[Trang chu] [Kinh sach]

DIỆU PHÁP LIÊN HOA GIẢNG GIẢI

[muc luc][loi dau sach][kinh lieu phap lien hoa]

[p1][p2-d1][p2-d2][p3-d1][p3-d2][p4][p5][p6][p7-d1][p7-d2][p8][p9][p10][p11][p12]

[p13][p14][p15][p16][p17][p18][p19][p20][p21][p22][p23][p24][p25][p26][p27][p28][toat yeu toan bo kinh]


PHẨM 2: PHƯƠNG TIỆN

(tt)

22. CHÁNH VĂN :

Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

                        *Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni

                        Cưu ḷng tăng thượng mạn               

                        Cận sự nam ngă mạn

                        Cận sự nữ chẳng tin,

                        Hàng bốn chúng như thế

                        Số kia có năm ngh́n

                        Chẳng tự thấy lỗi ḿnh

                        Nơi giới có thiếu sót

                        Tiếc giữ tội quấy ḿnh

                        Trí nhỏ đó đă ra

                        Bọn cám tấm trong chúng

                        Oai đức Phật phải đi

                        Gă đó kém phước đức

                        Chẳng kham lănh pháp này

                        Chúng nay không cành lá

                        Chỉ có những hột chắc.

GIẢNG :

Đức Phật nói những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ trong tứ chúng, có khoảng năm ngàn người là những kẻ kém duyên phước, trí nhỏ hẹp, thuộc hàng tăng thượng mạn, họ không kham nhận pháp Phật nên bỏ đi. Sau khi họ bỏ đi, Phật mới nói: Bây giờ trong chúng không c̣n cám tấm, cành lá úa, chỉ c̣n hạt chắc thôi.

23. CHÁNH VĂN :

                        *Xá-lợi-phất khéo nghe !

                        Pháp của các Phật được

                        Vô lượng sức phương tiện

                        Mà v́ chúng sanh nói.

                        Tâm của chúng sanh nghĩ

                        Các món đạo ra làm

                        Bao nhiêu những tánh dục

                        Nghiệp lành dữ đời trước,

                        Phật biết hết thế rồi

                        Dùng các duyên thí dụ

                        Lời lẽ sức phương tiện

                        Khiến tất cả vui mừng,

                        Hoặc là nói Khế kinh,

                        Cô khởi cùng Bổn sự,

                        Bổn sanh, Vị tằng hữu,

                        Cũng nói những Nhân duyên,

                        Thí dụ và Trùng tụng

                        Luận nghị cọng chín kinh.

                        Căn độn ưa pháp nhỏ

                        Tham chấp nơi sanh tử

                        Nơi vô lượng đức Phật

                        Chẳng tu đạo sâu mầu

                        Bị các khổ năo loạn

                        V́  đó nói Niết-bàn,

                        Ta bày phương tiện đó

                        Khiến đều vào huệ Phật.

                        Chưa từng nói các ông

                        Sẽ được thành Phật đạo

                        Sở dĩ chưa từng nói

                        V́  giờ nói chưa đến,

                        Nay chính là đến giờ

                        Quyết định nói Đại thừa.

GIẢNG :

Phật nói cho tất cả hội chúng biết rằng pháp mà Phật được, có sức phương tiện vô cùng, biết tường tận nhân duyên quả báo của sáu loài chúng sanh. Ngài nói pháp dùng những phương tiện như:

- Khế kinh: Lời dạy của Phật hợp với căn cơ chúng sanh, bằng thể văn xuôi, c̣n gọi là Trường hàng.

- Trùng tụng: Một thể văn thuyết pháp của Phật lặp lại ư của đoạn văn Trường hàng bằng kệ tụng.

- Bổn sự: Những việc làm, những kiến văn ở đời trước của Phật do Phật thuật lại.

- Bổn sanh: Phật nhắc lại tiền kiếp của Ngài hay của đệ tử.

- Vị tằng hữu: Việc chưa từng có, khó hiểu, khó tin.         

- Nhân duyên: Phật giải về căn bổn của quả báo từ gốc tới ngọn.

- Thí dụ: Dùng một mẩu chuyện để so sánh cho dễ hiểu.

- Cô khởi: Thi văn tự ḿnh xướng lên lúc thuyết pháp.

- Luận nghị: Biện luận sâu rộng, khúc chiết, mạch lạc cho dễ hiểu.

Đó là những thể tài thuyết pháp mà Phật đă dùng hoặc đủ chín phần hoặc không đủ chín phần trong mỗi bộ kinh. Phật tùy thời tùy cơ mà nói, dẫn dụ chúng sanh đi từ thấp đến cao, cuối cùng đưa đến Phật thừa là chỗ cứu kính.

24. CHÁNH VĂN :

                        *Chín bộ pháp của ta

                        Thuận theo chúng sanh nói

                        Vào Đại thừa làm gốc

                        Nên mới nói kinh này

                        Có Phật tử tâm tịnh

                        Êm dịu cùng căn lợi

                        Nơi vô lượng các Phật

                        Mà tu đạo sâu mầu,

                        V́ hàng Phật tử này

                        Nói kinh Đại thừa đây

                        Ta ghi cho người đó

                        Đời sau thành Phật đạo

                        Bởi thâm tâm niệm Phật

                        Tu tŕ tịnh giới vậy

                        Hạng này nghe thành Phật

                        Rất mừng đầy khắp ḿnh,

                        Phật biết tâm của kia

                        Nên v́ nói Đại thừa,

                        Thanh văn hoặc Bồ-tát

                        Nghe ta nói pháp ra

                        Nhẫn đến một bài kệ

                        Đều thành Phật không nghi.

GIẢNG :

Sở dĩ Phật nói chín bộ pháp đó là v́ thuận theo căn cơ của chúng sanh mà nói, chớ bản hoài của Phật là chỉ cho chúng sanh một Phật thừa mà thôi. Nếu ai nghe Phật thừa này, đem ḷng tin và nói cho người khác nghe th́ được Phật thọ kư sau này sẽ thành Phật. V́ tâm họ nhớ nghĩ Phật rất sâu xa, không tự măn ở những cấp bậc thấp, quyết định họ sẽ thành Phật.

25. CHÁNH VĂN :

                        *Trong cơi Phật mười phương                    

                        Chỉ có một thừa pháp

                        Không hai cũng không ba

                        Trừ Phật phương tiện nói

                        Chỉ dùng danh từ giả

                        Dắt dẫn các chúng sanh

                        V́ nói trí tuệ Phật.

                        Các Phật ra nơi đời

                        Chỉ một việc này thiệt

                        Hai thứ chẳng phải chân.

                        Trọn chẳng đem Tiểu thừa

                        Mà tế độ chúng sanh

                        Phật tự trụ Đại thừa

                        Như pháp của ḿnh được

                        Định, huệ, lực, trang nghiêm

                        Dùng đây độ chúng sanh.

                        Tự chứng đạo Vô thượng

                        Pháp b́nh đẳng Đại thừa

                        Nếu dùng Tiểu thừa độ

                        Nhẫn đến nơi một người

                        Thời ta đọa san tham

                        Việc ấy tất không được

                        Nếu người tin về Phật

                        Như Lai chẳng dối gạt

                        Cũng không ḷng tham ganh

                        Dứt ác trong các pháp

                        Nên Phật ở mười phương

                        Mà riêng không chỗ sợ.

                        Ta dùng tướng trang nghiêm

                        Ánh sáng soi trong đời

                        Đấng vô lượng chúng trọng

                        V́ nói thiệt tướng ấn.

GIẢNG :

Đoạn này Phật lặp lại ư chính của chư Phật mười phương ra đời là chỉ nói một Phật thừa, chứ không có thừa thứ hai hay thứ ba. Tại sao ? V́ quả vị cùng tột mà Ngài chứng được là quả Phật, nếu để lại ít phần không chỉ dạy rốt ráo, đó là thiếu ḷng từ, tâm c̣n xan lẩn, sợ người hơn ḿnh. Phật là đấng Đại từ Đại bi, không xan lẩn, nên cái ǵ Ngài được, Ngài muốn cho tất cả mọi người đều được như Ngài. Nếu mọi người chưa được như Ngài th́ Ngài chưa măn nguyện, không bằng ḷng. V́ vậy mà cuối cùng Ngài nói: “Đấng vô lượng chúng trọng, v́ nói thiệt tướng ấn.” Thông thường trong nhà Phật có nêu ra Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn, hoặc Nhất thật pháp ấn, để làm dấu ấn xác minh coi pháp đó có phải Phật nói không. Tam pháp ấn là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngă, Niết-bàn tịch tịnh; Tứ pháp ấn là: vô thường, khổ, không, vô ngă; Nhất thật pháp ấn cũng là Thật tướng ấn. Ấn là dấu in để ấn chứng. Muốn biết kinh nào là thật của Phật nói hay không phải của Phật nói, th́ phải lấy Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn hay Nhất thật pháp ấn để làm chỗ ấn chứng. Nhất thật pháp ấn là chỉ cho mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, nếu tu th́ sẽ thành Phật. Kinh Pháp Hoa, Phật nói tột chỗ đó nên gọi là “Thật tướng ấn”.

26. CHÁNH VĂN :

                        *Xá-lợi-phất ! Nên biết !

                        Ta vốn lặp thệ nguyện

                        Muốn cho tất cả chúng

                        Bằng như ta không khác

                        Như ta xưa đă nguyện

                        Nay đă đầy đủ rồi

                        Độ tất cả chúng sanh

                        Đều khiến vào Phật đạo

                        Nếu ta gặp chúng sanh

                        Dùng Phật đạo dạy cả

                        Kẻ vô trí rối sai

                        Mê lầm không nhận lời

                        Ta rơ chúng sanh đó

                        Chưa từng tu cội lành

                        Chấp chặt nơi ngũ dục

                        V́ si ái sanh khổ

                        Bởi nhân duyên các dục

                        Sa vào ba đường dữ

                        Xoay lăn trong sáu nẻo

                        Chịu đủ những khổ độc

                        Thân mọn thọ bào thai

                        Đời đời tăng trưởng luôn

                        Người đức mỏng ít phước

                        Các sự khổ bức ngặt

                        Vào rừng rậm tà kiến

                        Hoặc chấp có, chấp không

                        Nương gá các chấp này

                        Đầy đủ sáu mươi hai

                        Chấp nhận pháp hư vọng

                        Bền chặt không bỏ được

                        Ngă mạn tự khoe cao

                        Dua nịnh ḷng không thiệt

                        Trong ngh́n muôn ức kiếp

                        Chẳng nghe danh tự Phật

                        Cũng chẳng nghe chánh pháp

                        Người như thế khó độ.

GIẢNG :

Lời thệ nguyện của đức Phật Thích-ca cũng như chư Phật mười phương là muốn làm sao cho tất cả chúng sanh đều được bằng Phật. Nhưng v́ tâm trí chúng sanh mê mờ rối loạn, tà kiến, tham ưa ngũ dục, không bao giờ tu pháp lành, nên trôi lăn trong ba đường dữ chịu mọi khổ đau, do đó không bao giờ nghe được danh hiệu Phật. Những chúng sanh này rất là khó độ.

27. CHÁNH VĂN :

                        *Cho nên Xá-lợi-phất !

                        Ta v́ bày phương tiện

                        Nói các đạo dứt khổ

                        Chỉ cho đó Niết-bàn

                        Ta dầu nói Niết-bàn

                        Cũng chẳng phải thiệt diệt

                        Các pháp từ bổn lai

                        Tướng thường tự vắng lặng

                        Phật tử hành đạo rồi

                        Đời sau được thành Phật

                        Ta có sức phương tiện

                        Mở bày pháp ba thừa

                        Tất cả các Thế Tôn

                        Đều nói đạo Nhứt thừa

                        Nay trong đại chúng này

                        Đều nên trừ nghi lầm

                        Lời Phật nói không khác

                        Chỉ một, không hai thừa.

GIẢNG :

V́ hàng chúng sanh khó độ nên Phật mới bày phương tiện dứt các khổ cho họ được Niết-bàn. Niết-bàn đó là Niết-bàn của Nhị thừa. Tuy nói Niết-bàn, nhưng chẳng phải thật diệt. V́:

                        Các pháp từ bổn lai

                        Tướng thường tự vắng lặng.

Từ trước chúng ta thường nghe Phật dạy các pháp ở thế gian này là biến động vô thường, tại sao ở kinh này Phật lại nói “các pháp từ xưa đến nay tướng thường tự vắng lặng” ? Chữ “tướng” ở đây  phải hiểu là “thật tướng”, tức là thể tánh của các pháp. Chúng ta quán sát thấy các pháp trên thế gian này tướng nó là biến động, có đó rồi mất đó. Ví dụ như cái đồng hồ, thông thường máy chạy, kim quay, chúng ta căn cứ trên kim đồng hồ, định ngày giờ mà làm việc. Nếu máy không chạy kim không quay, th́ đồng hồ không xài được. Như vậy, tất cả pháp thế gian được hữu dụng là do linh động có sự sống, nếu nó bất động coi như là chết vô dụng. Đó là cái thấy thông thường của thế gian. Nhưng nếu nh́n sâu hơn, chúng ta mở chốt đồng hồ ra, để riêng từ bộ phận th́ máy không chạy, kim không quay; nếu ráp các bộ phận ấy lại th́ máy đồng hồ chạy, kim đồng hồ quay. Như vậy, các pháp biến động là do duyên hợp mà có, chớ thực thể của nó vốn không động, nên nói tự tánh các pháp vốn tịch diệt.

Cũng vậy, tự tâm của mỗi người, khi mắt thấy người thấy cảnh... rồi khởi niệm nghĩ về người về cảnh đó là động niệm, mà động niệm là tướng duyên hợp sinh diệt vô thường, đủ duyên th́ tạm có, thiếu duyên th́ tạm không, không có thực thể cố định. Như vậy, pháp do duyên mà thành có hay thành không, th́ pháp đó không thật. C̣n pháp không do duyên mà thành, đó là cái chân thật.

Vậy, tất cả pháp ở thế gian này, nếu đứng về mặt bản thể mà nh́n, không có một pháp nào biến động vô thường cả. Sở dĩ thấy các pháp vô thường biến động là v́ chưa thấy tột cùng bản thể của nó, nên theo t́nh chấp mà thấy có động tịnh, có vô thường. Nếu thấy tột cùng bản thể của nó th́ thấy các pháp nguyên là bất động, lặng lẽ. Ngay nơi bản thân con người sự sống và sự chết là do cái ǵ ? Sống là do duyên, mà chết cũng do duyên. Vậy sống chết là chuyện của duyên; đă là chuyện của duyên th́ không phải là chuyện của ḿnh. Ngay nơi sống chết biết đó là tướng của duyên th́ chúng ta không c̣n bị sống chết chi phối nữa, sự sống chết đối với chúng ta rất thường, không quan trọng.

Xưa có thiền sư đọc tới hai câu trên Ngài nghi: Tại sao các pháp từ xưa đến nay tướng thường vắng lặng ? Ngài ôm ấp thắc mắc măi trong ḷng. Một sáng mùa xuân nọ, Ngài ngồi trước cửa chùa, bỗng thấy chim hoàng oanh đậu trên cành liễu hót, Ngài hoát nhiên ngộ đạo, liền đọc tiếp hai câu:

                        Xuân đáo bách hoa khai

                        Hoàng oanh đề liễu thượng.

                        Hợp lại thành bài thơ bốn câu:

                        Chư pháp tùng bản lai,

                        Thường tự tịch diệt tướng.

                        Xuân đáo bách hoa khai,

                        Hoàng oanh đề liễu thượng.

Mùa xuân đến th́ trăm hoa nở, chim hoàng oanh đậu trên cành liễu cất tiếng hót. Tất cả pháp, thể vốn không động, khi duyên hợp th́ động, xuân sang th́ hoa nở, chim hót. Xuân sang, hoa nở, chim hót là duyên. Cái động đó là động của duyên. Ngài thấy rơ ngay trong các pháp thể tánh nó vốn lặng lẽ, mà tướng dụng của nó th́ biến động, như hoa nở, chim hót khi xuân đến. Ngộ đạo là thấy cùng tột bản thể của sự vật, cũng như nhận ra thể tánh của chính ḿnh, đồng thời cũng biết rơ tướng dụng sinh động của nó không lầm lẫn. Chúng ta v́ c̣n mê nên lầm chấp tướng dụng của các pháp cho là thật, đó là gốc của khổ đau. Người học đạo, nếu thấy tột chỗ cứu kính này th́ sẽ thành Phật không nghi, c̣n nếu chấp tướng động của thân của nghiệp th́ vẫn là chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử.

Đoạn này cốt nói rơ mục tiêu của chư Phật, v́ thương xót chúng sanh mê lầm nên măi chịu khổ. Các Ngài dùng nhiều phương tiện giải bày cho hết khổ. Chỗ cứu kính mà Phật muốn chỉ là Phật thừa, chớ không có thừa thứ hai thứ ba.

28. CHÁNH VĂN :

                        *Vô số kiếp đă qua

                        Vô lượng Phật diệt độ

                        Trăm ngh́n muôn ức Phật

                        Số nhiều không lường được

                        Các Thế Tôn như thế

                        Các món duyên thí dụ

                        Vô số ức phương tiện

                        Diễn nói các pháp tướng

                        Các đức Thế Tôn đó

                        Đều nói pháp Nhứt thừa

                        Độ vô lượng chúng sanh

                        Khiến vào nơi Phật đạo

                        Lại các đại Thánh chúa

                        Biết tất cả thế gian

                        Trời, người loài quần sanh

                        Thâm tâm chỗ ưa muốn

                        Bèn dùng phương tiện khác

                        Giúp bày nghĩa đệ nhứt.

GIẢNG :

Đoạn này lặp lại ư đoạn trước. Vô số đức Phật đời quá khứ dùng mọi phương tiện giáo hóa chúng sanh khiến cho vào Phật đạo.

29. CHÁNH VĂN :

                        *Nếu có loài chúng sanh

                       Gặp các Phật quá khứ

                        Hoặc nghe pháp bố thí

                        Hoặc tŕ giới, nhẫn nhục

                        Tinh tấn, thiền trí thảy

                        Các món tu phước huệ

                        Những người như thế đó

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Sau các Phật diệt độ

                        Nếu người ḷng lành dịu

                        Các chúng sanh như thế

                        Đều đă thành Phật đạo.

GIẢNG :

Nếu có những chúng sanh gặp chư Phật đời quá khứ, dược các Ngài dạy tu Lục độ, những chúng sanh đó hay tu dược Lục độ th́ họ đă thành Phật. Và sau khi Phật diệt độ, những chúng sanh có ḷng lành dịu, th́ cũng đều đă thành Phật đạo.

30. CHÁNH VĂN :

                        *Các Phật diệt độ rồi

                        Người cúng dường xá-lợi

                        Dựng muôn ức thứ tháp

                        Vàng, bạc và pha lê

                        Xa cừ cùng mă năo

                        Ngọc mai khôi, lưu ly

                        Thanh tịnh rộng nghiêm sức

                        Trau giồi nơi các tháp

                        Hoặc có dựng miếu đá

                        Chiên-đàn và trầm thủy

                        Gỗ mật cùng gỗ khác

                        Gạch ngói bùn đất thảy

                        Hoặc ở trong đồng trống

                        Chứa đất thành miếu Phật

                        Nhẫn đến đồng tử giỡn

                        Nhóm cát thành tháp Phật

                        Những hạng người như thế

                        Đều đă thành Phật đạo.

GIẢNG :

Phật quá khứ đă diệt độ, nếu có ai xây tháp bằng vàng, bạc, pha lê... hoặc xây bằng gỗ, gạch, ngói, bùn, đất, cho đến trẻ con chơi làm tháp Phật để cúng dường, tất cả những người đó đều đă thành Phật đạo.

31. CHÁNH VĂN :

                        *Nếu như người v́ Phật

                        Xây dựng các h́nh tượng

                        Chạm trổ thành các tướng

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Hoặc dùng bảy báu làm

                        Thau, đồng bạch, đồng đỏ

                        Chất nhôm cùng ch́ kẽm

                        Sắt, gỗ cùng với bùn

                        Hoặc dùng keo, sơn, vải

                        Nghiêm sức làm tượng Phật

                        Những người như thế đó

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Vẽ vời làm tượng Phật

                        Trăm tướng phước trang nghiêm

                        Tự làm hoặc bảo người

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Nhẫn đến đồng tử giỡn

                        Hoặc cỏ cây và bút

                        Hoặc lấy móng tay ḿnh

                        Mà vẽ làm tượng Phật

                        Những hạng người như thế

                        Lần lần chứa công đức

                        Đầy đủ tâm đại bi

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Chỉ dạy các Bồ-tát

                        Độ thoát vô lượng chúng.

GIẢNG :

Nếu các chúng sanh v́ Phật mà tạo h́nh tượng Ngài bằng bảy báu, hoặc dùng các thứ kim loại, hoặc dùng gỗ, bùn, keo, sơn, vải tạc thành tượng Phật, cho đến trẻ con dùng ngón tay hay dùng cây cỏ vẽ thành tượng Phật; nhờ tích chứa công đức, đầy đủ tâm đại bi, nên họ đều đă thành Phật đạo.

32. CHÁNH VĂN :

                        *Nếu người nơi tháp miếu

                        Tượng báu và tượng vẽ

                        Dùng hoa, hương, phan, lọng

                        Ḷng kính mà cúng dường

                        Hoặc khiến người trỗi nhạc

                        Đánh trống, thổi sừng ốc

                        Tiêu địch, cầm, không hầu

                        Tỳ bà, chụp chả đồng

                        Các tiếng hay như thế

                        Đem dùng cúng dường hết

                        Hoặc người ḷng vui mừng

                        Ca ngâm khen đức Phật

                        Nhẫn đến một tiếng nhỏ

                        Đều đă thành Phật đạo.

GIẢNG :

Nếu người ở trước tượng Phật hay tháp miếu Phật mà cúng dường hoa, hương, phan, lọng, hoặc dùng các loại nhạc cụ trỗi nhạc để cúng dường, hay ca ngâm khen ngợi Phật đều đă thành Phật đạo.

33. CHÁNH VĂN :

                        *Nếu người ḷng tán loạn

                        Nhẫn đến dùng một bông

                        Cúng dường nơi tượng vẽ

                        Lần thấy các đức Phật

                        Hoặc có người lễ lạy

                        Hoặc lại chỉ chấp tay

                        Nhẫn đến giơ một tay

                        Hoặc lại hơi cúi đầu

                        Dùng đây cúng dường tượng

                        Lần thấy vô lượng Phật

                        Tự thành đạo Vô thượng

                        Rộng độ chúng vô số

                        Vào Vô dư Niết-bàn

                        Như củi hết lửa tắt.

                        Nếu người ḷng tán loạn

                        Vào nơi trong tháp miếu

                        Một xưng Nam-mô Phật

                        Đều đă thành Phật đạo

                        Nơi các Phật quá khứ

                        Tại thế, hoặc diệt độ

                        Có người nghe pháp này

                        Đều đă thành Phật đạo.

GIẢNG :

Nếu người ḷng tán loạn thấy tượng Phật họ lễ lạy, hoặc chỉ chấp tay, giơ tay, hoặc hơi cúi đầu để cúng dường Phật, th́ lần lần thấy vô lượng Phật, tự thành đạo Vô thượng, độ tất cả chúng sanh vào vô dư Niết-bàn. Hoặc những người ḷng tán loạn vào tháp miếu thờ Phật, niệm Nam-mô Phật đều đă thành Phật đạo.

Đối với chư Phật thời quá khứ, những chúng sanh nào tạo được những phước duyên như vừa nêu th́ đều đă thành Phật đạo. Câu đều đă thành Phật đạo cốt nhấn mạnh ư nghĩa: Tất cả chúng sanh ai cũng có sẵn Tri kiến Phật, nhưng v́ mê lầm quên đi nên trầm luân trong lục đạo luân hồi. Bây giờ đủ duyên thức tỉnh, biết quay về th́ sớm muộn ǵ cũng sẽ thành Phật. V́ đă có sẵn hạt giống, biết đem ra ươm trồng, thế nào rồi cũng thành quả. Đó là nói đối với người ở thời Phật quá khứ, dù chưa có ḷng tin nhưng khi phát ḷng tin hướng về Phật th́ họ đều đă thành Phật đạo.

34. CHÁNH VĂN :

                        *Các Thế Tôn vị lai

                        Số nhiều không thể lường

                        Các đức Như Lai đó

                        Cũøng phương tiện nói pháp

                        Tất cả các Như Lai

                        Dùng vô lượng phương tiện

                        Độ thoát các chúng sanh

                        Vào trí vô lậu Phật

                        Nếu có người nghe pháp

                        Không ai chẳng thành Phật

                        Các Phật vốn thệ nguyện

                        Ta tu hành Phật đạo

                        Khắp muốn cho chúng sanh

                        Cũng đồng được đạo này

                        Các Phật đời vị lai

                        Dầu nói trăm ngh́n ức

                        Vô số các pháp môn

                        Kỳ thiệt v́ Nhứt thừa

                        Các Phật Lưỡng Túc Tôn

                        Biết pháp thường không tánh

                        Giống Phật theo duyên sanh

                        Cho nên nói Nhứt thừa.

                        Pháp đó trụ ngôi pháp

                        Tướng thế gian thường c̣n