đến nghe pháp - Chúng thành tựu. Sáu điều trên đây gọi là Lục chủng chứng tín, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinh này không phải ngài A-nan tự ư nói, mà chính Ngài đă cùng nghe với thính chúng và thuật lại. 2. CHÁNH VĂN : Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kỉnh ngợi khen tôn trọng, v́ các vị Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa tên là “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. GIẢNG : Kinh “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm” là bộ kinh có nghĩa lư sâu rộng, không thể nghĩ lường được. Kinh này dạy cho hàng Bồ-tát tu để thành Phật, và chính kinh này là chỗ mà chư Phật hằng hộ niệm. Đoạn này không ghi Phật nói kinh như thế nào, chỉ nói tổng quát là kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. 3. CHÁNH VĂN : Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động. GIẢNG : Từ trước, Phật tùy theo căn cơ cao thấp của chúng sanh mà phương tiện nói kinh nghĩa lư hữu lượng, chớ kinh Vô lượng liễu nghĩa th́ chưa từng nói. Nay thấy căn cơ đệ tử đă thuần thục, Phật mới nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập chánh định tên là Vô Lượng Nghĩa Xứ, để chuẩn bị tư thế nói kinh Pháp Hoa là chân lư tuyệt đối. 4. CHÁNH VĂN : Khi đó trời mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, hoa mạn-thù-sa, hoa ma-ha mạn-thù-sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cơi Phật sáu điệu vang động. Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân, phi nhân và các vị tiểu vương cùng Chuyển Luân Thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chấp tay một ḷng nh́n Phật. GIẢNG : Khi Phật nói kinh “Vô Lượng Nghĩa” xong, Ngài nhập định th́ chư thiên rải hoa cúng dường, quả đất rúng động, phát ra sáu thứ âm thanh vi diệu. Bấy giờ, thính chúng trong hội thấy việc chưa từng có, nên vui mừng chấp tay một ḷng hướng về đức Phật mắt không tạm rời. 5. CHÁNH VĂN : Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày phát ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám ngh́n cơi nước ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-tỳ, trên suốt thấu trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở cơi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh ở các cơi kia. GIẢNG : Đoạn này dùng h́nh ảnh để hiển bày cái chân thật tuyệt đối, đó là Tri kiến Phật. Sở dĩ không dùng ngôn ngữ để diễn tả, là v́ mọi ngôn ngữ đều ở trong ṿng tương đối, không thể nói lên pháp tuyệt đối. Hai chân mày là hai bên chỉ cho pháp tương đối: Có không, phải quấy, tốt xấu... Lông trắng giữa chặng mày tượng trưng cho lư Trung đạo không kẹt hai bên đối đăi. Hào quang là ánh sáng, tượng trưng cho trí tuệ Phật. Qua h́nh ảnh tượng trưng đó, nếu chúng ta biết xoay lại ḿnh để tu tập như lời dạy của Tổ Bá Trượng, mới thấy được ư nghĩa huyền diệu của kinh Đại thừa. Người không c̣n kẹt hai bên là người hằng sống với lư Trung đạo, th́ được trí tuệ viên măn. Trí tuệ viên măn là trí tuệ Phật thênh thang rộng lớn, nên soi rọi thấu suốt một muôn tám ngh́n cơi ở phương Đông, từ địa ngục cho tới cơi trời Sắc Cứu kính. Nếu nương theo trí tuệ Phật th́ chúng ta sẽ thấy rơ các cơi, biết rơ nhân quả của sáu loài chúng sanh luân hồi trong lục đạo, và cũng thấu suốt được nguyên nhân tu hành cùng quả báo của các vị Tỳ-kheo, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Ở đây có điều khiến cho chúng ta nghi vấn là, tại sao hào quang Phật chỉ soi thấu về phương Đông mà không soi về các phương khác ? Phương Đông là phía mặt trời mọc, ánh sáng của ngày bắt đầu từ phương Đông, chiếu rọi khắp cả. C̣n phương Tây là phía mặt trời lặn, ánh sáng của ngày mờ dần và tắt hẳn. Phật muốn chỉ cho mọi người trí tuệ cứu kính của Phật thấu suốt tất cả pháp, nên Ngài dùng phương Đông là phương mở màn cho ánh sáng ban mai để làm ví dụ. 6. CHÁNH VĂN : Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cơi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cơi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo. Lại thấy các vị đại Bồ-tát dùng các món nhân duyên, các ḷng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-tát. Lại thấy đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu. GIẢNG : Qua đoạn này, chúng ta thấy cái nh́n của đạo Phật rất rộng răi, chỉ một phương Đông thôi mà thấy có một muôn tám ngh́n cơi. Nếu trông cả mười phương hay cả vũ trụ th́ sẽ thấy vô số cơi nước không thể tính đếm. V́ vậy mà trong kinh nói hằng hà sa số cơi Phật. Điều mà đức Phật nói cách đây trên hai ngàn năm trăm năm th́ hiện nay các nhà khoa học đă chứng minh một cách cụ thể là, trong vũ trụ ngoài quả đất chúng ta đang ở c̣n có vô số hành tinh, gần nhất là mặt trăng, nơi loài người đă từng đặt chân đến đó cách nay không lâu. Bây giờ trong hội chúng nương hào quang Phật, thấy và nghe được các đức Phật ở các cơi ấy nói Pháp. Rồi cũng thấy thính chúng của các đức Phật ở các cơi ấy tu hành đắc đạo. Chẳng những thấy Phật, Bồ-tát, thính chúng ở các cơi khác, mà c̣n thấy Phật nhập Niết-bàn. Lại thấy sau khi Phật nhập Niết-bàn, xá-lợi Phật được dựng tháp bằng bảy báu để cúng dường. 7. CHÁNH VĂN : * Khi ấy, ngài Di-lặc Bồ-tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, v́ nhân duyên ǵ mà có điềm lành này ? Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hy hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được ?” Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp vương tử Văn-thù-sư- lợi này đă từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ, chắc đă thấy tướng hy hữu này, ta nay nên hỏi ông.” Lúc đó, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và các trời, rồng, quỉ, thần v.v... đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai ?” * Bấy giờ, ngài Di-lặc Bồ-tát muốn giải quyết chỗ nghi của ḿnh, Ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỉ, thần v.v... mà hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng: “V́ nhân duyên ǵ mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám ngh́n cơi ở phương Đông, đều thấy cơi nước trang nghiêm của các đức Phật ?” GIẢNG : Theo Duy thức học th́ Bồ-tát Di-lặc tượng trưng cho Thức phân biệt. Bởi Thức phân biệt nên không thể hiểu được những h́nh ảnh biểu trưng Tri kiến Phật (lư trung đạo). V́ Tri kiến Phật vượt khỏi pháp nhị nguyên tương đối của thế gian. Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí hay Bản giác có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Do gần gũi, bảo hộ, cúng dường, thâm nhập Tri kiến Phật nên Ngài mới hiểu được những điềm lành mà Phật hiện ra; v́ vậy Bồ-tát Di-lặc mới có dự ư thưa hỏi. Đây là những vị Bồ-tát tượng trưng để nói lên ư nghĩa thâm sâu trong việc tu hành của mỗi người chúng ta, chớ không phải là hàng Bồ-tát đi hoằng truyền Chánh pháp giáo hóa chúng sanh trong đời. Đa số kinh Đại thừa, phẩm đầu thường là Bồ-tát Văn-thù thưa hỏi và phẩm kết thúc là hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Như kinh Pháp Hoa, mở đầu là Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc và bốn chúng, phần cuối cùng nêu lên hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng cho Trí sai biệt. Trí căn bản là trí đă có sẵn, bởi vô minh vọng tưởng che phủ nên không hiển lộ. Nhờ tu hành lần lầøn sạch hết vô minh phiền năo, Trí căn bản mới hiển hiện tṛn sáng. Lúc đó có đủ diệu dụng, tùy duyên giáo hóa chúng sanh gọi là Trí sai biệt. Chúng sanh căn cơ tŕnh độ không đồng nhau, kẻ th́ đần độn, người th́ lanh lợi; Trí sai biệt của Phật có đủ diệu lực thấu suốt tŕnh độ sai biệt ấy, nên tùy theo căn cơ mà phương tiện nói pháp sai biệt giáo hoá họ. Chính Trí sai biệt làm căn bản cho hàng Bồ-tát làm hạnh lợi tha không lười mỏi, không thối chuyển. V́ chúng ta tu chưa được viên măn, chưa có Trí sai biệt, khi hành hạnh lợi tha mà không biết tŕnh độ căn cơ của chúng sanh, không rơ được cái gốc đau khổ của muôn loài, nói pháp chỉ khế lư mà không khế cơ, nên người nghe không tin không theo tu học; kết quả là giúp người mà người không hết khổ, chán nản, nên thối Bồ-đề tâm. Lỗi đó không phải tại người cứng đầu không chịu nghe, mà tại ḿnh chưa có Trí sai biệt biết rơ căn cơ tŕnh độ của người, để nói pháp hợp thời đúng bệnh. Nếu nói pháp hợp thời đúng bệnh th́ người nghe mới kính tin vâng theo mà tu tập hết khổ đau. Sở dĩ người không nghe là v́ chúng ta nói pháp không đúng bệnh, không hợp thời, khiến người nghe không tin, bất măn, xa lánh. Đó là muốn giúp người được lợi ích mà hóa ra hại người mất tín tâm, lỗi đó là tại ḿnh. V́ vậy, nếu được Trí sai biệt th́ sự giáo hóa chẳng những khiến chúng sanh được lợi ích, mà người giáo hóa cũng không lười mỏi, không chán nản, nên mới gọi là Đại Hạnh Phổ Hiền. Phần Trùng tụng là phần lặp lại ư của văn Trường hàng ở trên, nhưng lặp lại có phần chi tiết. 8. CHÁNH VĂN : Khi đó, ngài Di-lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng: Ngài Văn-thù-sư-lợi ! Đức Đạo sư cớ chi Lông trắng giữa chặng mày Phóng ánh sáng khắp soi Trời mưa hoa Mạn-đà Cùng hoa Mạn-thù-sa Gió thơm mùi chiên-đàn Vui đẹp ḷng đại chúng V́ nhân duyên như vậy Cơi đất đều nghiêm tịnh Mà trong thế giới này Sáu điệu vang động lên Bấy giờ bốn bộ chúng Thảy đều rất vui mừng Thân cùng ư thơ thới Được việc chưa từng có. GIẢNG : Đoạn này lặp lại chỗ nghi vấn của Bồ-tát Di- lặc và hội chúng về h́nh tướng biểu trưng cho cái chân thật tuyệt đối. 9. CHÁNH VĂN : Ánh sáng giữa chặng mày Soi suốt thẳng phương Đông Một muôn tám ngh́n cơi Đều ánh như sắc vàng Từ địa ngục A-tỳ Trên đến trời Hữu Đảnh Trong các thế giới đó Cả sáu đạo chúng sanh Sống chết của kia đến Nghiệp duyên lành cùng dữ Thọ báo có tốt xấu Tại đây đều thấy rơ. GIẢNG : Nương ánh sáng do Phật phóng ra, mà cả hội chúng đều thấy tất cả nhân quả luân hồi của sáu loài chúng sanh, ở một muôn tám ngh́n cơi nước về phương Đông. 10. CHÁNH VĂN : Lại thấy các đức Phật Đấng Thánh chúa Sư tử Diễn nói các kinh điển Nhiệm mầu bậc thứ nhứt. Tiếng của Ngài thanh tịnh Giọng nói ra êm dịu Dạy bảo các Bồ-tát Vô số ức muôn người Tiếng Phạm âm thâm diệu Khiến người đều ưa nghe. Các Phật ở cơi ḿnh Mà giảng nói chánh pháp Dùng nhiều món nhân duyên Cùng vô lượng tỉ dụ Để soi rơ Phật pháp Mà khai ngộ chúng sanh. Nếu có người bị khổ Nhàm ĺa già, bệnh, chết, Phật v́ nói Niết-bàn Để dứt các ngằn khổ. Nếu là người có phước Đă từng cúng dường Phật Chí cầu pháp thù thắng V́ nói hạnh Duyên giác. Nếu lại có Phật tử Tu tập các công hạnh Để cầu huệ Vô thượng Phật v́ nói tịnh đạo. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc cùng bốn chúng thấy các đức Phật đang ở cơi nước của các Ngài với Phạm âm vi diệu, tùy căn cơ dùng phương tiện nói pháp khai ngộ cho hàng Thanh văn, Duyên giác. 11. CHÁNH VĂN : Ngài Văn-thù-sư-lợi ! Tôi ở tại nơi đây Thấy nghe dường ấy đó Và ngh́n ức việc khác Thấy rất nhiều như thế Nay sẽ lược nói ra ! Tôi thấy ở cơi kia Có Hằng sa Bồ-tát Dùng các món nhân duyên Mà cầu chứng Phật đạo. Hoặc có vị bố thí Vàng, bạc, ngọc, san hô, Chân châu, ngọc như ư, Ngọc xa cừ, mă năo, Kim cương các trân bửu Cùng tôi tớ, xe cộ Kiệu, cáng chưng châu báu Vui vẻ đem bố thí Hồi hướng về Phật đạo Nguyện được chứng thừa ấy Bậc nhứt của ba cơi Các Phật hằng khen ngợi. Hoặc có vị Bồ-tát Xe tứ mă, xe báu Bao lơn che tàng đẹp Trau tria dùng bố thí. Lại thấy có Bồ-tát Bố thí cả vợ con Thân thịt cùng tay chân Để cầu Vô thượng đạo. Lại thấy có Bồ-tát Đầu mắt và thân thể Đều ưa vui thí cho Để cầu trí huệ Phật. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc tường tŕnh chỗ thấy nghe của Ngài như: Có vô số Bồ-tát bố thí vàng bạc, châu báu, bố thí xe cộ, bố thí thân mạng, vợ con để cầu Phật đạo. 12. CHÁNH VĂN : Ngài Văn-thù-sư-lợi ! Ta thấy các quốc vương Qua đến chỗ của Phật Thưa hỏi đạo Vô thượng Bèn bỏ nước vui vẻ Cung điện cả thần thiếp Cạo sạch râu lẫn tóc Mà mặc y pháp phục. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc lại thấy các quốc vương thưa hỏi đạo Vô thượng, rồi bèn bỏ nước, bỏ ngôi vua, thần thiếp, cạo bỏ râu tóc xuất gia. 13. CHÁNH VĂN : Hoặc lại thấy Bồ-tát Mà hiện làm Tỳ-kheo Một ḿnh ở vắng vẻ Ưa vui tụng kinh điển. Cũng thấy có Bồ-tát Dơng mănh và tinh tấn Vào ở nơi thâm sơn Suy xét mối Phật đạo. Và thấy bậc ly dục Thường ở chỗ không nhàn Sâu tu các thiền định Được năm món thần thông Và thấy vị Bồ-tát Chấp tay trụ thiền định Dùng ngh́n muôn bài kệ Khen ngợi các Pháp vương. Lại thấy có Bồ-tát Trí sâu chí bền chắc Hay hỏi các đức Phật Nghe rồi đều thọ tŕ Lại thấy hàng Phật tử Định huệ trọn đầy đủ Dùng vô lượng tỉ dụ V́ chúng mà giảng pháp Vui ưa nói các pháp Dạy bảo các Bồ-tát Phá dẹp chúng binh ma Mà đánh rền trống pháp. Cùng thấy vị Bồ-tát Vắng bặt yên lặng ngồi Trời, rồng đều cung kính Chẳng lấy đó làm mừng. Và thấy có Bồ-tát Ở rừng phóng hào quang Cứu khổ chốn địa ngục Khiến đều vào Phật đạo. Lại thấy hàng Phật tử Chưa từng có ngủ nghỉ Kinh hành ở trong rừng Siêng năng cầu Phật đạo Cũng thấy đủ giới đức Oai nghi không thiếu sót Ḷng sạch như bửu châu Để cầu chứng Phật đạo. Và thấy hàng Phật tử Trụ vào sức nhẫn nhục Bị kẻ tăng thượng mạn Mắng rủa cùng đánh đập, Thảy đều hay nhẫn được Để cầu chứng Phật đạo. Lại thấy có Bồ-tát Xa rời sự chơi cười Và quyến thuộc ngu si Ưa gần gũi người trí Chuyên tâm trừ loạn động Nhiếp niệm ở núi rừng Trải ức ngh́n muôn năm Để cầu được Phật đạo. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng thấy các Bồ-tát ở nơi vắng vẻ, mỗi vị dùng mọi phương tiện tu hành khác nhau để cầu Phật đạo. 14. CHÁNH VĂN : Lại thấy vị Bồ-tát Đồ ăn uống ngọt ngon Cùng trăm món thuốc thang Đem cúng Phật và Tăng, Áo tốt đồ thượng phục Giá đáng đến ngh́n muôn Hoặc là vô giá y Đem cúng Phật và Tăng, Dùng ngh́n muôn ức thứ Nhà báu bằng chiên-đàn Các giường nằm tốt đẹp Để cúng Phật cùng Tăng, Rừng vườn rất thanh tịnh Bông trái đều sum sê Suối chảy cùng ao tắm Cúng dường Phật và Tăng, Cúng thí như thế đó Các đồ cúng tốt đẹp Vui vẻ không hề nhàm Để cầu đạo vô thượng. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát ở cơi kia cúng dường tứ sự quí giá cho Phật và Tăng để cầu đạo Vô thượng. 15. CHÁNH VĂN : Lại có vị Bồ-tát Giảng nói pháp tịch diệt Dùng các lời dạy dỗ Dạy vô số chúng sanh Hoặc thấy vị Bồ-tát Quán sát các pháp tánh Đều không có hai tướng Cũng như khoảng hư không. Lại thấy hàng Phật tử Tâm không chỗ mê đắm Dùng món diệu huệ này Mà cầu đạo Vô thượng. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc thấy Bồ-tát các cơi kia, vị th́ dùng pháp tịch diệt giáo hóa chúng sanh, vị th́ quán pháp tánh không hai, vị th́ ly dục dùng trí tuệ nhiệm mầu cầu Phật đạo. 16. CHÁNH VĂN : * Ngài Văn-thù-sư-lợi ! Lại có vị Bồ-tát Sau khi Phật diệt độ Cúng dường xá-lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử Xây dựng các tháp miếu Nhiều vô số Hằng sa Nghiêm sức khắp cơi nước. Bửu tháp rất cao đẹp Đều năm ngh́n do-tuần Bề ngang rộng xứng nhau Đều hai ngh́n do-tuần. Trong mỗi mỗi tháp miếu Đều có ngh́n tràng phan Màn châu xen thả xuống Tiếng linh báu ḥa reo Các vị trời, rồng, thần, Người cùng với phi nhân Hương, hoa cùng kỹ nhạc Thường đem đến cúng dường. Ngài Văn-thù-sư-lợi ! Các hàng Phật tử kia V́ cúng dường xá-lợi Nên trang sức tháp miếu Cơi quốc giới tự nhiên Thù đặc rất tốt đẹp Như cây Thiên thọ vương Bông kia đương x̣e nở. GIẢNG : Bồ-tát Di-lặc thấy Phật ở cơi kia tịch diệt, Bồ-tát xây vô số bửu tháp cao đẹp quí báu, trang hoàng cờ, phướn, màn, linh. Rồi trời, người, rồng, thần dâng hương hoa kỹ nhạc để cúng dường xá-lợi Phật. 17. CHÁNH VĂN : *Phật phóng một luồng sáng Ta cùng cả chúng hội Thấy nơi cơi nước này Các thứ rất tốt đẹp Thần lực của chư Phật Trí huệ đều hy hữu Phóng một luồng tịnh quang Soi khắp vô lượng cơi Chúng ta thấy việc này Được điều chưa từng có. *Xin Phật tử Văn-thù Giải quyết ḷng chúng nghi Bốn chúng đều mong ngóng Nh́n Ngài và nh́n ta Đức Thế Tôn cớ chi Phóng ánh quang minh này ? Phật tử phải thời đáp Quyết nghi cho chúng mừng Có những lợi ích ǵ Đức Phật phóng quang này ? Khi Phật ngồi đạo tràng Chứng được pháp thâm diệu. V́ muốn nói pháp đó Hay là sẽ thọ kư ? Hiện bày các cơi Phật Các báu sạch trang nghiêm Cùng thấy các đức Phật Đây không phải cớ nhỏ Ngài Văn-thù nên biết Bốn chúng và long, thần Nh́n xem xét Ngài đó Mong sẽ nói những ǵ? GIẢNG : V́ Bồ-tát Di-lặc cùng hội chúng nương hào quang của Phật, thấy được những việc chưa từng có ở các cơi nước của chư Phật khác, nên yêu cầu Bồ-tát Văn-thù giải nghi về những điềm lành mà Phật hiện: có phải Phật sắp nói pháp hay sắp thọ kư chăng ? Xin Ngài giải đáp cho, v́ đại chúng đang trông cậy Ngài. 18. CHÁNH VĂN : *Lúc bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lợi nói với ngài Di-lặc Đại Bồ-tát cùng các vị Đại sĩ: “Các thiện nam tử! Như chỗ ta xét nghĩ thời nay đức Phật Thế Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn. Các thiện nam tử ! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật v́ muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này. GIẢNG : Bồ-tát Văn-thù trả lời: Sở dĩ Phật hiện những tướng nhiệm mầu đó, là v́ Ngài sắp nói pháp Đại thừa. Và Bồ-tát Văn-thù xác nhận là Ngài đă từng gần gũi các đức Phật đời quá khứ, nên Ngài biết mỗi khi Phật hiện điềm lành là Phật sắp nói pháp Đại thừa nghĩa lư rất sâu xa, người đời không thể tin nổi. Thông thường, với con mắt người phàm chỉ tin những ǵ mắt thấy tai nghe được. C̣n Tri kiến Phật mà Phật sắp nói ở đây là diệu pháp không h́nh không tướng nên khó tin. Bởi pháp khó tin, nên trước khi nói Phật phải hiện những tướng lạ để cho người tin, Ngài mới nói pháp chân thật tuyệt đối, th́ khả dĩ họ mới tin.
|