DIỆU PHÁP LIÊN HOA GIẢNG GIẢI
[muc luc][loi dau sach][kinh lieu phap lien hoa]
[p1][p2-d1][p2-d2][p3-d1][p3-d2][p4][p5][p6][p7-d1][p7-d2][p8][p9][p10][p11][p12]
[p13][p14][p15][p16][p17][p18][p19][p20][p21][p22][p23][p24][p25][p26][p27][p28][toat yeu toan bo kinh]
|
PHẨM 2: PHƯƠNG TIỆN (tt) 22. CHÁNH VĂN : Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng: *Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni Cưu ḷng tăng thượng mạn Cận sự nam ngă mạn Cận sự nữ chẳng tin, Hàng bốn chúng như thế Số kia có năm ngh́n Chẳng tự thấy lỗi ḿnh Nơi giới có thiếu sót Tiếc giữ tội quấy ḿnh Trí nhỏ đó đă ra Bọn cám tấm trong chúng Oai đức Phật phải đi Gă đó kém phước đức Chẳng kham lănh pháp này Chúng nay không cành lá Chỉ có những hột chắc. GIẢNG : Đức Phật nói những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ trong tứ chúng, có khoảng năm ngàn người là những kẻ kém duyên phước, trí nhỏ hẹp, thuộc hàng tăng thượng mạn, họ không kham nhận pháp Phật nên bỏ đi. Sau khi họ bỏ đi, Phật mới nói: Bây giờ trong chúng không c̣n cám tấm, cành lá úa, chỉ c̣n hạt chắc thôi. 23. CHÁNH VĂN : *Xá-lợi-phất khéo nghe ! Pháp của các Phật được Vô lượng sức phương tiện Mà v́ chúng sanh nói. Tâm của chúng sanh nghĩ Các món đạo ra làm Bao nhiêu những tánh dục Nghiệp lành dữ đời trước, Phật biết hết thế rồi Dùng các duyên thí dụ Lời lẽ sức phương tiện Khiến tất cả vui mừng, Hoặc là nói Khế kinh, Cô khởi cùng Bổn sự, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Cũng nói những Nhân duyên, Thí dụ và Trùng tụng Luận nghị cọng chín kinh. Căn độn ưa pháp nhỏ Tham chấp nơi sanh tử Nơi vô lượng đức Phật Chẳng tu đạo sâu mầu Bị các khổ năo loạn V́ đó nói Niết-bàn, Ta bày phương tiện đó Khiến đều vào huệ Phật. Chưa từng nói các ông Sẽ được thành Phật đạo Sở dĩ chưa từng nói V́ giờ nói chưa đến, Nay chính là đến giờ Quyết định nói Đại thừa. GIẢNG : Phật nói cho tất cả hội chúng biết rằng pháp mà Phật được, có sức phương tiện vô cùng, biết tường tận nhân duyên quả báo của sáu loài chúng sanh. Ngài nói pháp dùng những phương tiện như: - Khế kinh: Lời dạy của Phật hợp với căn cơ chúng sanh, bằng thể văn xuôi, c̣n gọi là Trường hàng. - Trùng tụng: Một thể văn thuyết pháp của Phật lặp lại ư của đoạn văn Trường hàng bằng kệ tụng. - Bổn sự: Những việc làm, những kiến văn ở đời trước của Phật do Phật thuật lại. - Bổn sanh: Phật nhắc lại tiền kiếp của Ngài hay của đệ tử. - Vị tằng hữu: Việc chưa từng có, khó hiểu, khó tin. - Nhân duyên: Phật giải về căn bổn của quả báo từ gốc tới ngọn. - Thí dụ: Dùng một mẩu chuyện để so sánh cho dễ hiểu. - Cô khởi: Thi văn tự ḿnh xướng lên lúc thuyết pháp. - Luận nghị: Biện luận sâu rộng, khúc chiết, mạch lạc cho dễ hiểu. Đó là những thể tài thuyết pháp mà Phật đă dùng hoặc đủ chín phần hoặc không đủ chín phần trong mỗi bộ kinh. Phật tùy thời tùy cơ mà nói, dẫn dụ chúng sanh đi từ thấp đến cao, cuối cùng đưa đến Phật thừa là chỗ cứu kính. 24. CHÁNH VĂN : *Chín bộ pháp của ta Thuận theo chúng sanh nói Vào Đại thừa làm gốc Nên mới nói kinh này Có Phật tử tâm tịnh Êm dịu cùng căn lợi Nơi vô lượng các Phật Mà tu đạo sâu mầu, V́ hàng Phật tử này Nói kinh Đại thừa đây Ta ghi cho người đó Đời sau thành Phật đạo Bởi thâm tâm niệm Phật Tu tŕ tịnh giới vậy Hạng này nghe thành Phật Rất mừng đầy khắp ḿnh, Phật biết tâm của kia Nên v́ nói Đại thừa, Thanh văn hoặc Bồ-tát Nghe ta nói pháp ra Nhẫn đến một bài kệ Đều thành Phật không nghi. GIẢNG : Sở dĩ Phật nói chín bộ pháp đó là v́ thuận theo căn cơ của chúng sanh mà nói, chớ bản hoài của Phật là chỉ cho chúng sanh một Phật thừa mà thôi. Nếu ai nghe Phật thừa này, đem ḷng tin và nói cho người khác nghe th́ được Phật thọ kư sau này sẽ thành Phật. V́ tâm họ nhớ nghĩ Phật rất sâu xa, không tự măn ở những cấp bậc thấp, quyết định họ sẽ thành Phật. 25. CHÁNH VĂN : *Trong cơi Phật mười phương Chỉ có một thừa pháp Không hai cũng không ba Trừ Phật phương tiện nói Chỉ dùng danh từ giả Dắt dẫn các chúng sanh V́ nói trí tuệ Phật. Các Phật ra nơi đời Chỉ một việc này thiệt Hai thứ chẳng phải chân. Trọn chẳng đem Tiểu thừa Mà tế độ chúng sanh Phật tự trụ Đại thừa Như pháp của ḿnh được Định, huệ, lực, trang nghiêm Dùng đây độ chúng sanh. Tự chứng đạo Vô thượng Pháp b́nh đẳng Đại thừa Nếu dùng Tiểu thừa độ Nhẫn đến nơi một người Thời ta đọa san tham Việc ấy tất không được Nếu người tin về Phật Như Lai chẳng dối gạt Cũng không ḷng tham ganh Dứt ác trong các pháp Nên Phật ở mười phương Mà riêng không chỗ sợ. Ta dùng tướng trang nghiêm Ánh sáng soi trong đời Đấng vô lượng chúng trọng V́ nói thiệt tướng ấn. GIẢNG : Đoạn này Phật lặp lại ư chính của chư Phật mười phương ra đời là chỉ nói một Phật thừa, chứ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Tại sao ? V́ quả vị cùng tột mà Ngài chứng được là quả Phật, nếu để lại ít phần không chỉ dạy rốt ráo, đó là thiếu ḷng từ, tâm c̣n xan lẩn, sợ người hơn ḿnh. Phật là đấng Đại từ Đại bi, không xan lẩn, nên cái ǵ Ngài được, Ngài muốn cho tất cả mọi người đều được như Ngài. Nếu mọi người chưa được như Ngài th́ Ngài chưa măn nguyện, không bằng ḷng. V́ vậy mà cuối cùng Ngài nói: “Đấng vô lượng chúng trọng, v́ nói thiệt tướng ấn.” Thông thường trong nhà Phật có nêu ra Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn, hoặc Nhất thật pháp ấn, để làm dấu ấn xác minh coi pháp đó có phải Phật nói không. Tam pháp ấn là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngă, Niết-bàn tịch tịnh; Tứ pháp ấn là: vô thường, khổ, không, vô ngă; Nhất thật pháp ấn cũng là Thật tướng ấn. Ấn là dấu in để ấn chứng. Muốn biết kinh nào là thật của Phật nói hay không phải của Phật nói, th́ phải lấy Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn hay Nhất thật pháp ấn để làm chỗ ấn chứng. Nhất thật pháp ấn là chỉ cho mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nếu tu th́ sẽ thành Phật. Kinh Pháp Hoa, Phật nói tột chỗ đó nên gọi là “Thật tướng ấn”. 26. CHÁNH VĂN : *Xá-lợi-phất ! Nên biết ! Ta vốn lặp thệ nguyện Muốn cho tất cả chúng Bằng như ta không khác Như ta xưa đă nguyện Nay đă đầy đủ rồi Độ tất cả chúng sanh Đều khiến vào Phật đạo Nếu ta gặp chúng sanh Dùng Phật đạo dạy cả Kẻ vô trí rối sai Mê lầm không nhận lời Ta rơ chúng sanh đó Chưa từng tu cội lành Chấp chặt nơi ngũ dục V́ si ái sanh khổ Bởi nhân duyên các dục Sa vào ba đường dữ Xoay lăn trong sáu nẻo Chịu đủ những khổ độc Thân mọn thọ bào thai Đời đời tăng trưởng luôn Người đức mỏng ít phước Các sự khổ bức ngặt Vào rừng rậm tà kiến Hoặc chấp có, chấp không Nương gá các chấp này Đầy đủ sáu mươi hai Chấp nhận pháp hư vọng Bền chặt không bỏ được Ngă mạn tự khoe cao Dua nịnh ḷng không thiệt Trong ngh́n muôn ức kiếp Chẳng nghe danh tự Phật Cũng chẳng nghe chánh pháp Người như thế khó độ. GIẢNG : Lời thệ nguyện của đức Phật Thích-ca cũng như chư Phật mười phương là muốn làm sao cho tất cả chúng sanh đều được bằng Phật. Nhưng v́ tâm trí chúng sanh mê mờ rối loạn, tà kiến, tham ưa ngũ dục, không bao giờ tu pháp lành, nên trôi lăn trong ba đường dữ chịu mọi khổ đau, do đó không bao giờ nghe được danh hiệu Phật. Những chúng sanh này rất là khó độ. 27. CHÁNH VĂN : *Cho nên Xá-lợi-phất ! Ta v́ bày phương tiện Nói các đạo dứt khổ Chỉ cho đó Niết-bàn Ta dầu nói Niết-bàn Cũng chẳng phải thiệt diệt Các pháp từ bổn lai Tướng thường tự vắng lặng Phật tử hành đạo rồi Đời sau được thành Phật Ta có sức phương tiện Mở bày pháp ba thừa Tất cả các Thế Tôn Đều nói đạo Nhứt thừa Nay trong đại chúng này Đều nên trừ nghi lầm Lời Phật nói không khác Chỉ một, không hai thừa. GIẢNG : V́ hàng chúng sanh khó độ nên Phật mới bày phương tiện dứt các khổ cho họ được Niết-bàn. Niết-bàn đó là Niết-bàn của Nhị thừa. Tuy nói Niết-bàn, nhưng chẳng phải thật diệt. V́: Các pháp từ bổn lai Tướng thường tự vắng lặng. Từ trước chúng ta thường nghe Phật dạy các pháp ở thế gian này là biến động vô thường, tại sao ở kinh này Phật lại nói “các pháp từ xưa đến nay tướng thường tự vắng lặng” ? Chữ “tướng” ở đây phải hiểu là “thật tướng”, tức là thể tánh của các pháp. Chúng ta quán sát thấy các pháp trên thế gian này tướng nó là biến động, có đó rồi mất đó. Ví dụ như cái đồng hồ, thông thường máy chạy, kim quay, chúng ta căn cứ trên kim đồng hồ, định ngày giờ mà làm việc. Nếu máy không chạy kim không quay, th́ đồng hồ không xài được. Như vậy, tất cả pháp thế gian được hữu dụng là do linh động có sự sống, nếu nó bất động coi như là chết vô dụng. Đó là cái thấy thông thường của thế gian. Nhưng nếu nh́n sâu hơn, chúng ta mở chốt đồng hồ ra, để riêng từ bộ phận th́ máy không chạy, kim không quay; nếu ráp các bộ phận ấy lại th́ máy đồng hồ chạy, kim đồng hồ quay. Như vậy, các pháp biến động là do duyên hợp mà có, chớ thực thể của nó vốn không động, nên nói tự tánh các pháp vốn tịch diệt. Cũng vậy, tự tâm của mỗi người, khi mắt thấy người thấy cảnh... rồi khởi niệm nghĩ về người về cảnh đó là động niệm, mà động niệm là tướng duyên hợp sinh diệt vô thường, đủ duyên th́ tạm có, thiếu duyên th́ tạm không, không có thực thể cố định. Như vậy, pháp do duyên mà thành có hay thành không, th́ pháp đó không thật. C̣n pháp không do duyên mà thành, đó là cái chân thật. Vậy, tất cả pháp ở thế gian này, nếu đứng về mặt bản thể mà nh́n, không có một pháp nào biến động vô thường cả. Sở dĩ thấy các pháp vô thường biến động là v́ chưa thấy tột cùng bản thể của nó, nên theo t́nh chấp mà thấy có động tịnh, có vô thường. Nếu thấy tột cùng bản thể của nó th́ thấy các pháp nguyên là bất động, lặng lẽ. Ngay nơi bản thân con người sự sống và sự chết là do cái ǵ ? Sống là do duyên, mà chết cũng do duyên. Vậy sống chết là chuyện của duyên; đă là chuyện của duyên th́ không phải là chuyện của ḿnh. Ngay nơi sống chết biết đó là tướng của duyên th́ chúng ta không c̣n bị sống chết chi phối nữa, sự sống chết đối với chúng ta rất thường, không quan trọng. Xưa có thiền sư đọc tới hai câu trên Ngài nghi: Tại sao các pháp từ xưa đến nay tướng thường vắng lặng ? Ngài ôm ấp thắc mắc măi trong ḷng. Một sáng mùa xuân nọ, Ngài ngồi trước cửa chùa, bỗng thấy chim hoàng oanh đậu trên cành liễu hót, Ngài hoát nhiên ngộ đạo, liền đọc tiếp hai câu: Xuân đáo bách hoa khai Hoàng oanh đề liễu thượng. Hợp lại thành bài thơ bốn câu: Chư pháp tùng bản lai, Thường tự tịch diệt tướng. Xuân đáo bách hoa khai, Hoàng oanh đề liễu thượng. Mùa xuân đến th́ trăm hoa nở, chim hoàng oanh đậu trên cành liễu cất tiếng hót. Tất cả pháp, thể vốn không động, khi duyên hợp th́ động, xuân sang th́ hoa nở, chim hót. Xuân sang, hoa nở, chim hót là duyên. Cái động đó là động của duyên. Ngài thấy rơ ngay trong các pháp thể tánh nó vốn lặng lẽ, mà tướng dụng của nó th́ biến động, như hoa nở, chim hót khi xuân đến. Ngộ đạo là thấy cùng tột bản thể của sự vật, cũng như nhận ra thể tánh của chính ḿnh, đồng thời cũng biết rơ tướng dụng sinh động của nó không lầm lẫn. Chúng ta v́ c̣n mê nên lầm chấp tướng dụng của các pháp cho là thật, đó là gốc của khổ đau. Người học đạo, nếu thấy tột chỗ cứu kính này th́ sẽ thành Phật không nghi, c̣n nếu chấp tướng động của thân của nghiệp th́ vẫn là chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử. Đoạn này cốt nói rơ mục tiêu của chư Phật, v́ thương xót chúng sanh mê lầm nên măi chịu khổ. Các Ngài dùng nhiều phương tiện giải bày cho hết khổ. Chỗ cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai thứ ba. 28. CHÁNH VĂN : *Vô số kiếp đă qua Vô lượng Phật diệt độ Trăm ngh́n muôn ức Phật Số nhiều không lường được Các Thế Tôn như thế Các món duyên thí dụ Vô số ức phương tiện Diễn nói các pháp tướng Các đức Thế Tôn đó Đều nói pháp Nhứt thừa Độ vô lượng chúng sanh Khiến vào nơi Phật đạo Lại các đại Thánh chúa Biết tất cả thế gian Trời, người loài quần sanh Thâm tâm chỗ ưa muốn Bèn dùng phương tiện khác Giúp bày nghĩa đệ nhứt. GIẢNG : Đoạn này lặp lại ư đoạn trước. Vô số đức Phật đời quá khứ dùng mọi phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến cho vào Phật đạo. 29. CHÁNH VĂN : *Nếu có loài chúng sanh Gặp các Phật quá khứ Hoặc nghe pháp bố thí Hoặc tŕ giới, nhẫn nhục Tinh tấn, thiền trí thảy Các món tu phước huệ Những người như thế đó Đều đă thành Phật đạo Sau các Phật diệt độ Nếu người ḷng lành dịu Các chúng sanh như thế Đều đă thành Phật đạo. GIẢNG : Nếu có những chúng sanh gặp chư Phật đời quá khứ, dược các Ngài dạy tu Lục độ, những chúng sanh đó hay tu dược Lục độ th́ họ đă thành Phật. Và sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh có ḷng lành dịu, th́ cũng đều đă thành Phật đạo. 30. CHÁNH VĂN : *Các Phật diệt độ rồi Người cúng dường xá-lợi Dựng muôn ức thứ tháp Vàng, bạc và pha lê Xa cừ cùng mă năo Ngọc mai khôi, lưu ly Thanh tịnh rộng nghiêm sức Trau giồi nơi các tháp Hoặc có dựng miếu đá Chiên-đàn và trầm thủy Gỗ mật cùng gỗ khác Gạch ngói bùn đất thảy Hoặc ở trong đồng trống Chứa đất thành miếu Phật Nhẫn đến đồng tử giỡn Nhóm cát thành tháp Phật Những hạng người như thế Đều đă thành Phật đạo. GIẢNG : Phật quá khứ đă diệt độ, nếu có ai xây tháp bằng vàng, bạc, pha lê... hoặc xây bằng gỗ, gạch, ngói, bùn, đất, cho đến trẻ con chơi làm tháp Phật để cúng dường, tất cả những người đó đều đă thành Phật đạo. 31. CHÁNH VĂN : *Nếu như người v́ Phật Xây dựng các h́nh tượng Chạm trổ thành các tướng Đều đă thành Phật đạo Hoặc dùng bảy báu làm Thau, đồng bạch, đồng đỏ Chất nhôm cùng ch́ kẽm Sắt, gỗ cùng với bùn Hoặc dùng keo, sơn, vải Nghiêm sức làm tượng Phật Những người như thế đó Đều đă thành Phật đạo Vẽ vời làm tượng Phật Trăm tướng phước trang nghiêm Tự làm hoặc bảo người Đều đă thành Phật đạo Nhẫn đến đồng tử giỡn Hoặc cỏ cây và bút Hoặc lấy móng tay ḿnh Mà vẽ làm tượng Phật Những hạng người như thế Lần lần chứa công đức Đầy đủ tâm đại bi Đều đă thành Phật đạo Chỉ dạy các Bồ-tát Độ thoát vô lượng chúng. GIẢNG : Nếu các chúng sanh v́ Phật mà tạo h́nh tượng Ngài bằng bảy báu, hoặc dùng các thứ kim loại, hoặc dùng gỗ, bùn, keo, sơn, vải tạc thành tượng Phật, cho đến trẻ con dùng ngón tay hay dùng cây cỏ vẽ thành tượng Phật; nhờ tích chứa công đức, đầy đủ tâm đại bi, nên họ đều đă thành Phật đạo. 32. CHÁNH VĂN : *Nếu người nơi tháp miếu Tượng báu và tượng vẽ Dùng hoa, hương, phan, lọng Ḷng kính mà cúng dường Hoặc khiến người trỗi nhạc Đánh trống, thổi sừng ốc Tiêu địch, cầm, không hầu Tỳ bà, chụp chả đồng Các tiếng hay như thế Đem dùng cúng dường hết Hoặc người ḷng vui mừng Ca ngâm khen đức Phật Nhẫn đến một tiếng nhỏ Đều đă thành Phật đạo. GIẢNG : Nếu người ở trước tượng Phật hay tháp miếu Phật mà cúng dường hoa, hương, phan, lọng, hoặc dùng các loại nhạc cụ trỗi nhạc để cúng dường, hay ca ngâm khen ngợi Phật đều đă thành Phật đạo. 33. CHÁNH VĂN : *Nếu người ḷng tán loạn Nhẫn đến dùng một bông Cúng dường nơi tượng vẽ Lần thấy các đức Phật Hoặc có người lễ lạy Hoặc lại chỉ chấp tay Nhẫn đến giơ một tay Hoặc lại hơi cúi đầu Dùng đây cúng dường tượng Lần thấy vô lượng Phật Tự thành đạo Vô thượng Rộng độ chúng vô số Vào Vô dư Niết-bàn Như củi hết lửa tắt. Nếu người ḷng tán loạn Vào nơi trong tháp miếu Một xưng Nam-mô Phật Đều đă thành Phật đạo Nơi các Phật quá khứ Tại thế, hoặc diệt độ Có người nghe pháp này Đều đă thành Phật đạo. GIẢNG : Nếu người ḷng tán loạn thấy tượng Phật họ lễ lạy, hoặc chỉ chấp tay, giơ tay, hoặc hơi cúi đầu để cúng dường Phật, th́ lần lần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo Vô thượng, độ tất cả chúng sanh vào vô dư Niết-bàn. Hoặc những người ḷng tán loạn vào tháp miếu thờ Phật, niệm Nam-mô Phật đều đă thành Phật đạo. Đối với chư Phật thời quá khứ, những chúng sanh nào tạo được những phước duyên như vừa nêu th́ đều đă thành Phật đạo. Câu đều đă thành Phật đạo cốt nhấn mạnh ư nghĩa: Tất cả chúng sanh ai cũng có sẵn Tri kiến Phật, nhưng v́ mê lầm quên đi nên trầm luân trong lục đạo luân hồi. Bây giờ đủ duyên thức tỉnh, biết quay về th́ sớm muộn ǵ cũng sẽ thành Phật. V́ đă có sẵn hạt giống, biết đem ra ươm trồng, thế nào rồi cũng thành quả. Đó là nói đối với người ở thời Phật quá khứ, dù chưa có ḷng tin nhưng khi phát ḷng tin hướng về Phật th́ họ đều đă thành Phật đạo. 34. CHÁNH VĂN : *Các Thế Tôn vị lai Số nhiều không thể lường Các đức Như Lai đó Cũøng phương tiện nói pháp Tất cả các Như Lai Dùng vô lượng phương tiện Độ thoát các chúng sanh Vào trí vô lậu Phật Nếu có người nghe pháp Không ai chẳng thành Phật Các Phật vốn thệ nguyện Ta tu hành Phật đạo Khắp muốn cho chúng sanh Cũng đồng được đạo này Các Phật đời vị lai Dầu nói trăm ngh́n ức Vô số các pháp môn Kỳ thiệt v́ Nhứt thừa Các Phật Lưỡng Túc Tôn Biết pháp thường không tánh Giống Phật theo duyên sanh Cho nên nói Nhứt thừa. Pháp đó trụ ngôi pháp Tướng thế gian thường c̣n |